LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG BAN CHÍNH TRỊ TRUNG đoàn QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM TRONG THỜI kỳ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP KINH NGHIỆM và sự vận DỤNG - Pdf 40

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban chính trị trung đoàn

BCTTĐ

Chính trị quốc gia

CTQG

Chính ủy, chính trị viên

CU,CTV

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công tác chính trị

CTCT

Công tác đảng, công tác chính trị

CTĐ,CTCT

Cơ quan chính trị


Xã hội chủ nghĩa

XHCN


MỤC LỤC
Trang
3

MỞ ĐẦU

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TIỄN LỊCH SỬ XÂY DỰNG
BAN CHÍNH TRỊ TRUNG ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN

1.1

CHỐNG PHÁP
Ban chính trị trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt

11

Nam và một số vấn đề về thực tiễn lịch sử xây dựng ban
1.2

chính trị trung đoàn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Thành tựu và kinh nghiệm xây dựng ban chính trị trung


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

54
86
88
92

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ban chính trị trung đoàn trong QĐND Việt Nam là một bộ phận trong
cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ở cấp trung đoàn; là cơ quan đảm

2


nhiệm CTĐ,CTCT, trực tiếp tham mưu cho đảng ủy, chính ủy và chỉ huy
trung đoàn lãnh đạo, chỉ đạo CTĐ,CTCT ở trung đoàn, xây dựng trung đoàn
vững mạnh về chính trị. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy trung đoàn,
BCTTĐ là cơ quan hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong trung đoàn
tiến hành CTĐ,CTCT thực hiện sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với nhiệm vụ
chính trị trung tâm, xây dựng đảng bộ trung đoàn TSVM, trung đoàn VMTD
nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm hoàn thành mọi
nhiệm vụ được giao. Do đó, xây dựng BCTTĐ vững mạnh luôn là đòi hỏi
khách quan xuất phát từ yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị và tiến hành
CTĐ,CTCT ở trung đoàn trong mọi thời kỳ.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954),
mặc dù trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chăm lo lãnh đạo xây dựng Quân đội phát triển nhanh chóng về tổ
chức biên chế, trang bị, quy mô và trình độ tác chiến. Cùng với sự phát triển

các cấp là cơ quan đảm nhiệm CTĐ,CTCT. Thực tiễn nhiệm vụ CTĐ,CTCT
và yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị hiện nay đòi hỏi cần phải nghiên
cứu kinh nghiệm xây dựng cơ quan chính trị trong Quân đội qua các thời kỳ
lịch sử, đặc biệt là xây dựng BCTTĐ thời kỳ kháng chiến chống pháp (1945 1954), để vận dụng vào xây dựng BCTTĐ trong tình hình mới. Vì vậy, nghiên
cứu Xây dựng Ban Chính trị trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt
Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp – Kinh nghiệm và sự vận dụng là
vấn đề có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu xây
dựng BCTTĐ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Xây dựng CQCT trong QĐND Việt Nam nói chung, BCTTĐ nói riêng
đã có những công trình khoa học, bài viết của cán bộ lãnh đạo, nhà khoa học
trong và ngoài quân đội nghiên cứu; tiêu biểu có các công trình:
4


* Nhóm các công trình tổng kết lịch sử
Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến
tranh Cách mạng Việt Nam 1945 -1975: thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà
Nội; Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2009), Lịch sử Đảng bộ Quân
đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Nxb QĐND, Hà Nội; Đảng ủy,
Bộ tư lệnh Quân khu 1 (2003), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực
lượng vũ trang Quân khu 1 (Việt Bắc) 1945 - 2000, Nxb QĐND, Hà Nội;
Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 2 (2004), Lịch sử công tác đảng, công tác
chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 2, tập 1 Thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb QĐND, Hà Nội; Đảng ủy, Bộ tư lệnh
Quân khu 3 (2005), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ
trang Quân khu 3 (1945 - 2000), Nxb QĐND, Hà Nội; Đảng ủy - Bộ tư lệnh
Quân khu 4 (2005), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ
trang Quân khu 4 (1945 - 2000), Nxb QĐND, Hà Nội; Đảng ủy - Bộ tư lệnh
Quân khu 5 (2005), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng

(1945 - 2010), Nxb QĐND, Hà Nội; Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 (2006), Lịch sử
Cục Chính trị Quân Khu 2 (1946 - 2006), Nxb QĐND, Hà Nội; Quân đội
nhân dân Việt Nam (2007), Công tác đảng, công tác chính trị trong cơ quan
Tổng cục Chính trị (Biên niên sự kiện và tư liệu), (1946-2000), Nxb QĐND,
Hà Nội; Quân đội nhân dân Việt Nam (1997), Tổng cục Chính trị - quá trình
hình thành tổ chức và chỉ đạo công tác đảng - công tác chính trị trong Quân
đội (Biên niên sự kiện và tư liệu), tập 1 (1944 - 1954), Nxb QĐND, Hà Nội;
Quân đội nhân dân Việt Nam (2004), Lịch sử Tổng cục Chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội; Tổng cục
Chính trị (2006), Cục Tổ chức và Công tác tổ chức xây dựng đảng trong
Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện lịch sử), (1946 - 2006), Nxb
QĐND, Hà Nội; Tổng cục Chính trị (2006), Lịch sử Công tác tư tưởng - văn
hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2005), Nxb QĐND, Hà Nội;

6


Tổng cục Chính trị (2006), Lịch sử Cục Chính trị - Tổng cục Chính trị (1944
- 2005), Nxb QĐND, Hà Nội.
Các công trình trên đã nghiên cứu khá rõ về lịch sử quá trình xây dựng
CQCT ở từng loại hình cơ quan, đơn vị nhưng cũng chưa có công trình nào
phân tích xây dựng BCTTĐ theo hệ thống chung nhất ở cấp trung đoàn trong
thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
* Nhóm các đề tài, luận án, luận văn:
Đề tài khoa học cấp bộ: Học viện Chính trị quân sự (2006), “Tổng kết
kinh nghiệm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp” do Dương Quốc Dũng chủ biên; Nguyễn
Hoàng Nhiên (2006), “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Quân đội
nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược (1945–1954”), Luận án tiến sỹ lịch sử, Học viện Chính trị quân sự.

169; Phùng Quang Thanh (2007), “Thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với
chế độ chính ủy, chính trị viên là nhân tố cơ bản nâng cao hiệu lực của người chỉ
huy trong Quân đội nhân dân Việt Nam”,….Các công trình kể trên đã đưa ra
nhiều tư liệu lịch sử quan trọng, nhận định đánh giá khách quan sâu sắc về đặc
điểm tình hình, nhiệm vụ cách mạng, yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, luận
giải quan điểm, chủ trương của Đảng, tổ chức sự lãnh đạo phát triển lực lượng vũ
trang cách mạng qua các giai đoạn. Đề cập yêu cầu quán triệt thực hiện chế độ
chính ủy, chính trị viên theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ đề cập và làm rõ một số khía cạnh khác
nhau theo phạm vi nghiên cứu, quán triệt vận dụng, mà chưa đi sâu luận giải có hệ
thống về quá trình xây dựng CQCT nói chung và BCTTĐ nói riêng trong QĐND
Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, vấn đề này cần phải được đi
sâu nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; rút ra những kinh nghiệm có giá trị
chỉ đạo thực tiễn xây dựng BCTTĐ vững mạnh hiện nay và không trùng lắp với
các công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

8


Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn lịch sử, rút ra kinh nghiệm xây dựng
BCTTĐ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đề xuất giải pháp vận dụng kinh
nghiệm vào xây dựng BCTTĐ trong QĐND Việt Nam.

* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm vững và hiểu rõ thực tiễn lịch sử xây dựng BCTTĐ trong QĐND
Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn lịch sử xây dựng BCTTĐ, rút ra một

sử; tổng kết CTĐ,CTCT; tổng kết xây dựng CQCT các cấp trong Quân đội
thời kỳ 1945 - 1954; các tư liệu, sự kiện lịch sử.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành, chuyên ngành khoa học xã
hội và nhân văn, khoa học lịch sử; trọng tâm là: nghiên cứu khảo cứu tài liệu
tổng kết; phân tích - tổng hợp; lôgíc - lịch sử, khái quát thực tiễn làm sáng tỏ
các vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần cung cấp kinh nghiệm
thực tiễn xây dựng BCTTĐ trong QĐND Việt Nam thời kỳ kháng chiến
chống Pháp cho các cấp ủy, cán bộ chủ trì, CQCT vận dụng xây dựng
BCTTĐ trong Quân đội.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy
Bộ môn Lịch sử CTĐ, CTCT trong các nhà trường Quân đội hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Bao gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TIỄN LỊCH SỬ XÂY DỰNG BAN CHÍNH
10


