NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU
NƯỚC - BẢN LĨNH VÀ TRÍ TUỆ
NGUYỄN KHẮC HUỲNH*
Suốt hơn hai thập kỷ đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao Việt Nam - theo đường
lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh - luôn luôn là một mặt trận hỗ trợ và phối hợp với
đấu tranh quân sự, chính trị với những hoạt động và biện pháp phong phú, hiệu quả góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bài viết này
chủ yếu tập trung nêu lên những sự kiện, những hoạt động ngoại giao chủ yếu nhằm giới
thiệu bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta trong việc lãnh đạo và điều hành mặt trận đấu tranh
ngoại giao.
I- VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA MẶT TRẬN NGOẠI GIAO
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra vào thời kỳ cao
điểm của Chiến tranh lạnh. Thế giới hình thành hai phe chống đối nhau gay gắt bằng
Chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang. Mỹ xâm lược Việt Nam vì lợi ích chiến lược toàn
cầu. Liên Xô luôn theo đuổi mục tiêu cân bằng chiến lược với Mỹ. Trung Quốc nhằm
mục tiêu vươn lên thành cường quốc thứ ba. Liên Xô, Trung Quốc vừa giúp Việt Nam
vừa sử dụng vấn đề Việt Nam để chống hai nước lớn kia. Chiến tranh Việt Nam, về mặt
quốc tế, luôn nằm trên trục chuyển động của ba cặp quan hệ Mỹ - Xô, Mỹ - Trung, Xô Trung. Thất bại ở Việt Nam, Mỹ hòa hoãn với Liên Xô, Trung Quốc và hòng cùng hai
nước này dàn xếp vấn đề Việt Nam, hình thành “Tam giác chiến lược Mỹ - Xô - Trung”,
tác động mạnh mẽ tới diễn biến chiến tranh.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, phong trào giải phóng dân tộc lên cao, đưa tới việc hình
thành lực lượng thứ ba. Năm 1961 chính thức ra đời Phong trào Không liên kết. Năm
1963, Tổ chức Thống nhất châu Phi và năm 1966, Tổ chức Đoàn kết ba châu ra đời.
Thời kỳ này, phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
lên mạnh. Thông tin bùng nổ, lương tri loài người thức tỉnh. Các tầng lớp nhân dân, các
tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo của các nước đều ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các
dân tộc. Đó là những thuận lợi cho ta trên bình diện quốc tế.
Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh quốc tế cũng có những phức tạp, khó khăn cho Việt
Nam:
- Mỹ rất mạnh về tiềm lực, có liên minh quân sự khắp nơi; Mỹ khống chế Liên hợp quốc,
“Trong quá trình chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, ta phải giữ vững quyết tâm chiến lược,
đồng thời áp dụng sách lược đấu tranh chính trị - ngoại giao khôn khéo để phối hợp với
đấu tranh quân sự, chủ động tiến công địch, nêu cao ngọn cờ độc lập, hòa bình nhằm
tranh thủ rộng rãi dư luận thế giới và cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ” 1. Nghị quyết Trung
ương 13 (1-1967) đưa ra khẩu hiệu đấu tranh mới, kéo Mỹ xuống thang. Từ năm 1968
đến năm 1973, ta vận dụng phương thức “vừa đánh vừa đàm”.
Nhìn tổng quát, suốt cuộc chiến tranh, ngoại giao đóng vai trò là một mặt trận đấu tranh
tầm cỡ chiến lược với ba chức năng lớn:
- Phối hợp và hỗ trợ chiến trường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đảm
bảo cho ta càng đánh càng mạnh, làm cho địch suy yếu và thất bại.
- Tăng cường hậu phương quốc tế của ta, gắn Việt Nam với thế giới, tạo cho ta sức mạnh
tổng hợp, làm suy yếu hậu phương quốc tế của Mỹ, làm cho Mỹ vấp nhiều khó khăn trên
thế giới và ngay trong nước Mỹ.
- Giải quyết vấn đề thắng thua, ta thắng, địch thua, kết thúc chiến tranh. Ta thắng đến đâu,
buộc Mỹ thua đến đâu, giành thắng lợi từng bước thế nào, đẩy Mỹ ra khỏi miền Nam như
thế nào?
Từ ba chức năng chiến lược này, qua từng thời kỳ, tùy theo yêu cầu của đấu tranh quân
sự, chính trị và tình hình quốc tế mà Đảng đề ra những chủ trương, biện pháp ngoại giao
thích hợp.
II- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG - NHỮNG THẮNG LỢI NGOẠI GIAO
1. Giương cao ngọn cờ dân tộc và thiện chí hòa bình, tranh thủ sự đồng tình
và ủng hộ của thế giới, cô lập Mỹ trên trường quốc tế
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng không cân sức.
Trên mặt trận ngoại giao, đó là cuộc đối chọi giữa nền ngoại giao non trẻ của Việt Nam
theo tư tưởng Hồ Chí Minh chống lại chính sách ngoại giao trên thế mạnh của nền ngoại
giao nhà nghề hùng hậu của Hoa Kỳ.
