UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN THỊ KIM THOA
1582203130016
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
VAI TRÒ CỦA CÁC GIÁO SĨ THỪA SAI PARIS TRONG KẾ HOẠCH
XÂM LƯỢC VÀ BÌNH ĐỊNH VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP TỪ
THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX
Chuyên đề:
TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã ngành: 60220313
Lớp: CH15LS01
PGS.TS ĐỖ QUANG HƯNG
BÌNH DƯƠNG, THÁNG 7 NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
2
Thiên chúa còn là một thế lực chính trị mạnh nhất, bao trùm lên cả chính quền
phong kiến ở Châu Âu trong suốt 10 thế kỷ của thời trung cổ.
Từ cuối thế kỷ XV trở đi, đặc biệt là từ sau khi xảy ra sự kiện phát kiến địa lý
– tìm ra châu Mỹ, ở các nước phương Tây đã xuất hiện sự bùng nổ về truyền giáo,
Giáo hội La Mã và các quốc gia sớm phát triển ở Châu Âu đều cho thành lập
những giáo đoàn và liên tiếp cử các giáo sĩ Thừa sai đi sang các miền đất mới –
chủ yếu là Trung và Nam Mỹ, hay vùng đất Viễn Đông để truyền đạo.
Sự bùng nổ và truyền giáo đó, trước hết, thể hiện ý đồ của Giáo hội La Mã
muốn gây thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở những vùng đất mới như là
một đối trọng đối với sự lấn lướt của thế lực tư bản Châu Âu.
Song nguyên nhân quan trọng nhất của hiện tượng này lại chính là nhu cầu
thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu châu. Muốn thâm nhập vào những vùng đất
mới, chinh phụ thổ dân, phát hiện những tài nguyên phong phú,…giai cấp tư sản
thấy cần phải có một đội ngũ những người có tri thức về khoa học tự nhiên cũng
như về khoa học xã hội, lại ít gây ra sự hoài nghi và phản ứng của những người
bản xứ. Vào thời điểm ấy, những con người như thế chỉ có thể tìm thấy ở các giáo
sĩ được đào tạo có bài bản trong các nhà Dòng của Giáo hội. Thế là các nước
Châu Âu sớm phát triển như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, …đua nhau thành
lập các giáo đoàn, tập hợp và đào tạo các thầy tu thành các giáo sĩ Thừa sai để
đáp ứng cho yêu cầu nói trên. Kinh phí, mục đích, yêu cầu đào tạo cũng như
nhiệm vụ cụ thể của các giáo đoàn đều do nhà nước hoặc các tổ chức tư nhân, chủ
4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
giai cấp tư sản Pháp chi phối. Các giáo sĩ Thừa sai không còn là những người
truyền giáo thuần túy nữa, họ đã trở thành những người tuy mang danh nghĩa tôn
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
giáo, song thực chất lại là những phái viên của một quốc gia với nhiệm vụ phục
vụ cho lợi ích của quốc gia đó, cụ thể trong bản điều trần của Hội thừa sai Paris
gửi Chính phủ Pháp năm 1790 đã ghi: “Hội thừa sai Paris là tổ chức duy nhất của
Hội các thầy tu thế tục gồm toàn người Pháp (…), có sứ mạng đem ánh sáng của
Đức tin và phát huy ảnh hưởng của nước Pháp đến các nước phương Đông”, giáo
sĩ của Hội “không quyên lợi ích của nước mình…Họ đã và sẽ mãi mãi có nhiệu
vụ thông báo cho Nhà nước mọi phát kiến và tin tức cần thiết mà họ đạt được
bằng con đường khoa học, văn học, hoặc bằng con đường thương mại. Họ tạo
điều kiện cho việc buôn bán mà nước Pháp đã tiến hành ở các nước phương Đông
và chính họ đã đứng ra tổ chức Công ty Đông Ấn đầu tiền…” [Nguyễn Văn Kiệm
(2003); tr. 84].
Hội thừa sai Paris ra đời trong lúc nền kinh tế Pháp đang trên đà chuyển hóa
mạnh sang chủ nghĩa tư bản và cùng với sự chuyển hóa đó, chủ nghĩa thực dân tư
bản và cùng với sự chuyển hóa đó, chủ nghĩa thực dân Pháp đã bắt đầu hoạt động.