TRỊ TRUNG ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
1.1. Ban chính trị trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam
và một số vấn đề về thực tiễn lịch sử xây dựng ban chính trị trung đoàn
trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
1.1.1. Ban chính trị trung đoàn và những nội dung cơ bản xây dựng
ban chính trị trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam

điều lệnh, điều lệ và các quy định của Quân đội.
Chức năng của ban chính trị trung đoàn
Ban chính trị trung đoàn là cơ quan chính trị ở đơn vị cơ sở, có chức
năng: đảm nhiệm CTĐ,CTCT; hoạt động dưới sự chỉ đạo của chính ủy cấp
trên trực tiếp, sự lãnh đạo của đảng ủy trung đoàn và sự chỉ đạo trực tiếp của
chính ủy, sự quản lý, điều hành của chỉ huy đơn vị cơ sở trong các hoạt động
của đơn vị; tham mưu đề xuất với chính ủy và đảng ủy trung đoàn nội dung,
biện pháp về CTĐ,CTCT; xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch CTĐ,CTCT
ở trung đoàn và hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trong thực hiện kế
hoạch CTĐ,CTCT ở trung đoàn [30, tr.257-258].
Nhiệm vụ của ban chính trị trung đoàn.
Nhiệm vụ cơ bản của BCTTĐ là tiến hành CTĐ,CTCT trong trung
đoàn nhằm xây dựng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân viên chức
quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn giữ vững bản chất giai cấp
công nhân, truyền thống vẻ vang của dân tộc của Đảng, của Đảng, của Quân
đội và đơn vị; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, có niềm tin vững chắc
vào con đường XHCN, nhất trí cao và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thường xuyên nâng cao
cảnh giác chống mọi âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch; củng cố
đoàn kết nội bộ vững chắc, quan hệ mật thiết với nhân dân nơi đóng quân và
địa bàn hoạt động; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng
12


tổ chức đảng ở đơn vị cơ sở TSVM, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến
đấu cao; xây dựng đơn vị cơ sở VMTD, góp phần xây dựng quân đội cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại [30, tr.259].
Chế độ công tác của ban chính trị trung đoàn
Chế độ công tác là một nội dung quan trọng về xây dựng BCTTĐ trong
QĐND Việt Nam. Quá trình xây dựng cơ quan chính trị trong Quân đội, chế

lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong từng thời kỳ.
Hai là, xác lập tổ chức, biên chế phù hợp, thường xuyên bổ sung hoàn
thiện và thực hiện tổ chức biên chế của BCTTĐ đúng các quy định của Đảng,
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn.
Ba là, xác lập chế độ công tác khoa học, thường xuyên bổ sung, hoàn
thiện và thực hiện đúng các chế độ công tác của BCTTĐ theo quy định của
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Điều lệnh Quản
lý bộ đội.
Bốn là, xác định chức danh, chức vụ, tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ,
nhân viên BCTTĐ theo đúng quan điểm, chủ trương, nguyên tắc của Đảng,
quy định của Quân đội; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng
lực, phong cách công tác của cán bộ, nhân viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Năm là, xây dựng và tăng cường bổ sung cơ sở vật chất, phương tiện
làm việc của cán bộ, nhân viên BCTTĐ, phương tiện bảo đảm cho các hoạt
động CTĐ,CTCT của BCTTĐ.
1.1.2. Một số vấn đề về thực tiễn lịch sử xây dựng ban chính trị trung
đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
* Đặc điểm tình hình cuộc kháng chiến chống Pháp
Thứ nhất, là thời kỳ lịch sử đặc biệt, đầy khó khăn, thử thách.
Đây là thời kỳ đánh dấu cục diện thế giới đã có sự thay đổi lớn: cuộc
chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, phát xít Đức - Ý - Nhật đầu hàng,
một loạt nước xã hội chủ nghĩa ra đời; phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế phát triển mạnh mẽ, các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành
độc lập dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ - Latinh. Trong nước, từ tháng
14


