Trí thức Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NHƯ Trí thức Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp 1945-1954 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
5.03.15 Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Khánh

Hà nội - 2005


4.1 Trí thức trên mặt trận báo chí 93
4.2 Trí thức với lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật 102
4.3 Trí thức xây dựng nền giáo dục mới 110
4.3.1 Một số nét về tình hình giáo dục nước ta sau Cách mạng tháng 8 110
4.3.2 Trí thức với những chính sách và hoạt động của ngành giáo dục 111
4.4 Trí thức xây dựng nền y tế kháng chiến 116
4.4.1 Trí thức với các chính sách ngành y tế 116

2
4.4.2 Hoạt động của trí thức ngành y tế trong kháng chiến 118
Những sáng kiến của tầng lớp trí thức trong lĩnh vực y tế 120
KẾT LUẬN 127 1 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay chúng ta đang từng ngày, từng giờ chứng kiến những biến
đổi lớn lao về khoa học và công nghệ, về văn hoá- giáo dục, về nghệ thuật, về
kinh tế… Đó chính là những thành tựu kỳ diệu của trí tuệ con người trong đó
có sự đóng góp rất to lớn của đội ngũ trí thức.
Ra đời trong xã hội có giai cấp, tầng lớp trí thức góp phần nhận thức
đầy đủ hơn những qui luật vận động của tự nhiên- xã hội, từng bước giải
phóng con người khỏi sự phụ thuộc vào tự nhiên cũng như sự chi phối của các
lực lượng xã hội. Trong quá trình phát triển lâu dài, tầng lớp trí thức ngày
càng có những đóng góp xứng đáng và khẳng định vị trí của mình trong sự
nghiệp cải tạo và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tầng lớp trí thức có vai trò rất quan
trọng trong bước tiến của nhân loại.

hàng ngàn năm của dân tộc ta luôn gắn liền với các cuộc chiến tranh chống kẻ
thù xâm lược từ bên ngoài. Do đó, trí thức Việt Nam hình thành trên cơ sở
gắn bó với nhân dân trong quá trình sản xuất và chiến đấu. Trí thức Việt Nam
bên cạnh đặc điểm chung: là những người có hiểu biết và trình độ văn hoá cao
so với các tầng lớp khác trong xã hội còn có những nét đặc thù: cần cù, chịu
khó, ham học hỏi, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc cao, lòng yêu nước sâu sắc và
đặc biệt rất gắn bó với quần chúng nhân dân. Trí thức Việt Nam trong bất kỳ
giai đoạn nào cũng có vai trò rất lớn đối với sự hưng vong của đất nước (phi
trí bất hưng). Sự hưng thịnh của quốc gia cũng phụ thuộc vào đội ngũ trí thức.
Chính vì thế, trí thức luôn được xã hội đề cao, nể trọng theo trình tự đẳng cấp
“Sỹ – nông – công – thương”.
Lần giở lại những trang lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta
nhất là trong giai đoạn lịch sử hơn 80 năm chống Pháp (1858-1945) chúng ta
thấy có một điểm nổi lên rất rõ nét là trong công cuộc đấu tranh kiên cường,
bất khuất của toàn dân, luôn luôn có mặt tầng lớp trí thức.

3
Trí thức yêu nước đã đứng lên giành lấy ngọn cờ dân tộc từ tay bọn đế
quốc thực dân, trở thành người tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lược. Họ trở thành lực lượng xung kích đi đầu
trong việc đi tìm một đường lối cứu nước mới lúc bấy giờ. Một bộ phận trí
thức tiên tiến nhất đã truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin trong các tầng
lớp nhân dân, chuẩn bị tiền đề cần thiết cho sự hình thành một chính đảng
cộng sản ở Việt Nam.
Sự tham gia tích cực của tầng lớp trí thức qua hai cao trào cách mạng
1930-1931, 1936-1939, trong quá trình chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩa
tháng 8-1945 thành công và đặc biệt là 9 năm kháng chiến gian lao, anh dũng
cùng quần chúng nhân dân đánh bại thực thực dân Pháp, 21 năm đánh đuổi đế
quốc Mỹ là minh chứng khẳng định chắc chắn điều đó. Lịch sử mãi ghi nhận
những đóng góp tích cực và to lớn ấy của tầng lớp trí thức yêu nước vào sự