Sự ra đời của Hội trong hoàn cảnh ấy sẽ là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc
đẩy mạnh giai đoạn chuyển hóa mạnh sang tư bản chủ nghĩa của kinh tế Pháp.
Chính quyền và thương nhân Pháp tích cực hoạt động cho sự ra đời của Hội thừa
sai Paris cũng là lẽ đương nhiên, đáp ứng được kịp thời yêu cầu của lịch sử nước
giáo, cụ thể là Công giáo đã đi sai hướng, sai nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của
nó. Các giáo sĩ của Hội thừa sai Paris đã câu kết chặt chẽ, thậm chí đóng vai trò
là kẻ chủ mưu, là đầu tàu dẫn đường cho Nhà nước Pháp tiến hành cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam, mối quan hệ đó là mối quan hệ “cá” với “ nước”: Mọi
hoạt động của “cá” làm cho môi trường “nước” trở nên linh hoạt, sinh động
hơn, ngược lại nước chính là môi trường duy nhất để cá phát huy hiệu quả của
mọi hoạt động.
Trước hết, ai cũng thấy sự phát triển song song, trong lịch sử thuộc địa ở Châu
Âu, giữa hành động thuộc địa và hành động truyền giáo. Ở bất cứ đâu trong thế
giới Á Phi, sự truyền giáo đều được phát triển nhờ xâm chiếm thuộc địa, chiếm
đóng quân sự, cắt nhượng lãnh thổ, trấn áp chính trị. “…Giáo hội Thiên Chúa
công nhận rành mạch chính nguyên tắc của việc xâm chiếm thuộc địa. Xâm
chiếm thuộc địa là một “công trình giáo dục về kinh tế, xã hội, chính trị” , là
“thực hiện chức năng đem lại văn minh do luật thiên nhiên ban cho các quốc gia
tự do và có ý thức trách nhiệm”. Hồng y Verdirer nói rõ: xâm chiếm thuộc địa
“nằm trong chương trình của Thượng Đế, như một hành động bác ái tập thể mà
trong một thời điểm nào đó, một dân tộc thượng đẳng phải làm đối với các giống
dân xấu số như một bổn phận phát sinh từ chính văn hóa thượng đẳng của dân tộc
đó”. Nói một cách khác, các nhà đạo đức Thiên Chúa giáo tìm cách biện minh
cho một quyền thuộc địa ngay trong cả thời gian mà việc xâm chiếm thuộc địa bị
chỉ trích toàn bộ” [Cao Huy Thuần (2003); tr. 9].
Từ đó, dựa vào nhau là đặc điểm thứ hai: nếu sự truyền giáo dựa vào đô hộ
của Âu Châu thì, ngược lại, sự đô hộ này, để được vững chắc, cũng phải tìm hậu
thuẫn về lý thuyết cũng như về thực hành nơi các thừa sai và nơi chính tôn giáo
mới.
7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
gì, vàng, nâu hoặc đen, cải thành đạo Chúa thì dù cho người đó đã nghĩ sai như
thế nào, đã có thành kiến gì, đã sợ hãi gì, đã ghét bỏ gì, chắc chắn trong đầu
người đó không còn một trở ngại gì nữa để gần gũi, hợp tác, hòa lẫn với những
người theo đạo Chúa trong những chủng tộc khác, nhất là với người da trắng và
sẽ hiểu sai họ tận đáy lòng, nếu đừng có chuyện gì xảy ra khiến người đó chướng
mắt, thất vọng. Làm gần gũi trí óc và tình cảm là kết quả của việc cải giáo, và cải
giáo là tận cùng của công sức thừa sai. Công việc của dân tộc có thuộc địa, đứng
8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
về mặt chính đáng mà xét, sẽ được vô cùng dễ dãi. Công việc đó dễ dãi, dù cho số
dân đã được cải đạo hãy còn rất ít, bởi vì số lượng ít ỏi không phải là cản trở
không thể vượt qua đối với vai trò làm gạch nối….trong cuốn “Về việc khai thác
thuộc địa đối với những dân tộc tiên tiến” , được xem như tứ thư ngũ kinh của
thuộc địa gia: “Nếu nước Pháp phạm một sai lầm khi khai chiến với Hồi giáo thì
nước Pháp cũng sẽ không biết phòng xa gì hơn nếu không tìm cách cải đạo cho
các dân tộc trong tất cả các nước đang chiếm đóng” [Cao Huy Thuần (2003); tr.
