ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
PHẠM THỊ HƯƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH
DU KÍCH TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1946-1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
PHẠM THỊ HƯƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH
DU KÍCH TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1946-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Tang Bồng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ...................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 5
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu. .............................. 6
6. Đóng góp của Luận văn .................................................................................. 6
7. Bố cục của luận văn ........................................................................................ 7
CHƯƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH THỜI KỲ ĐẤU KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950) ......................................... 8
1.1. Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và truyền thống yêu nước
cách mạng của nhân dân Thái Bình .................................................................... 8
1.1.1 Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội...................................... 8
1.1.2 Truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân Thái Bình .................... 15
1.2. Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo tổ chức xây dựng phong trào chiến tranh du
kích, góp phần cùng quân dân Liên khu ngăn chặn âm mưu mở rộng phạm vi
chiếm đóng của thực dân Pháp (1946 - 2/1950). ............................................... 21
1.2.1 Khái niệm về chiến tranh du kích, khu du kích, căn cứ du kích, làng kháng
chiến. ................................................................................................................ 21
1.2.2 Đảng bộ lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức phát động phong
trào du kích chiến tranh ................................................................................... 22
1.2.3 Đảng bộ lãnh đạo quân dân địa phương xây dựng, bảo vệ vùng tự do, cùng
quân dân Liên khu chiến đấu ngăn chặn âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng
của thực dân Pháp............................................................................................ 29
Tiểu kết chương 1............................................................................................. 36
CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH DU
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 108
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 115
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Bình là một địa
bàn chiến lược có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Đây là nơi đứng chân của
nhiều cơ quan Đảng, chính quyền, đơn vị vũ trang của Liên khu và của Hải
Phòng, Kiến An trong những ngày đầu kháng chiến. Đây cũng là nơi các hoạt
động đấu tranh của quân dân ta phá các âm mưu, thủ đoạn, thâm độc, xảo
quyệt “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
của địch diễn ra hết sức quyết liệt và gay gắt.
Nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm, nhân thức rõ tầm quan trọng của
địa bàn đối với cuộc kháng chiến của địa phương cũng như với Liên khu 3,
với toàn quốc, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và của Liên khu ủy, Bộ tư lệnh Liên khu III, Đảng bộ tỉnh Thái
Bình đã sớm tổ chức, phát động cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp, xây
dựng các làng kháng chiến, các căn cứ du kích, khu du kích liên thôn, liên xã,
liên huyện, liên tỉnh, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta, biến
hậu phương địch thành hậu phương của ta, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực
địch đồng thời ra sức đóng góp sức người, sức của góp phần cùng quân dân cả
nước đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi.
Nghiên cứu tìm hiểu quá trình lãnh Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây
dựng và tổ chức phát động chiến tranh du kích, kết hợp giữa đấu tranh quân sự
với đấu tranh chính trị, xây dựng và tổ chức hậu phương, kết hợp tiến công trên
chiến trường chính và tiến công ở vùng sau lưng địch, rút ra một số kinh
nghiệm tổ chức tiến hành chiến tranh du kích ở một tỉnh đồng bằng, nằm sâu
trong vùng địch tạm chiếm, khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến đúng
đắn sáng tạo của Đảng bộ Thái Bình là việc hết sức cần thiết nhằm góp phần
Bộ Tư lệnh Quân khu III; “ Lịch sử kháng chiến chống Pháp khu Tả ngạn
2
sông Hồng (1945 -1955)” ( Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) của Hội
đồng chỉ đạo biên soạn công trình lịch sử kháng chiến chống Pháp khu Tả
Ngạn sông Hồng; “Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc
Bộ (1946-1954)” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) của Vũ Quang
Hiển; v.v
2.2 Nhóm công trình do địa phương biên soạn :
Công trình Sơ thảo “Tổng kết lịch sử du kích chiến tranh Thái Bình”
(Tỉnh đội Thái Bình xuất bản, 1961). Cuốn sách không chỉ đưa ra những điểm
tương đồng và khác biệt về chiến tranh du kích của tỉnh Thái Bình với tỉnh
khác mà còn đưa ra những nhận định đánh giá về những ưu điểm và hạn chế
và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để quân và dân Thái Bình tiếp
tục góp sức mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
Công trình “ Những sự kiện lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình 1945-1954” do
Ban tuyên giáo tỉnh ủy Thái Bình xuất bản năm 1989. Cuốn sách đã trình bày
khá đầy đủ những sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh trong thời kỳ này. Đặc
biệt là những sự kiện về chiến tranh du kích, các đại hội Đảng bộ tỉnh, giúp
cho người đọc dễ dàng nắm được các mốc thời gian diễn ra các sự kiện của
Đảng bộ trong giai đoạn 1930 – 1945.