về tầng lớp trí thức do các nhà khoa học của Việt Nam đã được công bố.
Có một số sách và bài viết trong các tạp chí đã đề cập đến vấn đề này
như sau:
1. Nguyễn Văn Khánh: Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự
nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước, NXB Thông tấn, Hà Nội, 2004.
2. Hồ Sơn Diệp: Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân
Pháp 1945-1954, NXB Đại học Quốc gia, TP.Hồ Chí Minh, 2003.
3. Hồ Hữu Nhật: Trí thức Sài Gòn-Gia Định 1945-1975, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
4. Đỗ Đức Dục: Để tiếp tục truyền thống cách mạng tháng tám tầng
lập trí thức, tư sản phải làm gì?, báo Cứu quốc, cơ quan trung ương của mặt
trận Liên Việt, 1952, số 2147.
5. Hoàng Văn Đức: Trí thức Việt Nam trong cuộc cách mạng dân chủ,
báo Độc lập, 1949, số16.
6. Trần Huy Liệu: Trí thức Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải
phóng dân tộc, Nghiên cứu lịch sử, 1960, số 2.

5
7. Hoàng Văn Đức: Hiện trạng đời sống viên chức trí thức, báo Độc
lập, Cơ quan tranh đấu của Đảng dân chủ Việt Nam, 1953, số 54
8. Phạm Tất Dong: Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
Tuy nhiên, những nghiên cứu về đội ngũ trí thức trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 chưa được đi sâu mà mới chỉ là khái
quát, sơ lược, hoặc là viết về từng vùng Ví dụ tác phẩm Trí thức Nam Bộ
trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 của Hồ Xuân Diệp, Trí
thức Sài Gòn-Gia Định 1945-1975 của Hồ Hữu Nhật cũng mới chỉ tập trung
nghiên cứu vai trò của trí thức Nam Bộ trong kháng chiến. Cuốn sách Trí thức
với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước
của Nguyễn Văn Khánh thì lại đi sâu vào giới thiệu quá trình hình thành, kết

Do điều kiện tài liệu, thời gian nghiên cứu khẩn trương nên luận văn không
thể đi sâu và giới thiệu đầy đủ tất cả các mặt những hoạt động của trí thức
Việt Nam trong các lĩnh vực khác như luật, kiến trúc, giao thông, công nghệ
Hy vọng những hạn chế và thiếu sót này chúng tôi sẽ có dịp khắc phục trong
những công trình nghiên cứu sau.
5. Những đóng góp của luận văn
Từ các số liệu và sự kiện cụ thể và trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ
thống về những hoạt động của trí thức trong thời kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp 1945-1954. Luận văn nêu lên sự sáng tạo của Đảng trong việc vận
dựng, tập hợp trí thức đồng thời chỉ ra những đóng góp của tầng lớp này trong
thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp trên các lĩnh vực chính trị, quân sự,
văn hóa-giáo dục, kinh tế và y tế.
6. Nội dung của luận văn
Bên cạnh phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục, luận án có 4 chương
Chƣơng 1: Đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm 1945-1954
Chương này giới thiệu khái quát về những hoạt động của trí thức trong
phong trào giải phóng dân tộc (trước khi có Đảng), những đóng góp to lớn
của trí thức trong Cách mạng tháng 8. Nguồn gốc, cơ cấu, thái độ chính trị
của đội ngũ trí thức nước ta trong kháng chiến.
Chƣơng 2: Hoạt động của trí thức trên các lĩnh vực chính trị-quân sự

7
Trình bày những hoạt động của trí thức trong lĩnh vực chính trị –quân
sự, sự tham gia trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến. Những hoạt động
của trí thức cho ngành thông tin liên lạc, mạch máu của bộ đội ta. Một số hoạt
động của sinh viên-tri thức.
Chƣơng 3: Trí thức trên mặt trận kinh tế
Một số chính sách của Đảng và Chính phủ đối với ngành kinh tế. Để
cung cấp được đầy đủ lương thực, thuốc men cho cuộc kháng chiến, trí thức
Việt Nam đã không quản hy sinh, dũng cảm quên mình tất cả cho tiền tuyến,