13].
Thứ ba, vẫn trên thực tiễn, đạo Chúa là phương tiện hiệu quả nhất để đồng
hóa những dân tộc bị trị. Đồng hóa là chính sách cổ truyền của Pháp, nói chung là
chính sách cổ truyền, thân thuộc, của các nước Latinh. Toàn quyền Pasquier giải
thích: Quả thật người Pháp dễ dàng trong việc tiếp xúc với người bản xứ, đến với
người đó, vui vẻ với người đó. Sự dễ dàng đó có gốc rẽ từ sức mạnh đồng hóa,
hoặc bẩm sinh, hoặc do lý giải, khiến người Pháp tự mình đến gần người bản xứ,
chống Pháp.
Như vậy, chính phủ thuộc địa bị định hướng ngay từ đầu, rồi bị giữ mãi như
vậy một cách có ý thức hoặc không – bởi ảnh hưởng của Gia Tô giáo trên con
đường trước tiên là đồng hóa, rồi sau đó là thống trị.
3.
Các hoạt động của các giáo sĩ Thừa sai –đòn bẩy thúc đẩy cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam
Vào những năm trước khi Pegneau de Béhaine đến Việt Nam, các giáo sĩ Hội
thừa sai Paris đã đống góp tích cực vào việc môi giới cho thương nhân Pháp và
cung cấp cho âm mưu thực dân của Pháp nhiều thông tin quan trọng. Đó là những
việc làm của Đại diện Tông tòa Lambert, Pallu và các giáo sĩ Thứa sai Bourges,
Deydier…
De Lamotte Lambert, sau khi nhận chức Đại diện Tông tòa, do sự phong toản
của người Bồ nên không có phương tiện sang phương Đông, đã phải đi bộ và đến
Thái Lan năm 1661; và năm 1669 đến Việt Nam trên một chiếc tàu buôn của Pháp
cùng với giáo sĩ Bourges. Lambert cùng với thương nhân Pháp đã đưa tặng vật
phẩm cho vua Lê ở Đàng Ngoài và được nhà vua cho phép họ được mua đất để
mở cửa hàng. Sau đó, Lambert vào Đàng Trong hoạt động một thời gian rồi về
Thái Lan. Từ đây, Lambert vẫn thường xuyên gửi thư và tặng phẩm cho chúa
Nguyễn. Năm 1679, Lambert chết ở Thái Lan, để lại cuốn sách Monito ad
misionnarios và nhiều tập hồi ký chứa đựng rất nhiều tài liệu quý giá cho thương
nhân và thực dân Pháp về tình hình Việt Nam.
Pallu đến Thái Lan năm 1664. Năm 1674, ông định đi kinh lý các giáo phận ở
Đàng Ngoài song không thành vì bị bão lớn phải dạt sang Philippines. Năm 1681,
sau khi được cử giữ chức Giám mục tổng toàn Trung Quốc, Pallu đã cử hai giáo
sĩ Gefrard và Lefebre đem tặng vật và thư của vua Louis XIV đến vua Lê ở Đàng
Ngoài xin cho Công ty Ấn Độ của Pháp được phép lập thương điếm ở Bắc Kỳ và
10
việc cải giáo. Việc này không thành, vì Tòa Thánh La Mã phản đối kịch liệt.
Từ năm 1843 đến năm 1857, theo yêu cầu của các giáo sĩ, các tàu chiến Pháp
đã 6 lần đến Cảng Đà Nẵng yêu sách nhà Nguyễn: đòi thả các giáo sĩ, đòi được
quyền tự do truyền đạo và tự do buôn bán với một thái độ hết sức ngạo mạn và
khiêu khích trắng trợn, gây nên sự căng thẳng cao độ giữa hai Nhà nước Pháp và
Việt Nam.