Tháng 2-1965, Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân chống miền Bắc.
đợt hoạt động ngoại giao và vận động quốc tế quyết liệt này, chúng ta phối hợp ngoại
giao hai miền, phối hợp ngoại giao Đảng, Nhà nước với ngoại giao nhân dân, phối hợp
ngoại giao với vận động báo chí, phối hợp nỗ lực của ta với sự giúp đỡ của các nước anh
em, của bạn bè quốc tế... Tất cả những nỗ lực đó sớm đưa lại thắng lợi to lớn, tạo chuyển
biến rõ rệt trong dư luận quốc tế, giáng một đòn chí mạng vào các thủ đoạn ngoại giao lắt
léo của Mỹ, đẩy Mỹ vào thế cô lập. Tiêu biểu là các nước thế giới thứ ba. Buổi đầu một
số nước còn tỏ ra dè dặt, có nước đề nghị Việt Nam nên nhận đàm phán không điều kiện
với Mỹ... thì nay đa số các nước đều lên án cuộc chiến tranh của Mỹ, có nước còn đi xa
hơn, đòi Mỹ công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng, đòi Mỹ rút quân. Biểu hiện nổi bật
nhất là trong số 60 nước liên minh với Mỹ hoặc nhận viện trợ của Mỹ thì đến cuối năm
1966, chỉ còn hơn 10 nước đứng về phía Mỹ. Trận thắng lớn đầu tiên của ngoại giao ta!
2. Khẩu hiệu mới - Đòn tấn công mạnh - Kéo Mỹ xuống thang từng bước
Từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, tình hình có những nét mới. Trên chiến trường miền
Nam, ta đã chế ngự được quân Mỹ, bước đầu đánh bại cuộc phản công mùa khô 1965 1966 và đang đánh bại cuộc phản công mùa khô thứ hai (Đông Xuân 1966 - 1967) của
Mỹ. Quân dân miền Bắc đã làm thất bại một bước cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân của Mỹ. Đến cuối năm 1966, miền Bắc đã bắn rơi 1.620 máy bay Mỹ. Thế quốc tế
cũng thuận cho ta hơn.
Trên đà thắng lợi của hai miền, Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương xác
định: “Trước mắt, khẩu hiệu của ta là đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và
mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”4.
Để tăng sức mạnh tấn công, ngày 27-1-1967, Trung ương chủ trương cho đưa ra khẩu
hiệu sách lược: “Chỉ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi
hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thì Việt Nam dân chủ
cộng hoà với Mỹ có thể nói chuyện được”5.
Đây là một đòn tấn công ngoại giao lớn tác động rất mạnh. Suốt hai năm, Mỹ đòi đàm
phán không điều kiện. Ta bác bỏ, tỏ ý sẵn sàng nói chuyện nhưng với điều kiện Mỹ phải
chấm dứt ném bom miền Bắc. Tuyên bố này vừa tỏ rõ thiện chí, vừa phù hợp với đạo lý
chuyển biến thế trận, đảo lộn chiến lược của Mỹ. Về chính trị, đòn Tết Mậu Thân đã gây
một chấn động chính trị và tâm lý mạnh mẽ, sâu sắc trong lòng nước Mỹ. Nội bộ chính
giới, chính quyền Mỹ rối ren, dao động. Ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị một đòn
choáng váng. Báo chí và dư luận đồng loạt đòi đi vào đàm phán.
Sau gần hai tháng bàn bạc, tranh luận, Tổng thống Mỹ Giônxơn đi tới một quyết định khó
khăn: bác bỏ kế hoạch tăng quân, chấp nhận chuyển hướng chiến lược, tìm giải pháp đàm
phán.
Ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn tuyên bố đơn phương chấm dứt ném bom miền
Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; Mỹ sẵn sàng cử đại diện thảo luận biện pháp chấm dứt chiến
tranh. Cùng dịp này, Giônxơn tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ mới. Tuyên bố của
Giônxơn đánh dấu sự thừa nhận thất bại trong chiến tranh, đánh dấu một bước thay đổi có
ý nghĩa, xuống thang chiến tranh, thăm dò giải pháp hòa bình.
Với tuyên bố của Giônxơn, chúng ta có ba cách lựa chọn: Bác bỏ: hơi cứng, không lợi về
dư luận. Nhận ngồi đàm phán: hơi sớm, khó tạo sức ép với phía Mỹ. Sau khi cân nhắc
nhiều mặt, Bộ Chính trị quyết định nhận tiếp xúc (contact). Ngày 3-4-1968, Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố: “Rõ ràng Chính phủ Hoa Kỳ chưa đáp ứng
nghiêm chỉnh đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, của dư luận Mỹ và thế
giới. Tuy nhiên về phần mình, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố sẵn
sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ
chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hoạt động chiến tranh khác chống nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện”.