Cũng trong thời gian này nhiều nhà nho học yêu nước sáng tác văn thơ,
hịch mang đậm tính chiến đấu như Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Nghị,
Văn thơ yêu nước là một vũ khí đánh giặc “sớm biết” xông ra mặt trận cùng
nghĩa quân “giáo tre nghìn dặm đánh Tây” {32,51}. Nó có tác dụng to lớn cổ
vũ tinh thần toàn dân đánh giặc cứu nước.
Mặc dù tất cả các phong trào cứu nước trên đều không thành công
nhưng nó chứng tỏ truyền thống yêu nước kiên cường của các tầng lớp nhân
dân ta nói chung và tầng lớp trí thức nói riêng, đồng thời tạo tiền đề cho một

9
cuộc đấu tranh ác liệt hơn, hào hùng hơn của một dân tộc anh hùng, trong đó
có lực lượng trí thức tân học mới được hình thành.
Trong lúc xã hội Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc do tác động
của cuộc khai thác thuộc địa lần 2 và của chính sách giáo dục, văn hoá của
thực dân Pháp thì một trào lưu tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng vào Việt Nam
qua hai con đường Trung Quốc và Nhật Bản. Trào lưu tư tưởng thâm nhập
vào Việt Nam đã góp phần làm xuất hiện các xu hướng cứu nước mới trong
một số sỹ phu tiến bộ. Dù đường lối hoạt động của có khác nhau nhưng các
khuynh hướng này đều chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản. Đại diện cho
khuynh hướng này là phong trào Đông Du (1904-1908), rồi tiếp theo đó là
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và Duy Tân (1906-1908). Tất cả
những phong trào trên đều nhằm mục đích cưú nước cứu dân nhưng cuối
cùng bị thực dân Pháp can thiệp và thất bại.
Tiếp theo đó những năm 1920, phong trào yêu nước tiếp tục phát triển
rầm rộ tại nhiều nơi. Nhờ tác động của chủ nghĩa Mác Lênin thông qua hoạt
động của Nguyễn Ái Quốc và thắng lợi của Cách mạng Tháng 10 Nga, phong
trào học sinh, sinh viên trí thức nước ta sau chiến tranh dần hình thành và phát
triển mạnh mẽ.
Trong lúc phong trào đang lên sôi nổi, khoảng giữa những năm 1925-
1926 đã xuất hiện những nhóm chính trị của thanh niên trí thức yêu nước và

được nhiều thanh niên hăng hái tham gia cách mạng. Hơn thế nữa nhằm tập
hợp lực lượng, Đảng ta đã sớm đề ra phát triển mặt trận, một hình thức tổ
chức chính trị rộng rãi và vững chắc. Mặt trận phản đế Đông Dương ra đời,
lôi kéo được đông đảo quần chúng, đặc biệt là tầng lớp trí thức trên con
đường đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trí thức nghe theo tiếng gọi của Đảng đã tập hợp nhau lại trong những
đoàn thể thống nhất, sẵn sàng đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc. Phong trào
của họ diễn ra vô cùng sôi nổi, rầm rộ tạo thành làn sóng cách mạng khắp ba
miền Bắc-Trung-Nam khiến cho bọn giặc Pháp vô cùng tức tối.

