LIÊN MINH CHIẾN đấu lào VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC dân PHÁP (1945 1954) - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ HỒNG

LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU LÀO - VIỆT NAM TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ HỒNG

LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU LÀO - VIỆT NAM TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Đinh Ngọc Ruẫn

Sơn La, năm 2014


LỜI CẢM ƠN

VIỆT NAM ....................................................................................................... 6
1.1. Khái quát về Lào và Việt Nam .................................................................... 6
1.1.1. Khái quát về Lào ...................................................................................... 6
1.1.2. Khái quát về Việt Nam ........................................................................... 12
1.2. Cơ sở hình thành liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam.............................. 16
1.3. Quan hệ giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm
1945. ................................................................................................................. 20
CHƢƠNG 2: LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU LÀO – VIỆT NAM TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 – 1954) ........ 26
2.1. Tình hình Lào và Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ Hai ..................... 26
2.2. Liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam trong những năm 1945 – 1947 ........ 27
2.3. Liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam trong những năm 1948 – 1950 ........ 32
2.4. Liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam trong những năm 1951 – 1954 ........ 38
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 54


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ trước đến nay, quan hệ đặc biệt Lào – Việt
Nam, Việt Nam – Lào là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự
gắn bó bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc cùng
chung mục đích đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Mối quan hệ Lào – Việt Nam đã được hình thành từ lâu đời và dựa trên những
điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa. Kể từ khi Đảng Cộng sản
Đông Dương ra đời (3/2/1930), mối quan hệ này được Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản
và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp xây dựng, được các thế hệ sau tiếp tục phát triển.
Đây được xem là mốc son chói lọi trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Lào – Việt
Nam. Khi Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam và Cách mạng tháng Mười ở Lào
thành công năm 1945, tình đoàn kết, hữu nghị của hai nước đã góp phần củng cố

rèn luyện và trưởng thành hơn trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu vấn đề: “Liên
minh chiến đấu Lào – Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945 – 1954)” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về liên minh chiến đấu
Lào – Việt Nam. Tôi xin điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề này như sau:
Tác phẩm “Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến
chống Pháp tại Lào (1945 – 1954)” của Viện lịch sử quân sự Việt Nam trực
thuộc Bộ Quốc phòng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, đã khái quát quá
trình hình thành và phát triển của quân tình nguyện, từ các đơn vị Việt kiều giải
phóng quân và Liên quân Lào – Việt trong những năm đầu cách mạng, cho đến
khi chính thức trở thành quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Tuy nhiên, tác
phẩm này tập trung chủ yếu vào phân tích vai trò của quân đội Việt Nam đối với
việc giúp đỡ cách mạng Lào mà chưa đi sâu tìm hiểu mối quan hệ tương trợ của
quân đội hai nước.
Tác phẩm “Lược sử nước Lào” của tập thể các tác giả: Phan Gia Bền, Đặng
Bích Hà, Phạm Nguyên Long, Huỳnh Lứa, Lê Duy Lương, Nguyễn Hữu Thùy,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, đã trình bày có hệ thống lịch sử nước Lào
2


từ thời tiền sử đến năm 1975. Trong đó, tác phẩm dành một chương để nói về
cuộc kháng chiến của nhân dân Lào chống chủ nghĩa đế quốc Pháp (1945 –
1954) và có đề cập đến Liên minh Việt – Miên – Lào trong sự nghiệp đoàn kết
chiến đấu vốn có giữa ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống
Pháp.
Tác phẩm “Lịch sử Lào hiện đại” tập I của hai tác giả Nguyễn Hùng Phi và
TS. Buasi Chalơnsúc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, đã trình bày cuộc

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận tập trung làm rõ các vấn đề:
- Cơ sở hình thành liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam.
- Liên minh chiến đấu Lào – Việt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945 – 1954).
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam trong giai
đoạn 1945 – 1954.
4. Cơ sở tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tƣ liệu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi có tham khảo các cuốn sách: Hồ chí
Minh toàn tập, Văn kiện Đảng, bài viết của các nhà lãnh đạo cách mạng, các cơ
quan chuyên môn, cùng các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố..
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, tôi kết hợp sử dụng nhiều phương pháp: logic, lịch
sử, so sánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp các vấn đề theo mối quan hệ biện
chứng với nhau.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận hoàn thành sẽ có ý nghĩa quFan trọng sau đây:
- Khái quát hóa được tiến trình phát triển của liên minh chiến đấu