Việc Bộ Chính trị quyết định nhận bắt đầu cục diện “vừa đánh vừa đàm” lúc này là thích
hợp nhất. Ta nhận ngồi trên thế mạnh, thế đang thắng. Để chậm sẽ bất lợi nhiều mặt và
cũng khó lợi dụng được nội tình của Mỹ trong cuộc bầu cử sắp tới. Trong tuyên bố,
Chính phủ ta khẳng định mạnh mẽ, rõ ràng rằng ta tiếp xúc với mục đích xác định việc
Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc, lúc đó mới bắt đầu cuộc nói chuyện:
Đó là một cái khóa rất hiệu quả.
Cuộc đàm phán song phương Việt Nam dân chủ cộng hoà - Hoa Kỳ bắt đầu ngày 13-51968. Suốt 4-5 tháng, ta vận dụng đàm phán để hỗ trợ chiến trường, lên án và tố cáo tội
ác chiến tranh của Mỹ, tranh thủ dư luận quốc tế và dư luận Mỹ. Ta kiên trì đòi Mỹ chấm
dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc mới nói chuyện về các vấn đề khác. Ta mạnh mẽ bác
kích ác liệt, vùng giải phóng bị thu hẹp, không còn địa bàn đứng chân, các sư đoàn chủ
lực miền phải dạt ra ngoài, “lực lượng trên chiến trường thay đổi, địch ưu thế hơn ta, từ
thế bị động nay địch giành lại thế chủ động”7.
Thấy rõ cuộc chiến chống Mỹ sẽ còn lâu dài, gian khó, từ đầu năm 1969, Bộ Chính trị đề
ra cho ngoại giao và đoàn đàm phán Pari mấy nhiệm vụ chủ yếu:
“a- Đẩy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Hoa Kỳ đơn phương rút
một bộ phận quân Mỹ;
b- Khoét sâu khó khăn nội bộ Mỹ, nội bộ ngụy, mâu thuẫn Mỹ - ngụy;
c- Đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận dân tộc giải phóng...;
d- Tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ..., tranh thủ sự giúp đỡ
mạnh mẽ của phong trào nhân dân thế giới bao gồm cả nhân dân Mỹ đấu tranh đòi Mỹ rút
nhanh, rút hết và không điều kiện khỏi miền Nam Việt Nam...”.
a) Phá “Việt Nam hóa chiến tranh” - Kéo Mỹ xuống thang trên chiến trường chính
Ngoại giao coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Ta vận dụng diễn đàn Hội nghị bốn
bên lên án Mỹ kéo dài chiến tranh, rút quân nhỏ giọt, lên án “Việt Nam hóa” là không
chịu chấm dứt chiến tranh. Việt Nam dân chủ cộng hoà và Mặt trận (sau này là Chính phủ
cách mạng lâm thời) đưa nhiều đề nghị hòa bình nhằm tác động vào nội bộ Mỹ, tranh thủ
dư luận, không cho Mỹ dùng việc rút dần quân Mỹ để chuyển sức ép về phía ta.
Mỹ rút dần quân nhưng có chỗ yếu là không thể định được thời hạn rút hết quân. Đánh
vào chỗ yếu đó, ngày 14-9-1970, đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời đưa ra đề nghị
hòa bình, đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân trước ngày 30-6-1970. Sau chiến thắng lớn
Đường 9 - Nam Lào (3-1971), ngày 1-7-1971, ta đưa ra đề nghị hòa bình mạnh mẽ hơn:
Đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân Mỹ trước ngày 31-12-1971. Đề nghị nêu rõ “thời hạn
rút hết quân Mỹ cũng là thời hạn thả hết tù binh”. Số phi công Mỹ bị bắt đều là con em
các gia đình có thế lực ở Mỹ. Dư luận Mỹ rất quan tâm đến việc thả tù binh. Bởi vậy, đề
nghị
1-7-1971 có sức tấn công mạnh. Dư luận rộng rãi ở Mỹ và trên thế giới đều đòi phía Mỹ
đáp ứng để sớm có hòa bình.
chiến Campuchia và lực lượng kháng chiến Lào. Chiến trường Việt Nam, Lào,
Campuchia kết thành một dải. Vùng giải phóng ba nước nối liền, mở rộng hình thành thế
liên hoàn vững mạnh. Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương tháng
4-1970 trở thành hiến chương chung đoàn kết chiến đấu của ba nước cho đến thắng lợi.
- Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ hình thành từ sớm. Chính
quyền Níchxơn kéo dài và tăng cường chiến tranh càng thúc đẩy nhân dân thế giới đẩy
mạnh đấu tranh. Thắng lợi trên chiến trường cùng với hoạt động ngoại giao của hai miền
Nam - Bắc, phối hợp với đấu tranh trong đàm phán Pari đã góp phần thúc đẩy phong trào
mở rộng ra khắp các châu lục mà sôi động nhất là ở các nước Tây Bắc Âu. Phong trào
nhân dân thế giới trở thành một lực lượng chính trị hùng hậu tác động mạnh mẽ đến nền
chính trị các nước, tạo nên một sức ép căng thẳng đối với chính quyền Mỹ. Chưa bao giờ
trên thế giới có một phong trào ủng hộ sự nghiệp một dân tộc lại có quy mô to lớn, hình
thức phong phú và tác động rất hiệu quả như phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt
Nam chống Mỹ.