11
Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta, thực dân Pháp điên
cuồng khủng bố, đàn áp, bắt bớ cán bộ cách mạng như Tôn Đức Thắng, Lê
Hồng Phong, Chúng còn hèn hạ giết chết nhà trí thức Châu Văn Liêm, Trần
Phú
Tầng lớp trí thức đứng trước thử thách gay go, quyết liệt, một số bị mất
phương hướng, bi quan dao động nhưng phần đông anh chị em không bị nhụt
chí. Nhiều trí thức lại tham gia đấu tranh với nhiều hình thức mới. Chính vì
vậy mà trong thời kỳ 1932-1935, phong trào cách mạng của quần chúng lại
dần được hồi phục và phát triển.
Phong trào thơ mới, thể loại phóng sự, thơ trào phúng đã được sáng tác
nhiều hơn cộng với văn học nghệ thuật dân gian nhằm vào bọn địa chủ tay sai
đã bóc lột và phản bội quần chúng. Trí thức còn sử dụng báo chí công khai
hợp pháp làm vũ khí đấu tranh tư tưởng. Thông qua những cuộc đấu tranh,
tranh luận sôi nổi về văn học và nghệ thuật, trí thức đã bày tỏ quan điểm cách
mạng của mình về nghệ thuật vô sản, nghệ thuật dù có siêu phàm đến đâu
cũng không đứng ngoài cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và phải hướng
vào phục vụ sự nghiệp cách mạng. Đó là thắng lợi lớn của Đảng ta khi chỉ rõ
được con đường đi của giới văn nghệ sỹ.
Đây là thời kỳ của những trận thử lửa đầu tiên của trí thức Việt Nam,

đoàn thể nên tổ chức công khai cho nhiều người vào”{75,3}. Năm 1938, lập
ra hội truyền bá chữ quốc ngữ ở Hà Nội, lấy lực lượng sinh viên làm nòng
cốt. Nhờ có chủ trương đúng đắn, khẩu hiệu đấu tranh phù hợp, tầng lớp trí
thức đã phát huy hết khả năng tinh thần, đóng góp to lớn cho cách mạng.
Trong những năm 1936-1939 báo chí phát triển rầm rộ, đã có tác dụng
tập hợp liên kết tổ chức, động viên chỉ đạo các lực lượng đấu tranh. Đấu tranh
đòi tự do báo chí ngôn luận cũng phát triển mạnh mẽ. Một loạt tờ báo bằng
tiếng Pháp, tiếng Việt được xuất bản. Nam Kỳ có Tiền Phong, Dân Chúng ;
Trung Kỳ có Nhành Lúa, Kinh Tế ; Bắc Kỳ có Lao Động Ngoài ra còn có
các báo quốc văn nối tiếp nhau ra đời như Tin Tức, Thế Giới Mới, Đời Nay,
Thời Thế vv

13
Có thể nói, từ khi thành lập Đảng đến nay, đây là lần đấu tranh báo chí
công khai phát triển mạnh mẽ nhất. Hàng loạt báo chí nối tiếp nhau ra đời.
Bọn đế quốc thực dân đã thi hành nhiều biện pháp kìm hãm, ngăn cản sự phát
triển của phong trào. Tuy nhiên, với sự cố gắng nỗ lực của tầng lớp trí thức,
báo chí vẫn tiếp tục được phát triển. Báo phản ánh được tiếng nói của quần
chúng, động viên hàng triệu nhân dân từ thành thị đến nông thôn tham gia
cách mạng.
Trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, trào lưu văn học cách mạng theo ý
thức hệ vô sản đã trưởng thành một cách nhanh chóng. Bên cạnh những bài có
nội dung đấu tranh về quan điểm, phê bình văn học còn có những tác phẩm
văn xuôi, thơ ca cách mạng, văn chương chống phản động và trụy lạc. Văn
học hiện thực phát triển mạnh “diễn tả nỗi thống khổ của tầng lớp nhân dân
đang hướng về cách mạng” tiêu biểu như các tác giả: Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan vv
Lấy trí thức làm nòng cốt xoá mù chữ, chống thất học, nâng cao trình
độ văn hoá, ban truyền bá chữ quốc ngữ ngày càng phát triển rộng. Hội phái
hội viên vào Huế mở rộng địa bàn, tuyên truyền vận động, lập chi hội, vận