Lào – Việt

Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954).
- Giúp cho những người quan tâm đến quan hệ hữu nghị, truyền thống đặc biệt
Lào – Việt Nam hiểu sâu sắc hơn về liên minh quân sự này.
- Là nguồn tư liệu giúp các nhà giáo, sinh viên và học sinh tham khảo để giảng
dạy và học tập tốt hơn môn lịch sử.
4


nước Lào có hai dãy núi lớn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông
Bắc – Tây Nam rồi hạ thấp dần xuống, hình thành một chuỗi các cao nguyên:
Hủa Phăn, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, Khăm Muộn,
Xavanakhet, Bôlôven. Từ sông Nậm Kạ Đinh trở xuống phía Nam là miền
Trung và Hạ Lào, địa hình thoải dần về phía Tây. Đồng bằng ở Lào có diện tích
nhỏ bé nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát
triển của các dân tộc ở Lào. Dọc sông Mê Kông có một chuỗi đồng bằng châu
thổ nhỏ hẹp:
- Phía Bắc Viêng Chăn có các đồng bằng: Mường Xỉnh, Huội Sai, Pạc Thà,
Pạc Bèng, Pạc Lai, Xaynhabali, Nặm Khàn…
6


- Phía Nam Viêng Chăn có đồng bằng Viêng Chăn, đồng bằng Nam Lào.
Đây là vùng dân cư tập trung đông đúc, sản xuất nông nghiệp phát triển.
Hầu hết các trung tâm kinh tế, văn hóa của Lào đều nằm ở khu vực địa hình này.
Lào là quốc gia có khí hậu nhiệt đới tiêu biểu nóng và ẩm, mỗi năm có hai
mùa mưa, khô rõ rệt. Từ tháng 4 đến tháng 10 là mùa mưa với đặc trưng là nóng
ẩm và mưa nhiều, có gió mùa Tây Nam hoạt động. Mùa khô ít mưa và lạnh, kéo
dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có gió mùa Đông Bắc hoạt động.
Hệ thống sông ngòi ở Lào dày đặc, hầu hết đổ về sông Mê Kông. Phần sông
Mê Kông chảy qua nước Lào dài khoảng 1 800 km, đây là con sông dài, rộng
nhất nước. Sông Mê Kông cùng phụ lưu, chi lưu của nó trở thành hệ thống giao
thông đường thủy quan trọng nối liền Bắc – Nam, Đông – Tây của đất nước Lào.
Hệ thống sông ngòi ở Lào có vị trí quan trọng trong đời sống nhân dân các dân
tộc Lào như trong sản xuất nông nghiệp, giao lưu giữa các vùng khi đường bộ
chưa phát triển, nguồn cung cấp cá, tôm tươi sống trong bữa ăn hàng ngày của
người dân.
Tài nguyên thiên nhiên của Lào phong phú và đa dạng với nhiều loại khoáng
sản kim loại, rừng tự nhiên, đất đai màu mỡ. Tuy nhiên do hạn chế về mặt địa