- Thúc đẩy phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh:
Phong trào nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã dấy lên mạnh
mẽ từ thời Giônxơn nhất là dịp Tết Mậu Thân. Níchxơn kéo dài chiến tranh, gây thêm tội
ác. Các đề nghị hòa bình của phía Việt Nam tại bàn đàm phán, các cuộc tiếp xúc rộng rãi
giữa đại diện Việt Nam với đại diện các tầng lớp nhân dân Mỹ, cộng thêm tác động của
phong trào nhân dân các nước vào nội bộ Mỹ... Tất cả các nhân tố đó góp phần thổi bùng
phong trào nhân dân Mỹ cả bề rộng và bề sâu: các cuộc tự thiêu, các cuộc nổi dậy của các
trường đại học, các đợt đấu tranh lớn gọi là “ngừng hoạt động” (moratorium), các cuộc
tổng động viên (mobilisation) lôi cuốn hàng triệu người, làm tê liệt hàng trăm thành phố,
trường học Mỹ. Phong trào sôi động quyết liệt đến mức tất cả báo chí phe tả cũng như
phe hữu đều đồng loạt thừa nhận: “Đây là một phong trào chống chiến tranh không
những chưa từng có ở Mỹ cũng như chưa từng có trong lịch sử nhân loại” 8. Phong trào
chống chiến tranh của nhân dân Mỹ tác động mạnh mẽ đến ý chí và chính sách của chính
quyền Mỹ về nhiều mặt. Số nghị sĩ chống chiến tranh ngày càng đông; các vấn đề ngân
sách, lính quân dịch, tinh thần quân đội, quan hệ quân dân, an toàn xã hội cho đến vị thế
quốc tế của nước Mỹ đều bị tác động. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phong trào
12-1972, đàm phán bế tắc, Mỹ dùng B.52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng nhằm gây sức ép.
Ta đánh bại cuộc tập kích lớn này của Mỹ. Ngày 8-1-1973, đàm phán nối lại. Ngày 22-1,
Hiệp định hoàn thành. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được chính thức ký
kết.
Hiệp định Pari là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân
sự, ngoại giao. Với Hiệp định, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông
Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi
Đông Dương, tránh một Việt Nam thứ hai. Chính quyền Sài Gòn mất chỗ dựa, nhanh
chóng bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Phía ta giữ nguyên lực lượng chính trị và
vũ trang, tạo thành một thế trận mới, một so sánh lực lượng mới rất có lợi cho ta. Đại
thắng mùa Xuân 1975 hoàn toàn giải phóng miền Nam không tách khỏi thắng lợi của
Hiệp định Pari. Suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, Trung ương Đảng mấy lần trù liệu
“giành thắng lợi quyết định” (1964, 1968, 1972...), cho đến Hiệp định Pari, tổng hòa
thắng lợi quân sự, chính trị, buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân... Có thể coi
Hiệp định Pari gắn với thắng lợi trên chiến trường là “thắng lợi quyết định” mà chúng ta
giành được bằng sức mạnh tổng hợp.
III- NHỮNG BÀI HỌC
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngoại giao đã có những đóng góp xứng đáng vào
thắng lợi chung của dân tộc. Những nguyên nhân thành công chủ yếu là:
1. Đảng đã xác định đúng vai trò của ngoại giao là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược với
những chức năng phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị rất rõ ràng. Nghị quyết Trung
ương 13 (1-1967) khẳng định: “... đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh
cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc
đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ
động”9.
2. Trong quá trình chỉ đạo đấu tranh, dù ở tầm chiến lược hay ở mức chiến thuật, Trung
ương và Bộ chính trị đều nắm chắc yêu cầu của chiến trường kết hợp với tình hình quốc
đồng minh, tác động nội bộ địch, đưa tới hình thành mặt trận nhân dân thế giới vĩ đại ủng
hộ Việt Nam. Sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân
thắng lợi của nhân dân ta.
Để làm việc này, chúng ta đã kết hợp vận động chính trị, vận động báo chí với đấu tranh
trên bàn đàm phán. Chúng ta duy trì hai diễn đàn, tận dụng diễn đàn công khai với những
bài phát biểu có tính chính luận, những cuộc họp báo có sức thuyết phục. Chúng ta khai
thác địa bàn Pari là một trung tâm báo chí, đầu mối thông tin quốc thế để tranh thủ dư
luận được rộng khắp. Có thể nói tại diễn đàn Pari, Việt Nam ở vào thế lợi và thế mạnh áp
đảo so với đối phương.
Cùng với diễn đàn Pari, ngoại giao Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân nhằm vào các
đối tượng trọng yếu nhất, như Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước
Tây Bắc Âu - nơi có phong trào ủng hộ Việt Nam sôi động nhất. Ngoài giới công nhân và
thanh niên, chúng ta rất coi trọng tầng lớp trí thức, các nhà bác học, giáo sư, học giả, văn
nghệ sĩ tên tuổi, quy thành hàng trăm tổ chức, hàng trăm cuộc tập hợp, đại hội, hội thảo
ủng hộ Việt Nam, có tác động lớn. Tòa án quốc tế Béctơrăng Rútxen (Bertrand Russel) là
điển hình của phong trào trí thức, tiêu biểu cho tình cảm, lương tri loài người ủng hộ Việt
Nam.