Trong quá trình xâm lược và bình định Việt Nam, ở đâu thực dân Pháp cũng
nhận được sự giúp đỡ tận tình của các giáo sĩ của Hội thừa sai Paris.
11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
Khi quân Pháp kéo đến Gia Định, Giám mục Lefebre đã từ làng Tam Hội lén
ra gặp Rigault de Genouilly để thông báo tường tận với hắn về sự bố phòng, quân
số, vũ khí và mọi tình hình của thành Gia Định và hướng dẫn Pháp đánh thành.
Ông huy động giáo dân tiếp tế cho quân Pháp, vận động giáo dân đi lính. Ví dụ
“Lefebre cùng với các giáo sĩ ở Nam Kỳ cũng tích cực giúp đỡ Pháp đào tạo lớp
thông dịch viên đầu tiên để phục vụ cho chính quyền Pháp mới được thành lập.
Có giáo sĩ Pháp còn trực tiếp tham gia bộ máy chính quyền như Le Grand de la
Lyraye đã làm Thanh tra dân vụ trong bộ máy chính quyền phôi thai của Pháp ở
Nam Kỳ [Nguyễn Văn Kiệm (2003); tr. 95,96].
Trong quá trình truyền đạo, các giáo sĩ Hội thừa sai cùng với các linh mục bản
xứ, các nữ tu, ngay cả trong thời kỳ cấm đạo khó khăn, vẫn không quên làm việc
thiện, một công việc vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có ý nghĩa xã hội, đồng thời
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
lưu truyền câu “đi đạo lấy gạo mà ăn”. Rõ ràng dân chúng theo đạo chỉ để có cái
ăn, cái để sinh tồn, chứ họ vẫn chưa ý thức được nguồn gốc sâu xa của vấn đề. Đó
chính là lý do mà các giáo sĩ thừa sai hướng mục tiêu truyền đạo vào quần chúng
nhân dân.
4.
Thay cho lời kết: Nhận xét về vai trò của các giáo sĩ thừa trong kế
hoạch xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
Qua những phần trình bày trên ta có thể kết luận: các giáo sĩ của Hội thừa sai
Paris chính là những người đưa ra chủ đích xâm lược Việt Nam, các giáo sĩ này
đã vẽ sẵn đường ray xe lửa tại Việt Nam, Nhà nước Pháp chỉ việc mang tàu hỏa
sang chạy trên đường ray đấy, đón khách và thu tiền.
Trong quá trình truyền giáo, các giáo sĩ có điều kiện để dễ dàng len lỏi vào
khắp nơi trên đất nước ta tìm hiểu địa lý, tài nguyên, phong tục và khả năng kinh
tế của “xứ An Nam” để giới thiệu với Nhà nước Pháp và thuyết phục họ xâm
lược Việt Nam, điều này được thể hiện rõ qua lời thỉnh cầu của Linh mục Huc,
Giám mục Pellerin và Linh mục Legrand de Liraye, cụ thể:
1.
Linh mục Húc
Trong văn thư gửi lên Hoàng Đế năm 1857, linh mục Huc trình bày các mối
lợi mà việc chiếm Việt Nam có thể mang lại cho Pháp.
Năm 1857, Giám mục Pellerin viết thư gửi Napoléon và thỉnh cầu: “Xin
Hoàng thượng cho phép hạ thần nhắc lại một lần nữa về những người mới cải đạo
khốn khổ ở xứ Cochinchine và các thừa sai Pháp ở nước An Nam; hiện giờ máu
họ đang đổ và tình cảnh họ còn kinh khủng hơn từ khi có cuộc vận động sau chót
của nước Pháp. Nếu bây giờ chẳng ai làm gì cả cho chúng tôi, e rằng Gia Tô giáo
sẽ bị tiêu diệt tại các vùng đất có vẻ rất sẵn sàng đón nhận ân đức của tôn giáo
này và của văn minh,….Chúng tôi kính xin Hoàng thượng đừng bỏ rơi chúng tôi.
Điều mà Hoàng thượng ban cho chúng tôi sẽ khiến cho ân phúc của Thiên Chúa
ban xuống cho Hoàng thượng và triều đại huy hoàng của Hoàng thượng…” [Cao
Huy Thuần (2014); tr. 41].
3.