thuộc nhóm Lào thơng cư trú rải rác trên địa bàn rộng lớn suốt từ Bắc xuống
Nam tại các triền núi, cao nguyên dọc theo các con sông, suối nhỏ. Người Lào
thơng cũng ở nhà sàn, cột gỗ thưng phên tre nứa hoặc gỗ nhưng thấp hơn nhà
sàn người Lào lùm. Làm nương rẫy là nguồn sống chủ yếu của người Lào thơng.
Một số vùng của dân tộc Khơ mú, Puộc, Phoọng ở Bắc Lào; Xồ, Xẹc ở Trung
Lào; La Ven, Suồi ở Nam Lào làm thêm ruộng hoặc chuyển sang làm ruộng là
chủ yếu. Trừ một số tộc xuống làm ruộng, học được nghề dệt vải với người Lào
lùm còn đại bộ phận người Lào thơng chưa biết dệt vải hoặc dệt còn thô sơ.
Người Lào thơng thường trao đổi với người Lào lùm vải mặc và một số hàng
thiết yếu khác như muối, mắm, đường. Vật phẩm để trao đổi, chủ yếu là lâm thổ
sản, bởi vậy việc khai thác lâm thổ sản có vị trí quan trọng đối với người Lào
thơng. Xã hội Lào thơng còn tồn tại nhiều tàn tích của thời bộ lạc thị tộc, trình
độ sản xuất phát triển còn chậm.
Nhóm Lào xủng gồm những tộc cư trú trên những rẻo cao, đỉnh núi, thuộc
ngữ hệ Mèo – Dao, Tạng – Miến, dân số khoảng 400 nghìn người, chiếm khoảng
10% dân số, gồm có các tộc: H’mông, Dao, Lô Lô, Hà Nhì, trong đó tộc
8


H’mông đông nhất với gần 250 nghìn người. Tuy đã cư trú trên địa bàn Lào
hàng thế kỷ nhưng theo lịch sử Lào thì nhóm Lào xủng xuất hiện sau nhóm Lào
lùm, Lào thơng. Người Lào xủng thường sống trên những ngọn núi cao từ
1000m trở lên, nơi khí hậu mát mẻ về mùa hè, giá rét về mùa đông. Họ sống tập
trung ở các dãy núi phía Bắc Lào. Người Lào xủng sinh sống bằng nương rẫy,
trồng ngô, lúa; chăn nuôi chủ yếu là nuôi lợn, bò, dê, ngựa. Về tiểu thủ công,
người Lào xủng có nghề dệt còn thô sơ chỉ tự túc được một phần, phải dựa vào
việc trao đổi với nhóm người Lào lùm, nghề rèn của người Lào xủng cũng khá
phát triển. Nhìn chung xã hội Lào xủng phát triển chậm.
Trong lịch sử, nhân dân các dân tộc Lào luôn sinh sống hòa thuận xây dựng
đất nước, đoàn kết trong đấu tranh chống kẻ thù.

Lào còn bị mất vùng I Xản (Đông Bắc Thái Lan hiện nay) vào tay Xiêm. Trong
chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), Nhật thay chân Pháp cai trị ở Đông
Dương. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào
tuyên bố độc lập.
Lịch sử Lào từ khi dựng nước đến khi giành độc lập trải qua nhiều thay đổi
nhưng với sức mạnh đoàn kết toàn dân thì đất nước Lào vẫn tồn tại và phát triển
vững chắc. Đây là điều kiện tiền đề để nhân dân Lào tiếp tục chiến đấu chống
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ những năm tiếp theo của thế kỉ XX.
Văn hóa
Nước Lào còn gọi là Lan Xang, “Lan” nghĩa là triệu, “Xang” là voi. Lan
Xang có nghĩa là Triệu Voi, vì vậy Lào được mệnh danh là đất nước Triệu Voi.
Nằm ở nơi giao thoa của hai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất châu Á là
Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã tiếp thụ có chọn lọc những tinh hoa văn
hóa, những phong tục, tập quán và tín ngưỡng của hai nền văn minh đó để hình
thành nên một nền văn hóa hết sức độc đáo và đặc sắc của riêng mình. Nền văn
hóa Lào là nền văn hóa Phật giáo. Đạo Phật đã ăn sâu vào tư tưởng của người
Lào, sự ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật
biểu diễn của Lào.
Với dân số khoảng 6,6 triệu người (2012) nhưng có tới 1 400 ngôi chùa lớn
nhỏ, Lào là nước có tỉ lệ chùa so với dân số cao nhất thế giới. Chùa chiền, đền
10


tháp là “chất keo cộng đồng” gắn kết các dân tộc Lào lại với nhau. Chùa chiền
với những mái ngói uốn cong còn là biểu hiện sự phát triển của nghệ thuật kiến
trúc, điêu khắc và thẩm mỹ của người Lào. Lễ hội gắn với chùa chiền, chùa
chiền gắn liền với làng bản, làng bản lại là nơi để mọi người gặp gỡ, vui chơi,
múa hát, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Lào trường tồn.
Lào là đất nước bốn mùa lễ hội. Cũng như các nước trong khu vực Đông
Nam Á. Lễ hội ở Lào được gọi là Bun, nghĩa đúng của Bun là phước. Làm Bun