Bài học thứ ba là suốt cuộc kháng chiến, chúng ta kiên trì quan điểm độc lập tự chủ của
Đảng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam diễn ra trong hoàn cảnh Chiến tranh
lạnh đang diễn ra gay gắt trên thế giới, nó liên quan đến nhiều nước, trước hết là ba nước
lớn Mỹ - Xô - Trung đều dính líu trực tiếp. Nước Mỹ đang thời hưng thịnh, quyết “không
để mất” Nam Việt Nam. Liên Xô, Trung Quốc hết lòng giúp Việt Nam nhưng cũng tìm
cách tác động vì lợi ích chiến lược của mình. Liên Xô, Trung Quốc mâu thuẫn nhau ngay
trong vấn đề Việt Nam và giúp Việt Nam. Đó là những khó khăn lớn cho ta.
Quan điểm của ta là chân thành đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc, quý trọng sự giúp đỡ
của bạn, coi trọng vị trí của bạn trong vấn đề Việt Nam. Ta coi trọng thông báo cho bạn
tình hình và chủ trương đánh đàm của ta. Ngày 8-10-1972 khi ta trao cho Mỹ đề nghị hòa
bình quyết định - Dự thảo Hiệp định, thì đồng thời ta cũng trao văn bản đó cho lãnh đạo
Việt Nam. Về lâu dài, ta cũng hướng vào giải quyết vấn đề này theo cách đó là thuận cho
ta nhất. Ta kiên trì sách lược này suốt bốn năm. Cuối cùng nó được hai bên thỏa thuận
thành một điều khoản của Hiệp định. Điều 13 của Hiệp định ghi: “Vấn đề lực lượng vũ
trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết”. Đây là một
kỳ công về sách lược và nghệ thuật đàm phán, đưa lại thành công lớn.
Ví dụ thứ hai: Đàm phán có hai loại vấn đề: quân sự và chính trị. Đi vào đàm phán thực
chất, suốt mấy tháng Mỹ vẫn không chịu bàn các vấn đề chính trị. Chúng muốn giữ
nguyên chế độ Sài Gòn. Đàm phán không tiến triển và có nguy cơ bế tắc. Cuối tháng 91972, Bộ Chính trị tính toán, cần gỡ bế tắc nên phải điều chỉnh yêu cầu đàm phán và chỉ
thị cho đoàn Pari “... tranh thủ chấm dứt chiến tranh trước bầu cử Mỹ, ép Mỹ ký Hiệp
định chính thức gồm có ngừng bắn, rút quân, thả tù binh” 10. Ta tạm gác các vấn đề chính
trị gai góc khó thỏa thuận mà tập trung giải quyết các vấn đề quân sự buộc Mỹ chấm dứt
chiến tranh - rút hết quân - ta đặt yêu cầu “đánh cho Mỹ cút”. Đây là một sách lược lớn,
dũng cảm, tài tình, hiệu lực. Nhờ sách lược lớn này mà lập trường hai bên gần nhau và
chỉ trong vòng 12 ngày đạt được thỏa thuận Hiệp định (Văn bản ngày 20-10-1972).
Vận dụng sách lược là nghệ thuật tinh tế nhất của ngoại giao và đàm phán.
Bài học bao quát nữa là: Biết nắm thời cơ giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng
lợi quyết định để đi tới thắng lợi cuối cùng.
Chống kẻ thù mạnh, ngay từ đầu chúng ta đã phải trù tính thắng địch như thế nào, buộc
địch thua đến đâu thì chúng có thể chịu; ta thắng đến đâu là phù hợp khả năng của ta. Bởi
vậy phương châm giành thắng lợi từng bước là con đường tất yếu của ta để đi đến thắng
lợi. Nắm thời cơ là nhân tố hàng đầu để giành một bước thắng lợi. Thời cơ gồm ba nhân
tố chính: tình hình chiến trường, tình hình nội bộ địch và tác động của quốc tế.
Năm 1967, trên chiến trường ta đã chế ngự được địch, Mỹ sa lầy, nội bộ Mỹ rạn nứt, quốc
tế lên án Mỹ mạnh mẽ. Ta nắm thời cơ bắt đầu đòi Mỹ xuống thang trên miền Bắc. Ta đi
từng bước, buộc Mỹ hạn chế ném bom (3-1968) và chấm dứt hoàn toàn (10-1968)
Sau cuộc Tổng tiến công Xuân Hè 1972, Trung ương và Bộ Chính trị nghiên cứu tổng
hợp các nhân tố: “Việt Nam hóa” của Níchxơn đã thất bại nghiêm trọng; thế và lực cách
mạng trên toàn Đông Dương đã mạnh hơn địch; Níchxơn chịu nhiều sức ép phải chấm
dứt chiến tranh trước bầu cử. Mặt khác Xô, Trung đã đi vào hòa hoãn với Mỹ. Tổng hợp
các nhân tố đó, Bộ Chính trị đánh giá ta có thời cơ kết thúc chiến tranh. Từ đó Bộ Chính
động tích cực.