12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của
Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập, làm nòng cốt trong công tác

chiến; phát động cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ,
dựa vào sức mình là chính.
Thời kỳ này, quan điểm của Đảng về CTCT và xây dựng bộ máy
CQCT trong lực lượng vũ trang dần được hình thành, thể hiện rõ nét nhất ở
nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (tháng 4 năm 1945). Nghị
quyết xác định: “phải lựa chọn đội viên để huấn luyện chính trị, quân sự
thống nhất; kiến lập công tác chính trị trong bộ đội” [9, tr.79]. Về công tác tổ
chức, nghị quyết cũng xác định rõ vấn đề lập ra các cơ quan: bộ tham mưu, bộ
chính trị (cơ quan chính trị)…
Thứ ba, lực lượng vũ trang phát triển nhanh chóng về mọi mặt.
Theo Sắc lệnh số 71/SL của Hồ Chủ tịch, Giải phóng quân Việt
Nam đổi tên thành Vệ quốc đoàn và tháng 5 năm 1946 Vệ quốc đoàn
đổi tên thành Quân đội quốc gia Việt Nam và năm 1950 đổi thành
Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đây, lực lượng quân đội phát triển
rất nhanh chóng từ đại đội lên cấp tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn. Từ
1949 - 1952 ta đã thành lập 6 đại đoàn bộ binh: 308 (1949), 304, 312
(1950), 325, 316 (1951), 320 (1952) và một đại đoàn pháo hỗn hợp
351 (1951). Được Đảng lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện trong kháng
chiến gian khổ, quân đội ta ngày càng lớn mạnh, có khí thế chiến
thắng, có ý thức giác ngộ dân tộc và chống đế quốc rất cao. Quân đội
ta, từ những đơn vị nhỏ, phân tán, dần tập trung thành những đơn vị
chủ lực lớn, thành lập các đại đoàn, tăng cường vũ khí trang bị, nâng
cao chất lượng huấn luyện, mở những chiến dịch liên tiếp với quy mô
ngày càng lớn, chiến đấu ngày càng liên tục, khẩn trương ác liệt. Hoạt
động tác chiến của quân đội chuyển từ đánh du kích, đánh nhỏ sang
đánh vừa và lớn, chủ động mở nhiều chiến dịch lớn, trong đó có chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954.

16


17


đội về quy mô tổ chức, nhiệm vụ, điều kiện hoạt động và gắn liền với hệ
thống tổ chức lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, mà theo đó CQCT ở từng
cấp được thành lập giúp tổ chức đảng tiến hành CTĐ,CTCT ở đơn vị.
Giai đoạn 1945 - 1947
Trong điều kiện vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, quân đội ta
bước đầu có sự phát triển về tổ chức và lực lượng, trang bị vũ khí được cải
thiện. Tuy vậy, lực lượng quân sự còn mỏng, vũ khí và trang bị vừa thiếu, vừa
thô sơ lại phải đối đầu toàn diện với thực dân Pháp trên phạm vi cả nước, nhất
là lần đầu tiên phải đối phó với cuộc tiến công quân sự với hơn một vạn quân
viễn chinh nhà nghề của Pháp có vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh hiện
đại. Cán bộ, chiến sĩ quân đội có tinh thần yêu nước cao độ, không quản ngại
khó khăn, gian khổ, SSCĐ hy sinh vì độc lập dân tộc, nhưng trình độ giác ngộ
chính trị còn nhiều hạn chế.
Nhiệm vụ của CTCT và CQCT trong quân đội những năm 1945, 1946
được xác định là: tập trung vào xây dựng mục tiêu, lý tưởng và quyết tâm
chiến đấu; xây dựng mô hình tổ chức cơ quan, đồng thời, tiến hành xây dựng
đội ngũ cán bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội thấy rõ tình thế “ngàn
cân treo sợi tóc” của cách mạng nước ta, từ đó mài sắc quyết tâm chiến đấu
hy sinh vì Tổ quốc. Bằng nhiều biện pháp, hình thức phù hợp, hoạt động giáo
dục chính trị, tư tưởng đã làm cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao hơn trình độ giác
ngộ chính trị, xây dựng lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, có bản lĩnh vững
vàng, vượt qua mọi khó khăn ban đầu để hoàn thành nhiệm vụ.
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến có muôn vàn khó khăn, nhưng lực
lượng của quân đội ta bước đầu được phát triển mở rộng và tăng cường: tổ
chức phát triển, trang bị vũ khí được cải thiện, song vẫn còn gặp rất nhiều khó
khăn về lực lượng, vũ khí và trang bị quân sự (chủ yếu là vũ khí bộ binh thô
sơ). Trong tình hình đó, CTCT trong quân đội tập trung vào xây dựng niềm