lực to lớn để nhân dân các dân tộc Lào đoàn kết trong xây dựng và bảo vệ đất
nước.
1.1.2. Khái quát về Việt Nam
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực châu Á, có lịch sử xây dựng và
phát triển lâu đời. Việt Nam – vùng đất mang đậm dấu ấn văn hóa Đông phương
với nền tảng tam giáo đồng nguyên tồn tại hàng ngàn năm phong kiến. Vì vậy,
đất nước và con người Việt Nam luôn bộc lộ khí chất kiên cường, một bản lĩnh
anh hùng cách mạng từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay.
Địa lý
Lãnh thổ Việt Nam có dạng hình chữ S, chạy dọc bờ biển phía đông của bán
đảo Đông Dương. Diện tích tự nhiên là 331 212 km 2, phía Bắc giáp Trung Quốc
với 1 281 km đường biên giới, phía Tây giáp Lào và phía Tây Nam giáp
Campuchia với đường biên giới lần lượt là 2 130 km và 1 228 km. Phía Đông và
Nam Việt Nam giáp biển Đông có 3 260 km đường bờ biển. Vị trí địa lý của
Việt Nam có nhiều điều kiện để giao lưu với các quốc gia trên thế giới.
Địa hình Việt Nam rất đa dạng, bao gồm ba dạng chính: đồi núi, cao nguyên
và đồng bằng. Đồi núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ, núi tập trung
thành 4 vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam. Điểm
cao nhất Việt Nam là đỉnh Phan-xi-păng cao 3 143 mét, thuộc dãy núi Hoàng
Liên Sơn. Cao nguyên và đồi trung du nằm ở nơi chuyển tiếp giữa miền núi với
đồng bằng, có các cao nguyên lớn như: Mộc Châu, Kom
Tum, Mơ Nông, Lâm Viên…
Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long
và đồng bằng duyên hải miền Trung là nơi tập trung đông dân cư và hoạt động
sản xuất phát triển nhất, hình thành các vựa lúa lớn.

12


Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Tuy nhiên giữa hai

13


xưa đã biết làm nhiều mặt hàng thủ công như: đồ gốm, dệt lụa, rèn sắt… Người
Việt có vai trò chủ yếu về chính trị, kinh tế, văn hóa ở Việt Nam.
Những dân tộc thiểu số phần lớn đều sinh sống ở các vùng miền núi và cao
nguyên. Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu
đời như dân tộc: Thái, Mường, Dao, Chăm, Khơ me… nhưng cũng có các dân
tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở
miền Nam. Với đặc thù sinh sống trên các vùng đất cao nên hoạt động sản xuất
nông ngiệp chủ yếu của các dân tộc thiểu số là làm nương rẫy, chăn thả gia súc,
dệt thổ cẩm… Tổ chức cộng đồng của họ là bản, mường, buôn… mỗi thành viên
đều sinh sống hòa thuận, đoàn kết.
Các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn đoàn kết, giúp đỡ nhau
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn hòa thuận để phát triển kinh tế – xã hội.
Lịch sử
Người dân Việt Nam luôn tự hào về bốn ngàn năm lịch sử của mình, theo
truyền thuyết về thời Hồng Bàng, thế kỷ VII TCN, người Lạc Việt đã lập nên
nhà nước Văn Lang tại khu vực mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam, và kế tiếp
là nhà nước Âu Lạc vào giữa thế kỷ III TCN. Bắt đầu từ thế kỷ II TCN, người
Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị trong hơn 1000 năm. Nhiều
cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Bà Triệu, Mai Thúc Loan... đã nổ ra
nhưng phải đến năm 938, Việt Nam mới chính thức giành được độc lập lâu dài,
khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV dân tộc Việt Nam đã
xây dựng đất nước, tổ chức chính quyền theo thể chế quân chủ chuyên chế trung
ương tập quyền, chính quyền chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Trong
suốt thời kỳ phong kiến, Việt Nam nhiều lần phải chống lại sự xâm lược của các
triều đại phương Bắc và cũng có những lần xâm chiếm mở rộng lãnh thổ xuống
phía nam.

theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía
cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.
Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống ngoại xâm thế kỉ XX, văn hóa trở
thành mặt trận xung kích, những cán bộ văn hóa thông tin là chiến sỹ trên mặt
trận tư tưởng, khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”
đã thúc dục ý chí quyết chiến, quyết thắng toàn dân.
15


1.2. Cơ sở hình thành liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam
Từ bao đời nay, Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng cùng nằm trên bán
đảo Đông Dương, Việt Nam nằm ở phía đông, Lào nằm ở phía tây của bán đảo.
Hai nước cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, có chung đường biên giới
dài gần 2 100 km và cùng chung dòng sông Mê Kông là điểm tựa gắn bó nhau
về mặt địa lý. Xuất phát từ vị trí địa – chiến lược của hai nước, từ bản chất nhân
văn, nương tựa lẫn nhau của hai dân tộc có chung nguyện vọng về hòa bình nên
Lào và Việt Nam đã hình thành một liên minh quân sự mang tính chất tự nhiên
và bền vững trong suốt nhưng năm tháng kháng chiến chống thực dân, đế quốc
phương Tây.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi
Có vị trí địa – chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á là do Lào và Việt
Nam nằm trên ngã tư đường giao thương hàng không, hàng hải quốc tế, nối liền
Đông Bắc Á, Nam Á qua Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nơi có nguồn tài
nguyên khoáng sản khá phong phú, một điểm nóng của sự tranh giành lợi ích và
ảnh hưởng giữa các cường quốc trên thế giới. Sông Mê Kông là nguồn sống
chính của nhân dân Lào, cung cấp nước, phù sa và dưỡng chất cho sản xuất nông
nghiệp, đồng thời tạo nên vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Dãy Trường Sơn trở
thành đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào, là bức tường thành hiểm
yếu, tạo điều kiện cho hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước. Do đó, vị trí địa lý và điều kiện

có sự áp bức và nô dịch nhau, không có hiềm khích và thù hằn nhau. Mặt khác,
nhân dân hai nước lại luôn giúp đỡ, che chở lẫn nhau, là láng giềng chí cốt của
nhau. Từ thế kỉ XIV, khi Lào mới thống nhất lãnh thổ với tên gọi Lan xang, vua
Phà Ngừm và các vị vua sau ông đều đặc biệt quan tâm đến quan hệ ngoại giao
trong quá trình xây dựng vương quốc của mình. Vương quốc Lan Xang khi đó
rất coi trọng ngoại giao với Đại Việt – nhà nước phong kiến của Việt Nam. Đến
thế kỉ XV, nhà Minh (Trung Quốc) xâm lược Đại Việt, trong giai đoạn đầu khởi
nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân của Lê Lợi nhận được sự giúp đỡ của các bộ tộc Lào
về vũ khí, lương thực, chiếm mã và cho mượn đất đai làm hậu cứ kháng chiến.
Bước sang thế kỉ XVI, vương quốc Lào đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong
sự phát triển mọi mặt của đất nước, nhất là trên lĩnh vực ngoại giao. Vua
Phô Thi Xa Lat (1520 – 1549) đã thu hẹp và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn quan hệ
17


ngoại giao với Ayuthaya (Thái Lan) và Miến Điện (Mianma), chuyển sang kết
thân với Đại Việt. Nhờ đó quan hệ Lào – Việt được chú trọng hơn lúc nào hết.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách đô hộ lên toàn
bán đảo Đông Dương. Việc thực dân Pháp sáp nhập ba nước Việt Nam, Lào,
Campuchia thành một thực thể “Đông Dương thuộc Pháp” đã hủy bỏ tính chất
quốc gia của mỗi nước và biến Đông Dương trở thành một địa bàn chia rẽ sâu
sắc giữa các dân tộc. Thực dân Pháp tìm mọi cách thực hiện âm mưu “chia để
trị” trong nội bộ từng nước và giữa ba nước Đông Dương với nhau, đó là việc
Pháp chia Đông Dương thành 5 xứ (Bắc Kì, Trung kì, Nam Kì, xứ Ai Lao, xứ
Cao Miên), gây thù hằn dân tộc giữa các nước. Đông Dương đã bị biến đổi
thành một đơn vị hoàn toàn mới, các nước có những mối ràng buộc chặt chẽ về
kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội. Vì vậy, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia có ảnh hưởng mật thiết
và tác động lẫn nhau. Do có cùng một kẻ thù và chung một cảnh ngộ bị xâm
lược và áp bức, phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị sẵn có, nhân dân ba