Linh mục Legrand de Liraye
-
Về chính trị và chiến lược
Theo linh mục Legrand, “Xứ An Nam” có vị trí chiến lược vô cùng quan
trọng: “Trong hiện tình, khi Anh chiếm trọn Ấn Độ đến tận Singapour và chuẩn bị
xiết chặt hơn nữa Trung Quốc, cần cắt đứt sự giao thông giữa các thuộc địa của
họ, rồi cùng với Tây Ban Nha ở Phi Luật Tân, Hà Lan ở Java và Sumatra dựng
lên một chứng ngại nào đó, một điểm trọng tài cho người thu trận nếu muốn nói
thế, một điểm giám sát đối với kẻ thắng trận quá tham lam, một điểm nương thân
và trú ẩn cho tàu bè của chúng ta hình như đang lang thang phiêu bạt khắp vùng
Viễn Đông này, và cuối cùng là một điểm tiếp tế và thương mại cho những người
trung gian buôn bán gia vị của chúng ta vốn chỉ được các lá cờ nước ngoài bảo
đảm và che chở nơi vùng đất quá xa Tổ quốc này”. [Cao Huy Thuần (2014); tr.
42].
-
thắng tất cả các cửa sông và các vùng phù sa mênh mông của con sông lớn
được tạm dùng làm biên giới” [Cao Huy Thuần (2014); tr. 43].
Bốn là, Vua không có con nối dõi sau mười hay mười lăm năm kết hôn,
“đang đắm chìm trong những khoái lạc sa đọa nhất, chỉ biết sống giữa hơn
năm nghìn cung phi mà ông chỉ vui thú lúc tắm hoặc lúc đóng tuồng với họ”.
Còn quan lại, “họ chia làm hai phe để giành giật chức vụ và thu nạp bộ hạ;
họ tạo nên đầy rẫy những kẻ tham lam, ăn của đút và gian ác, tại các tỉnh bọn
này lấy sự đau khổ của dân chúng làm vui và đàn áp họ”. [Cao Huy Thuần
(2014); tr. 43].
Ông động viên, vận động Nhà nước Pháp “Hãy yên tâm! “Hải quân An Nam
có thể nói là không còn nữa từ sau vụ Đà Nẵng năm 1847: đã có lệnh không đóng
thuyền theo kiểu Âu châu nữa, còn ghe trong nước thì thiếu vũ trang và thiết bị”.
Vậy không có gì phải sợ về mặt thủy chiến. Trên bộ ư? “Quân đội thiếu tổ chức
và khí giới: quân đội đó có tính dân sự hơn là quân đội, họ không biết dùng đại
bác và súng chỉ có một số rất hiếm là có khả năng sử dụng”. Quân đội có khoảng
60.000 hay 70.000 người cho toàn xứ, không thể tập hợp tại một địa điểm quá số
10.000 hay 15.000 tinh binh, mà “theo ý tôi, kỹ thuật chiến ddaaus và lòng can
đảm không thể chống nổi một trung đoàn Pháp”. “Thành lũy bị hư nát, chỉ còn
các lũy tre bao bọc thành phố và làng mạc là còn đáng ngại đôi chút, nhưng với
các chất liệu dễ cháy đó, không có gì khó khăn cho việc chiến thắng, vả lại tôi
không tin rằng dân tộc đó có đủ can đảm, để quyết tâm chiến đấu sau thành lũy
này” .
15
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
tức giận và từ chối. Trong trường hợp đầu, Pháp sẽ lập nền bảo hộ, sẽ đối xử đàng
hoàng với Vua và giữ Vua ở lại ngôi cùng các đặc quyền “với các điều kiện hợp
lý”. Nhưng theo tôi “chiến tranh là cách duy nhất để đạt kết quả nghiêm chỉnh đối
với nước ấy. Phải chấp nhận chiến tranh như là cách tốt nhất, phải đánh gấp Bắc
kỳ, Huế và Đà Nẵng cùng lúc, nếu được thì lật đổ chính phủ, bàn chuyện giải
16
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
HV CAO HỌC LSVN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
phóng hai dân tộc chiến bại ở Nam kỳ và đặt lên ngôi ở Bắc kỳ một kẻ tự xưng là
con cháu nhà Lê” [Cao Huy Thuần (2003); tr. 44,45].