trung đoàn uỷ. Về mặt nhà nước, ngày 30 tháng 11 năm 1946, Hồ Chủ tịch
19


ký sắc lệnh số 230/SL “Thống nhất Quân sự uỷ viên hội và Bộ Quốc phòng
thành Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân Việt
Nam”. CQCT cấp toàn quân thống nhất tên gọi là Cục Chính trị Bộ Quốc
phòng - Bộ Tổng chỉ huy, đảm nhiệm việc chỉ đạo tổ chức hoạt động CTCT
trong quân đội. Sự ra đời của Cục Chính trị Bộ Quốc phòng đánh dấu sự phát
triển về tổ chức của CQCT nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.
Để CTCT trong toàn quân hoạt động có hiệu lực và đạt hiệu quả cao
hơn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc kháng chiến gay go, quyết liệt, từ ngày 12 đến
ngày 16 tháng 1 năm 1947, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương và Bí
thư Trung ương Quân uỷ - Tổng chỉ huy triệu tập và chủ trì Hội nghị quân sự
toàn quốc họp tại Chúc Sơn (Chương Mỹ - Hà Đông) đã quyết nghị: phải sửa
chữa những khuyết điểm trong công tác cán bộ. Phải chỉnh đốn CTCT; Cục
Chính trị và các khu phải phát hành tờ báo riêng phản ánh về quân sự, về sinh
hoạt của bộ đội và nêu gương chiến đấu. Xây dựng tủ sách Vệ quốc đoàn,
mua báo Cứu quốc cho bộ đội học tập. Các chính trị viên từ trung đoàn trở lên
duy trì hội nghị trao đổi kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động công tác ít nhất mỗi
tháng một lần. Sau đó một tháng, Trung ương Quân uỷ tổ chức Hội nghị
Chính trị viên toàn quân lần thứ nhất; thảo luận những vấn đề quan trọng về
nhiệm vụ và nguyên tắc CTCT trong Quân đội; kiến nghị với Trung ương cần
kiến lập chế độ CTCT trong toàn quân. Hội nghị đề ra 12 điều kỷ luật và 10
nhiệm vụ của CTCT. Ngay sau Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ
nhất, Trung ương Quân uỷ họp mở rộng, Hội nghị đã xác định rõ: Một việc
tối quan trọng cần phải làm ngay là việc tổ chức các cơ quan CTCT, không
có một tổ chức hợp lý và đủ người để phụ trách công vệc thì kế hoạch hoàn
hảo đến đâu cũng là một kế hoạch trên giấy. Việc tổ chức các cơ quan CTCT
cần phải giải quyết cấp tốc. Bộ máy CQCT, cán bộ chính trị trong trung

Giai đoạn 1948 - 1950
Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947 đánh dấu thất bại của địch
trong chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”, thực dân Pháp phải chuyển sang
21


chiến lược “đánh kéo dài”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng tăng
cường thực hiện chính sách vơ vét sức người, sức của, triệt để thực hiện chủ
tưởng “dùng người Việt đánh người Việt”; chuyển từ mở rộng vùng chiếm
đóng theo kiểu “vết dầu loang” sang bình định vùng đã chiếm bằng việc xây
dựng và sử dụng cứ điểm nhỏ, đội ứng chiến nhỏ, tăng lực lượng ngụy quân,
xây dựng chính quyền bù nhìn.
Về phía ta, cuộc kháng chiến phát triển khá thuận lợi cả về thế và lực,
quân ta chuyển từ phòng ngự sang giai đoạn cầm cự; quân đội càng đánh càng
mạnh càng vững vàng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Công tác xây dựng
và tác chiến của các đơn vị có bước phát triển mới. Trung ương Đảng chủ
trương thực hiện chiến lược “biến hậu phương địch thành tiền phương của ta”,
với phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”, biện
pháp là “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Giai đoạn này nhiều trung đoàn
đã được sáp nhập về đội hình các đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội.
Trước sự phát triển của tình hình, việc lãnh đạo quân đội thông qua 2 hệ
thống tổ chức đảng và chế độ “song quyền” giữa người chỉ huy và chính trị
viên không còn phù hợp; cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội có sự
thay đổi. Tháng 3 năm 1948, Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ 2 đề
nghị thiết lập chế độ chính trị uỷ viên từ cấp trung đoàn trở lên và chính trị
viên từ cấp tiểu đoàn trở xuống.
Ngày 20 tháng 10 năm 1948, Ban Thường vụ Trung ương ra nghị quyết
về “Tổ chức và hệ thống Đảng trong quân đội”. Nghị quyết xác định: “Bỏ hệ
thống tổ chức cấp uỷ trong quân đội (Trung ương quân uỷ, Quân khu uỷ,
Trung đoàn uỷ, Tiểu đoàn uỷ); lập chế độ chính trị uỷ viên đại diện Đảng phụ