biểu báo chí và có 6 đại biểu trí thức. Trong đại hội, tầng lớp sinh viên và trí
thức đã đóng vai trò tích cực. Họ thu thập nguyện vọng của tầng lớp mình và
tầng lớp khác, đòi mở thêm trường học tiếng mẹ đẻ Uỷ ban thanh niên trong
đó phần đông là trí thức đã tham gia vào các hoạt động nhằm phá tan âm mưu
giả mạo dân ý. Nhiều sinh viên đã miệt mài sao chép truyền đơn Đảng, bí mật
đem rải trong thành phố, nông thôn và các vùng lân cận.
Đông Dương đại hội chính là cuộc đấu tranh của lực lượng nhân dân
tiến bộ trong đó có trí thức. Phong trào này tuy chưa đạt được mục đích đấu
tranh công khai, hợp pháp và bí mật không hợp pháp, nhưng quần chúng đã
tích cực tham gia để thực hiện những mục đích của Đảng đề ra.
Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào cách mạng thời
kỳ này, thực dân Pháp đã tăng cường áp dụng các biện pháp, thủ đoạn nhằm
mua chuộc, chia rẽ phong trào. Chúng đã tổ chức các hội ánh sáng, đoàn

15
hướng đạo , lôi kéo tầng lớp trí thức ra khỏi con đường đấu tranh cách mạng.
Nhằm đập tan âm mưu thâm độc đó của kẻ thù, Đoàn thanh niên trong đó
tầng lớp trí thức là lực lượng xung kích đã tổ chức các hoạt động như các đêm
văn nghệ, các đợt đi thăm quan Thông qua hình thức này, trí thức cùng nhau
sáng tác ra bài ca cách mạng, những tác phẩm văn học nghệ thuật tiến bộ để
tuyên truyền cho quần chúng. Kết quả là đã đập tan được những thủ đoạn
thâm độc của kẻ thù, giáo dục thanh niên về tinh thần yêu nước và quốc tế vô
sản.
Thông qua hoạt động thực tiễn nhiều trí thức đã trưởng thành được
đứng vào hàng ngũ đấu tranh của Đảng, những người đứng đầu các tổ chức.
Phong trào thời kỳ này còn tạo nên một bước tiến mới của cách mạng cho
những thời kỳ tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
Năm 1939, đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Thực dân Pháp ở
nước ta dâng Đông Dương cho Nhật. Nhật vào đã liên tiếp dùng nhiều thủ
đoạn để lừa gạt thực dân Pháp và cả dân ta. Chúng muốn một mình nắm chính

văn nghệ sỹ nói riêng. Bản đề cương văn hoá ra đời đã kịp thời khích lệ các
hành động cách mạng của phong trào học sinh, sinh viên và trí thức, trang bị
cho họ kiến thức về lý luận mác xít, làm tăng thêm sức chiến đấu của họ trong
từng bài thơ văn, từng bản nhạc. Nhằm thúc đẩy công tác văn hoá và phát
triển thành một vũ khí đấu tranh cách mạng của giới văn nghệ sỹ, Hội văn hoá
cứu quốc đã được thành lập với sự tham gia của nhiều văn nghệ sỹ. Một nền
văn hoá cách mạng có tính dân tộc dân chủ hình thành và mở rộng, hỗ trợ đắc
lực cho cách mạng giải phóng.
Tháng 6-1944 với sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Việt Nam, một tổ
chức của trí thức, sinh viên có tên gọi là Đảng dân chủ đã ra đời. Nhiệm vụ
trung tâm ngay từ đầu mà Đảng đề ra cho tầng lớp sinh viên, trí thức là sát
cánh cùng các đoàn thể đánh đổ bọn phát xít Nhật, kẻ thù cụ thể và trước mắt
của toàn thể nhân dân. Chiến lược lúc đó của Đảng dân chủ là “tích cực lột
mặt nạ và đập tan các hạng Việt gian đầu hàng Nhật, đặc biệt là các nhóm
Đại Việt”. Có thể nói rằng những hoạt động đó của Đảng đã phá tan được ảnh