Hàng triệu người thuộc nhiều nước ghi tên tình nguyện sang giúp nhân dân
Việt Nam đánh Mỹ: 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong
trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Ở Pháp có các phong trào quyên góp "100
triệu Frăng ủng hộ Việt Nam"; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp "100
triệu yên cho Việt Nam"; ở Thụy Điển có phong trào "Một triệu cuaron ủng
hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam". Nổi bật là cuộc tổng
bãi công của hơn 5 triệu công nhân thuộc 91 tổ chức công đoàn Nhật Bản
trong năm 1965. Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp tổ chức "Đêm thức vì hòa bình
ở Việt Nam"... Giữa lòng Thủ đô Stốckhôm, xuất hiện các "chiến khu giải
phóng" của thanh niên Thụy Điển. Họ lấy cờ Mặt trận và bài hát Giải phóng
miền Nam làm cờ và bài ca chính thức, lập ra nhóm hành động ủng hộ Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhân dân Cộng hòa Liên bang
Đức đã sôi sục biểu tình tại hơn 50 thành phố phản đối Mỹ ném bom Hà
Nội, Hải Phòng.
Từ châu Phi, châu Mỹ Latinh xa xôi cũng vang lên những tiếng thét phẫn nộ
phản đối hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và tỏ rõ nhiệt tình ủng hộ sâu
sắc với cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Các nước Áchentina, Urugoay,
Cốtxta Rica, Cônggô, Xômali... đã tổ chức giới thiệu cuộc chiến đấu của
nhân dân Việt Nam.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam ngày càng
tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội Mỹ. Nhân dân Mỹ, đặc biệt là
nhiều lính Mỹ đang tham chiến ở Việt Nam không chỉ thấy sự vô nghĩa, tính
chất phi đạo lý của cuộc chiến tranh xâm lược, mà còn thức tỉnh, kính phục
một dân tộc giàu lòng yêu nước, dũng cảm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự
do của mình. Ngày 24-3-1965, cuộc hội thảo đầu tiên về chiến tranh Việt
Nam được tổ chức tại Trường đại học Michigân với hơn 3 nghìn sinh viên
tham dự, sau đó đã nhanh chóng lan ra các trường đại học khác.
Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bàn kế hoạch mở
chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ của ngoại giao là vừa phục vụ việc đấu tranh
thi hành Hiệp định Geneve, vừa phục vụ công cuộc phục hồi kinh tế ở miền
Bắc. Các đoàn đại biểu Chính phủ của ta đã lần lượt tiến hành các chuyến
thăm Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN anh em khác. Qua các chuyến
thăm này, các nước bạn đã giúp ta khôi phục và tăng cường các cơ sở, xí
nghiệp sản xuất, góp phần phục hồi kinh tế ở miền Bắc. Đối với việc đấu
tranh thi hành Hiệp định Geneve, ngoại giao của ta tập trung vào các điểm
chính: Tố cáo trước dư luận thế giới việc Mỹ - Diệm phá hoại việc thi hành
Hiệp định Geneve; Chính phủ ta nhiều lần gửi thư cho Ngô Đình Diệm đề
nghị mở hội nghị hiệp thương chuẩn bị tổng tuyển cử, [1] vận động Ủy ban
quốc tế gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada thúc đẩy việc thi hành Hiệp định.
Tuy nhiên, với dã tâm chia cắt đất nước ta, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới
lên miền Nam, Mỹ - Diệm đã thẳng thừng bác bỏ Hiệp định Geneve, khước
từ khả năng thống nhất nước nhà bằng con đường hiệp thương hòa bình.
Ngoại giao chống sự can thiệp của Mỹ: giai đoạn 1959 – 1964
Sau khi nước ta phải tạm thời chia làm hai miền, ta đồng thời tiến hành hai
nhiệm vụ cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc
dân chủ ở miền Nam. Được sự giúp đỡ của các nước trong khối XHCN, đến
cuối năm 1957, miền Bắc đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh
tế. Trong khi đó, ở miền Nam, tháng 5/1957, Ngô Đình Diệm sang Hoa Kỳ
gặp Tổng thống Aixenhao, ra thông cáo chung khẳng định Mỹ ủng hộ Diệm,
lập phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự (MAAG) nhằm đẩy mạnh xây dựng
quân đội Sài Gòn thành một lực lượng đủ mạnh để chống phá, đàn áp phong
trào cách mạng của nhân dân miền Nam.