Đến cuối năm 1948, chế độ chính uỷ tối hậu quyết định được thực hiện.
Hoạt động công tác đảng và CTCT trong các đơn vị được tiến hành toàn diện
trên các mặt, nhưng nhìn chung nội dung còn hạn chế, chưa sát bộ đội, chưa
sát yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, thiếu sinh động. CQCT các cấp đã được kiện
toàn song hoạt động còn nặng về hình thức, hiệu quả thấp. Để củng cố nâng
23


cao hiệu lực của công tác đảng và CTCT, cuối năm 1949, Tổng chính uỷ tổ
chức Hội nghị trưởng ban chính trị, chính uỷ toàn quân. Hội nghị đã kiến nghị
với Ban Chấp hành Trung ương Đảng những biện pháp hợp lý hoá chế độ
chính uỷ, thống nhất nhận thức về công tác đảng và CTCT, kiện toàn hệ thống
CQCT. Hội nghị thống nhất quan điểm về công tác đảng và CTCT phải kết
hợp chặt chẽ với nhau, cơ quan đảng vụ phải ở trong cơ quan CTCT. Hoạt
động CTCT tiến hành thống nhất từ trên xuống dưới trong toàn quân và
CQCT thiết lập thành hệ thống dọc từ cơ sở đến toàn quân song song với hệ
thống chỉ huy.
Tháng 7 năm 1950, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 121-SL quyết định
thành lập Tổng cục Chính trị Bộ Tổng tư lệnh quân đội Quốc gia Việt Nam.
Theo sắc lệnh đó, “Tổng cục Chính trị có nhiệm vụ giúp Tổng tư lệnh chỉ đạo
quân đội về phương diện chính trị”. Tổng cục Chính trị gồm có: Cục Tổ chức;
Cục Tuyên huấn; Cục địch vận; Cục quân pháp; Nhà xuất bản Vệ quốc quân.
Hệ thống CQCT cũng được kiện toàn: cấp quân khu có cục chính trị, cấp đại
đoàn có phòng chính trị, cấp trung đoàn có ban chính trị, cấp tiểu đoàn có các
nhân viên chính trị, cấp đại đội có ban CTCT. Cơ quan chính trị giúp chính uỷ
tiến hành CTCT trong đơn vị.
Như vậy, trong giai đoạn 1948 - 1950, việc xây dựng cơ quan chính trị
trong quân đội được tiến hành sâu rộng cả về công tác tư tưởng và công tác tổ
chức. CTCT trong quân đội tập trung vào nhiệm vụ giáo dục củng cố niềm tin
vào thắng lợi của kháng chiến, lòng trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân,

năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương ra nghị quyết 07/NQ-TƯ “Về tổ chức
Đảng trong bộ đội chủ lực”. Nghị quyết chỉ rõ: Hiện nay cơ sở đảng trong
quân đội đã khá lớn mạnh; theo đà của chiến tranh, quân đội ta đã tập trung
thành nhiều đại đoàn; nhiệm vụ tác chiến ngày càng nặng, quy mô tác chiến
ngày càng rộng lớn. Những điều ấy đòi hỏi một tập thể lãnh đạo mạnh mẽ,
chắc chắn để làm tròn nhiệm vụ. Do đó, chế độ chính uỷ tối hậu quyết định

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status