17
hưởng của bè lũ thân Nhật trong các tầng lớp nhân dân. Ngoài ra, các uỷ ban
tuyên truyền xung phong của Đảng đã hoạt động ráo riết ngay trước mắt bọn
thực dân Nhật-Pháp. Trong những ngày chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa, đảng
viên của Đảng có mặt khắp mọi nơi đặc biệt là ở các đô thị lớn, lôi cuốn sinh
viên, công chức và cả thương gia lên mặt trận đấu tranh cách mạng.
Có thể nói rằng thành tích căn bản dân chủ là “thành tích giác ngộ cách
mạng và cải tạo tư tưởng cho tầng lớp tiểu tư sản và trí thức”{37,1}. Đảng đã
vạch rõ rằng thái độ “trung lập, khách quan” của tầng lớp đó về chính trị là
một thái độ sai lầm. Trong lúc mà cuộc đấu tranh quân sự kế tục cuộc đấu
tranh chính trị đang diễn ra giữa nhân dân và quân thù nếu đứng ngoài rìa
cuộc vật lộn đó tức là vô tình làm lợi cho địch. Tầng lớp trí thức có hiểu biết
càng phải xuống đường đấu tranh để làm nhiệm vụ lịch sử của mìnhvv
Chính vì vậy, Đảng đã góp phần làm cho họ công nhiên và quả quyết bước

Cùng báo chí, hoạt động của hội truyền bá chữ quốc ngữ tiếp tục phát
triển. Nhiều lớp học đã được mở ở ngoại thành Hà Nội, Hà Đông và sau đó
được mở rộng ra các tỉnh khác như Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An thu
hút được đông đảo sinh viên trí thức tham gia. Chỉ tính riêng trong một tuần
“ở Hà Nội tháng 8-1941 đã có trên 200 trí thức ghi tên vào ban dạy học của
hội với 22 địa điểm học chỉ trong thành phố”{71,1}. Trong những năm 1942-
1943, hội đã tổ chức những cuộc nói chuyện về các danh y, các cuộc thi câu
đối nôm, diễn thuyết, trưng bày, soạn sách vở mở thư viện tại khu Tương
Mai (Hà Nội) để các hội viên cũng như học sinh có nơi tham khảo sách báo.
Năm 1944, hội truyền bá chữ quốc ngữ được thành lập ở cả Nam Kỳ, Ai Lao,
Cao Miên. Năm 1945 ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ đều có chi nhánh của hội. “Số học
viên thoát nạn mù chữ nhờ hoạt động của hội lên 5 vạn, nhiều nhất ở Hà Nội
là 3 vạn”{48,172}. Hàng nghìn người dân đã biết đọc, biết viết nhờ phong
trào này.
Có được kết quả đó ngoài đóng góp của nhân dân thì điều đáng kể là
công sức của hàng vạn chiến sỹ hội viên trong đó chủ yếu là lực lượng trí
thức, sinh viên. Điều đặc biệt là thông qua phong trào này: “Nhiều giáo viên

19
và thanh niên đã biết liên lạc với tổ chức thanh niên và cứu quốc trở thành
cán bộ của quần chúng, của mặt trận Việt Minh, hoạt động hội để tuyên
truyền cho Việt Minh”{78,111}.
Trào lưu văn hoá cách mạng thời kỳ này tiếp tục phát triển. Phần lớn trí
thức và các văn nghệ sỹ trong tác phẩm của mình đều nói lên cách sống cực
kỳ ngột ngạt dưới ách cai trị phát xít và tâm tư mong chờ, khao khát cách
mạng quần chúng nhân dân. Tiêu biểu thơ chủ tịch Hồ Chí Minh, Tố Hữu,
Sóng Hồng Trên con đường cách mạng, văn chương đã đến với họ như một
phương tiện, một vũ khí chiến đấu sắc bén, được sử dụng thường xuyên và rất
có hiệu qủa.
Về sáng tạc nhạc, nhóm “Đồng vọng”, nhóm “Tráng ca” ra đời được