Việt Nam như một đòi hỏi tất yếu của lịch sử.
Những năm đầu thế kỷ XX, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc của Việt
Nam, với lòng yêu nước nồng nàn, căm thù quân xâm lược đã vượt lên mọi khó
khăn, gian khổ để tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc
thuộc địa, tự mình tìm ra con đường cứu nước. Sau bao những tháng ngày bôn
ba vòng quanh thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đấu tranh cho dân
tộc Việt Nam và phương pháp đấu tranh đưa cách mạng Đông Dương đi đến
thắng lợi. Đó là con đường cách mạng vô sản. Trong quá trình tìm ra con đường
cứu nước, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào – một nước láng
giềng gần gũi với Việt Nam, có thể phối hợp hỗ trợ Việt Nam thực hiện cách
mạng thành công. Người luôn theo dõi tình hình cách mạng, trực tiếp vận động
và tổ chức các phong trào yêu nước cách mạng của Việt kiều ở Lào. Tháng
2/1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền
thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập (tháng
6/1925) đã gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua hoạt động của Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện
thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa
19


sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ, liên minh chiến đấu chống
thực dân Pháp. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội
Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất nước Lào. Trên
thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một cầu nối trực tiếp truyền
bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào
Đông Dương. Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại
Lào, chủ động tìm hiểu tình hình chính trị, kinh tế, địa lý, dân cư để báo cáo lên
Quốc tế Cộng sản. Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên
được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều địa
phương ở Lào với Việt Nam được tổ chức. Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu

Đến tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Đảng họp để thông
qua Luận cương chính trị. Tại hội nghị, các đại biểu phân tích và thấy rằng: ba
nước Việt Nam, Lào, Campuchia đều là thuộc địa của Pháp, tuy là ba dân tộc khác
nhau nhưng lại chịu chung một ách thống trị, lại có quan hệ mật thiết với nhau về
địa lý, kinh tế, chính trị… ba nước cần phải liên lạc chặt chẽ với nhau, đoàn kết
thống nhất hoạt động chống lại kẻ thù chung. Do đó, Hội nghị Trung ương quyết
định đổi tên đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Đông Dương, Liên minh cách mạng ba nước: Việt Nam, Lào, Campuchia
mang bản chất quốc tế vô sản đã bắt đầu hình thành.

Sau khi Đảng ra đời, các chi bộ Cộng sản đầu tiên đã được tổ chức ở Lào và
Campuchia như: Viêng Chăn, Thà Khẹc, Sa Vẳn (Lào) và Phnôm Pênh, Công
Pông Chàm (campuchia). Nhờ có đường lối lãnh đạo đúng đắn, phong trào cách
mạng của ba nước Đông Dương có bước tiến mới, lan rộng và diễn ra mạnh mẽ
hơn.
Ở Việt Nam, phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ
– Tĩnh đã tạo dựng được niềm tin trong lòng quần chúng, phong trào công nông
đòi quyền làm chủ cho nhân dân lao động. Tuy bị thực dân Pháp khủng bố trắng,
nhưng các giai đoạn tiếp theo 1932 – 1935, phong trào cách mạng nhanh chóng
phục hồi. Đến khi cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 bùng nổ đã chĩa mũi
nhọn vào bọn phong kiến và tay sai cho Pháp.
Ở Lào, hoạt động cách mạng bắt đầu sôi nổi từ năm 1933. Cùng với sự phát
triển của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo chung của Đảng Cộng sản
Đông Dương, từ năm 1933 – 1934 và 1936 – 1939, phong trào cách mạng đã
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status