Ngày 7/4/1961, hơn 5.000 đồng bào xã X tỉnh Bến Tre mít tinh
Trong giai đoạn này, ngoại giao ta tích cực đấu tranh chống chính sách độc
tài của chính quyền Ngô Đình Diệm, chống sự can thiệp của Mỹ. Ta chú ý
vận động dư luận trong nước và quốc tế. Ngày 18/2/1962, chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố về việc Mỹ tăng cường can thiệp và
xâm lược miền Nam Việt Nam . Các nước Liên Xô, Trung Quốc, Ủy ban
đoàn kết Á – Phi, Hội đồng hòa bình thế giới, Hội luật gia dân chủ quốc tế…
đều lên tiếng phản đối Mỹ can thiệp vào miền Nam, ủng hộ Việt Nam.
Cũng trong giai đoạn này, ta còn tính đến khả năng trung lập hóa miền Nam.
Thực tế lúc đó, ở Đông Dương, trong những điều kiện lịch sử khác nhau, các
Chính phủ ở cả Lào và Campuchia đều đi theo con đường trung lập. [3] Ở
miền Nam, khủng hoảng chính trị diễn ra triền miên, đã có sự xuất hiện của
“lực lượng thứ ba” đấu tranh chống chính quyền Mỹ - Diệm, đòi các quyền
dân sinh dân chủ. Trước tình hình mới, ta tính đến khả năng đấu tranh lập
một chính phủ liên hiệp thi hành chính sách đối ngoại trung lập, yêu cầu Mỹ
rút quân và từ đó hoàn thành thống nhất đất nước. Trong “Thư vào Nam ”
đồng chí Lê Duẩn đã nói rõ về khả năng này. [4] Chính sách đấu tranh để
xây dựng một chính quyền trung lập ở miền Nam vừa nhằm khoét sâu mâu
thuẫn giữa các phe phái trong chính quyền Sài gòn và tập hợp quần chúng
miền Nam, vừa nhằm đẩy Mỹ vào thế bị động: Một khi chính phủ trung lập
ở miền Nam được lập nên, chính phủ đó sẽ yêu cầu Mỹ rút lực lượng quân
sự khỏi miền Nam và hai miền sẽ bàn về cách thức thống nhất đất nước
trong hòa bình.
Nhiều chính khách của Mỹ và quốc tế như Tổng thống Pháp De Gaulle,
Thượng nghị sỹ Mỹ Mike Mansfield đã nêu vấn đề thúc đẩy một Đông Nam
Á trung lập thông qua một kiểu đình chiến hoặc dàn xếp nào đó. [5] Tuy
nhiên, Nhà Trắng đã đưa ra thuyết “domino” để tạo sức ép theo hướng tăng
cường can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam . Các quan chức trong
chính quyền Mỹ, bao gồm Ngoại trưởng Dean Rusk, cố vấn an ninh quốc gia
Chống lại các thủ đoạn và luận điệu ngoại giao của Mỹ, ta đã tiến hành
nhiều hoạt động ngoại giao và vận động quốc tế nhằm đề cao chính nghĩa
dân tộc, thể hiện quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết đánh và quyết
thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; lên án cuộc chiến tranh xâm lược
của Mỹ, các hành động leo thang chiến tranh và các tội ác của Mỹ trên cả hai
miền, mạnh mẽ bác bỏ các luận điệu về “đàm phán không điều kiện” và “hai
bên cùng rút quân.” Ngày 22/3/1965, Mặt trận dân tộc giải phóng ra tuyên
bố 5 điểm biểu thị mạnh mẽ lập trường, mục tiêu chiến đấu và quyết tâm của
nhân dân miền Nam chống xâm lược cho đến thắng lợi cuối cùng. Ngày
8/4/1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố 4 điểm nêu rõ
lập trường và những nguyên tắc lớn của một giải pháp thỏa đáng để chấm
dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hai bản tuyên bố này là cơ
sở vững chắc cho đấu tranh ngoại giao của ta.
Ta đã đón tiếp nhiều vị khách quốc tế đến làm “trung gian hòa giải,” qua đó
nói rõ lập trường của chính phủ ta, vạch trần bản chất xâm lược và hoạt động
ngoại giao nhằm che đậy các hành động chiến tranh phi nghĩa của Mỹ. Qua
các cuộc đón tiếp Thứ trưởng Ngoại giao Ba Lan Mikhailovsky; nhà ngoại
giao Ronning, đại diện chính phủ Canada; chính khách Sainteny, đại diện
Pháp và cả các vị khách Mỹ là các nhà báo, nhà hoạt động tôn giáo... tới Hà
Nội; qua các bức thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với De Gaulle,
với Johnson; trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế; thư của Chủ tịch Hồ Chí
Minh ngày 24/1/1966 gửi đến người đứng đầu nhà nước và chính phủ của
gần 70 nước... ta đã đề cao chính nghĩa dân tộc và ý chí sắt đá của nhân dân
Việt Nam, phản bác lại các thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, đẩy Mỹ vào thế
phải đối phó với dư luận trong và ngoài nước đòi chấm dứt các hành động
chiến tranh phi nghĩa.