đơn cách mạng”{4,44}.
Trong những năm 1941-1942 phong trào sinh viên ở Nam kỳ đã phát
triển mạnh. Tổng hội đã lập ra các ban vệ sinh và y học để giúp đồng bào
phòng bệnh chữa bệnh chống lại các hiện tượng mê tín, dị đoan được bà con
hưởng ứng nhiệt liệt. Ngoài ra, tổng hội cũng lập ra ban cố vấn về luật để giúp
đồng bào mỗi khi bị oan ức cần đấu tranh trong quan hệ giai cấp thống trị, do
luật sư Nguyễn Ngọc Minh cầm đầu.
Năm 1942-1943, việc giáo dục tinh thần yêu nước, rèn luyện phẩm chất
và thân thể cho sinh viên được chú trọng. Lần đầu tiên tại khu Đông Dương
học xá, tổng hội đã tổ chức trọng thể lễ giỗ tổ Hùng Vương. Các sinh viên quê
ở ba miền Bắc-Trung-Nam cùng nhau thắp hương trầm trở về với cội nguồn
dân tộc, giữ trọn khí phách giống nòi.
Ngoài ra, sinh viên trí thức ở còn cho tổ chức diễn kịch, những mẩu
kịch lịch sử nhắc lại một quãng đời của một bậc vĩ nhân cứu quốc, một bậc
chí sỹ công thần như “Đêm Lam Sơn”, “Hội nghị Diên Hồng” được tổ chức
ở giảng đường đại học ở Nam kỳ hoặc ở rạp Olimpia
1
, Hà Nội, thu hút sự
tham gia đông đảo tầng lớp nhân dân tham dự, đông nhất là thanh niên, sinh
viên và trí thức. Sinh viên Nam Kỳ còn tổ chức nhiều đêm dạ hội ở nhà hát 1
Ngày nay là nhà hát Hồng Hà

21
lớn Sài Gòn nhằm kêu gọi mọi người phải noi gương Hai Bà Trưng đứng lên
khởi nghĩa trả thù nhà, đền nợ nước. Phong trào biểu diễn văn nghệ và tuyên
truyền kiến thức khoa học được sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng
nhân rộng ra toàn Nam kỳ và Trung kỳ.

Tại Hà Nội, trí thức sinh viên tham gia vào các đội tuyên truyền xung
phong, đội danh dự trấn áp bọn mật thám, chỉ điểm ác ôn ngay trong thành
phố như giết chết tên Cai Long, Phó Nhu làm hả dạ đồng bào. Nhiều cuộc
mít tinh lớn đã diễn ra ở khắp thành phố, ở cả những tỉnh lân cận như Bắc
Ninh, Hà Đông Trí thức còn công khai lên diễn đàn diễn thuyết, rải truyền
đơn làm cho kẻ địch lo sợ.
Để mua chuộc nhân sĩ trí thức Nam Kỳ và tập hợp thanh niên làm lực
lượng đề phòng sự tấn công của thực dân Pháp, Nhật đã đề nghị bác sỹ Phạm
Ngọc Thạch đứng ra tập hợp tổ chức lực lượng thanh niên Nam Kỳ. Nhân cơ
hội này, xứ uỷ Nam Kỳ tương kế tựu kế quyết định tập hợp lực lượng thanh
niên yêu nước làm lực lượng xung kích để tổng khởi nghĩa. Vì vậy mà một tổ
chức có tên gọi là “Thanh niên Tiền Phong” đã ra đời. Những người đứng
đầu có tên tuổi như bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Thái Văn Lung Vì vậy
“chỉ trong ba tháng sau ngày phát động ở các tỉnh thành Nam Kỳ, lực lượng
thanh niên trí thức trong tổ chức đã phát triển nhanh chóng, riêng ở Sài Gòn
đã có 20 vạn thành viên”{78,231-232}.
Như vậy cho đến lúc này, hầu hết các lực lượng thanh niên sinh viên trí
thức để tham gia vào các tổ chức cứu quốc. Họ trở thành một lực lượng chính
trị lấn át chính quyền Nhật. Họ còn liên tiếp tổ chức những cuộc hội họp, biểu
tình, mít tinh, lễ tuyên thệ ở khắp nơi, đồng thời còn tiến hành nhiều điểm cứu
tế góp phần giải quyết nạn đói ở miền Bắc, tiến hành đi bắt bọn Pháp nhảy dù
và lấy súng đạn của Pháp.
Ngày 14-8-1945 phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện.
Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sau 6 năm ráo riết chuẩn bị, đã
nhanh chóng chuyển từ tiền khởi nghĩa sang tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước. Thời cơ giành chính quyền đã tới. Trí thức lúc này tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status