Trong cuốn“Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam
(1857-1914) của Giáo sư Cao Huy Thuần đã góp phần chứng minh cho luận
điểm các giáo sĩ thừa sai chính là những người đề ra kế hoạch xâm lược Việt
Nam, tuy nhiên do họ không có sức mạnh quân đội, tiềm lực kinh tế,…nên họ đã
xúi dục Nhà nước Pháp thực hiện ý đồ của mình, tại trang 393, tác giả đã ghi
“Lịch sử về vai trò của thừa sai người Pháp trong quá trình chiếm hữu thuộc địa
ở Việt Nam sẽ không đầy đủ nếu chúng ta quên không nhắc đến sự tranh giành
ảnh hưởng giữa thừa sai Pháp và thừa sai Tây Ban Nha. Thư sau đây, của Roche
gửi cho Harmand, ngày 6 tháng 7 năm 1885, sẽ giải thích vấn đề này:
“Tôi hân hạnh lưu ý ngài về một vấn đề, mà theo tôi, có tầm quan trọng to lớn
cho việc chiếm đóng Bắc kỳ của chúng ta, tôi muốn nói đến các phái bộ truyền
giáo”.
“…Các phái bộ truyền giáo ở Bắc kỳ, ở Nam kỳ và nói chung ở mọi vùng đất hải
số công trình văn hóa, xã hội đáng kể như Trại cô nhi, Nhà thương hủi, trường
học tiếng Pháp, xưởng in và hai công trình kiến trúc lớn là Nhà thờ Kẻ Sở và nhà
thờ lớn Hà Nội” [Nguyễn Văn Kiệm (2003);tr. 43]. Ngoài nhiệm vụ của giám
mục, Puginier còn tích cực tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế khiến cho
ông trở thành một giám mục có uy tín nhất ở Bắc kỳ lúc bấy giờ bởi sự hiểu biết
sâu rộng về tình hình mọi mặt của xứ này.
Như vậy, đây cũng là một luận điểm chứng minh các giáo sĩ thừa sai là người
quyết định tất cả mọi sách lược trong cuộc xâm lược và bình định ở Việt Nam,
chính các giáo sĩ thừa sai Pháp là những người tích cực nhất trong việc vận động
chính phủ Pháp can thiệp vào Việt Nam cũng như tạo cớ cho cuộc xâm lược Việt
Nam. Một lần nữa, tôi xin khẳng định rằng chính các giáo sĩ thừa sai là người
đưa chủ đích xâm lược Việt Nam- các giáo sĩ trong Hội thừa sai Paris chính là
những cố vấn đắc lực nhất cho Nhà nước Pháp trong cuộc xâm chiếm và bình
định Việt Nam.
Tuy nhiên, với nhận định của tôi sẽ có rất nhiều người đặt lại vấn đề: Hội
thừa sai Paris do Chính phủ Pháp thành lập với mục đích chính là “cải đạo” để
phục vụ cho cuộc cuộc xâm chiếm thuộc địa. Vậy thì, chủ đích xâm lược Việt
Nam là do chính phủ Pháp khởi xướng mới đúng.
Với khả năng hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi cũng xin trình bày ý kiến của
mình về vấn đề này như sau: Theo bài giảng của PGS.TS Lê Hữu Phước thì
thực dân Pháp rất chú trọng đến việc nghiên cứu địa hình đất đai, thổ nhưỡng
của nước thuộc địa, điển hình ở Việt Nam trong thời gian Pháp cai trị, chúng đã
cho thống kê độ dài, độ sâu của từng con kênh, con rạch, từng loại đất,… ở khắp
nơi trên đất nước ta. Và khoảng cách địa lý từ Pháp đến Việt Nam là rất xa, nhà
nước Pháp chỉ nghe nói về “xứ An Nam” chứ không thể hiểu rõ được đặc điểm tự
18
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN THỊ KIM THOA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
CAO HUY THUẦN (2014), “Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của
Pháp tại Việt Nam”, Nxb Hồng Đức.
Nguyễn Văn Kiệm (2003), “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề Lịch sử cận
đại Việt Nam, Nxb Văn hóa – thông tin.
20