Ngoại giao kết hợp “đánh - đàm”: giai đoạn 1967 – 1973
Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước
lược, tìm giải pháp đàm phán. Ngày 31/3/1968, Johnson tuyên bố đơn
phương chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; Mỹ sẵn sàng cử
đại diện thảo luận biện pháp chấm dứt chiến tranh, đồng thời tuyên bố không
ra tranh cử nhiệm kỳ mới. Tuyên bố của Johnson đã đánh dấu sự thừa nhận
thất bại của Mỹ trong chiến lược chiến tranh cục bộ, đánh dấu một bước thay
đổi lớn, xuống thang chiến tranh, tìm kiếm giải pháp hòa bình. Cục diện
“đánh – đàm” đã được mở ra.
Đáp lại tuyên bố trên, ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra tuyên bố: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn
sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía
Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hoạt động
chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể bắt đầu
cuộc nói chuyện.” Cuộc tiếp xúc song phương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Hoa Kỳ bắt đầu ngày 13/5/1968. Suốt 4-5 tháng, ta vận dụng tiếp xúc để hỗ
trợ chiến trường, lên án và tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ, tranh thủ dư
luận quốc tế và dư luận Mỹ. Ta kiên trì đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném
bom miền Bắc mới nói chuyện về các vấn đề khác; mạnh mẽ bác bỏ các điều
kiện do Mỹ đưa ra, như khôi phục khu phi quân sự, chấm dứt xâm nhập và
tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam... Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngoại
giao vận dụng sách lược đạt tới thỏa thuận Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom
miền Bắc, sau đó sẽ họp Hội nghị bốn bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn. Ngày
31/10/1968, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom
miền Bắc. Buộc Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc ném bom bắn phá miền Bắc là
một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, là thắng lợi của sự phối hợp giữa đấu
tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, tạo điều kiện củng cố hậu phương, tạo
niềm tin mạnh mẽ cho nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.
Từ đầu năm 1969 là thời gian bắt đầu hội nghị bốn bên tại Paris. Ta bước
vào giai đoạn đấu tranh mới với một tình hình khá phức tạp. Nixon bắt đầu
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh,” xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh để
đề nghị 1/7/1971 có sức tấn công mạnh, dư luận ở Mỹ và trên thế giới đều
đòi phía Mỹ đáp ứng để sớm có hòa bình. Kết hợp với diễn đàn công khai,
cuối năm 1970 và giữa năm 1971, ta có những cuộc gặp riêng với phía Mỹ
(Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với Kítxinhgiơ) nhằm thăm dò và tác động thêm
đối với phía Mỹ. Bên cạnh đó, ta tiếp tục tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ
của Liên Xô, Trung Quốc, các nước trong khối XHCN, các nước Đông
Dương đối với cuộc kháng chiến của ta; hình thành phong trào nhân dân
rộng lớn, kể cả ngay trong lòng nước Mỹ, ủng hộ Việt Nam, đòi Mỹ chấm
dứt chiến tranh.
Đàm phán Hiệp định Paris: 1968 - 1973
Kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45
cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí tuệ, bản
lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của
một siêu cường hàng đầu thế giới. Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai
đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh
buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ
chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam
Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân
dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ
cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn.
Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 sau khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm
phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam - Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy
vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át
chủ bài cuối cùng của Mỹ - dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trong năm 1973. Cho đến 6/10/1973, Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có 34 nước công nhận và lập quan hệ
ngoại giao. [17] Ngày 29/3/1973, tại thủ đô Thụy Điển đã diễn ra Hội nghị
quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam, đòi Mỹ, ngụy quyền Sài gòn thi
hành nghiêm chỉnh và triệt để Hiệp định.
Từ cuối năm 1974, tình hình chiến trường cũng như tình hình nước Mỹ và
quốc tế có lợi cho ta. Vụ bê bối Watergate đã triệt tiêu khả năng Mỹ can
thiệp quân sự trở lại. Đầu năm 1975, trước thời cơ lịch sử, Đảng ta đã hạ
quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam , thống nhất Tổ quốc
bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Chiến dịch Tây
Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã
hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Mặt trận ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Mặt trận ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, đóng góp to lớn
vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Ngoại giao đã triển khai
nhiều hình thức đấu tranh hiệu quả, kết hợp với các mặt trận đấu tranh chính
trị và quân sự làm nên sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta thắng đế quốc
Mỹ. Trong khi kiên trì “nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, chống tư tưởng
sợ Mỹ, tư tưởng đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến
tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài,
không tin tưởng vào sức mình," [18] ta đã gắn bó chặt chẽ những mục tiêu,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam với sức mạnh của ba dòng thác cách
mạng thế giới, tức là kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Trong công tác tuyên truyền, vận động đối ngoại, ta đã triển khai hiệu quả
các hình thức đấu tranh, nêu rõ chính nghĩa của dân tộc, vạch rõ bản chất
hiếu chiến, chiến tranh phi nghĩa, xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai.
Ngoại giao đã phát huy thế mạnh chính nghĩa dân tộc và thế thắng ở chiến
lượng kháng chiến Campuchia và Lào. Chiến trường Đông Dương kết thành
một dải, vùng giải phóng ba nước nối liền, hình thành thế liên hoàn vững
mạnh. Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương tháng
4/1970 trở thành “hiến chương chung” củng cố tình đoàn kết chiến đấu của