Cuốn sách “Nhân dân Tán Thuật đánh giặc giữ làng” của Kịch Lịch
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1963) đã phần nào dựng lại quá
khứ hào hùng của quân và dân Tán Thuật. Với lối đánh du kích sáng tạo, linh
hoạt, quân và dân Tán Thuật đã lập lên nhiều chiến công góp phần vào thắng
lợi chung của chiến tranh du kích ở Thái Bình.
Công trình “Thái Bình đánh giặc” (Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Thái
Bình, 1975). Từ nguồn tư liệu của các nhân chứng lịch sử, tác phẩm đã giúp
của Đảng bộ còn chưa đầy đủ.
Tuy nhiên, tất cả các công trình kể trên đều rất bổ ích, không chỉ cung
cấp tư liệu mà còn giúp định hướng, gợi mở cho học viên nhiều vấn đề trong
quá trình thực hiện luận văn.
4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ Thái Bình
trong việc phát động, tổ chức lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích ở địa
phương và những đóng góp xứng đáng của Đảng bộ, quân dân Thái Bình
trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ; rút ra một
số bài học kinh nghiệm cần vận dụng trong quá trình xây dựng thế trận chiến
tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng Thái Bình
thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp, hệ thống những nghị quyết, chỉ thị, văn kiện phản ánh các chủ
trương của Trung ương Đảng, Liên khu ủy III và đảng bộ tỉnh Thái Bình trong
trong quá trình lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích thời kỳ 1945-1954.
- Góp phần khẳng định vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Thái Bình
và những đóng góp to lớn, xứng đáng của chiến tranh du kích tỉnh Thái Bình
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Cố gắng phản ánh những sáng tạo của Đảng bộ Thái Bình trong quá
trình tổ chức, chỉ đạo,lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích, từ đó rút ra
một số kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích trên địa bàn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
kết của trung ương và địa phương đã xuất bản. Các báo cáo của các cơ quan
quân sự tỉnh Thái Bình thời kỳ kháng chiến chống Pháp; Hồi ký của các lão
thành cách mạng…
6. Đóng góp của Luận văn
- Thông qua việc trình bày các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh
Thái Bình, luận văn làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong tổ chức, chỉ
đạo phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn từ 1946 đến 1954.
6
- Góp phần phản ánh rõ hơn, toàn diện hơn cuộc kháng chiến của Đảng
bộ quân dân Thái Bình, làm nổi bật vị trí đặc biệt quan trọng của phong trào
chiến tranh du kích trên địa bàn.
- Góp thêm nguồn sử liệu phục vụ công tác nghiên cứu về lịch sử cuộc
kháng chiến chống Pháp tỉnh Thái Bình.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng phong trào chiến
tranh du kích thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1950).
Chương 2: Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích từng bước đánh
bại mọi âm mưu thủ đoạn càn quét, khủng bố, bình định của địch, giải phóng quê
hương (2/1950 –7/1954)
Chương 3. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm.
7
CHƯƠNG 1
tỉnh Thái Bình có 2 phủ gồm 10 huyện, 79 tổng, 548 xã. Đến năm 1926 Thái
bình có 12 phủ huyện gồm 95 tổng, 814 xã và 1 thị xã. Từ sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng tổ chức lại cấp xã. Xã mới
thường gồm một số xã cũ (hoặc một số làng) hoặc là một tổng cũ. Trong
kháng chiến chống Pháp, Thái Bình có 1 thị xã và 12 huyện ( Vũ Tiên, Thư
Trì, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Ninh, Thụy Anh, Đông Quan, Quỳnh Côi,
Phụ Dực, Duyên Hà, Hưng Nhân, Tiên Hưng) và 162 xã. [77. Tr.145-156].
Hiện nay, Thái Bình có 1 thành phố và 7 huyện ( Vũ Thư, Kiến Xương,
Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy) với 7 thị trấn và 286
xã, phường. So với các tỉnh đồng bằng Tả Ngạn sông Hồng, Thái Bình có
diện tích tự nhiên tương đối rộng. Sông Hồng đoạn chảy qua Thái Bình dài
80km qua các huyện Hưng Nhân, Thư Trì , Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải
rồi đổ ra biển theo cửa Ba Lạt chỗ rộng nhất lên tới 1000m, có nhiều đoạn
quanh co gấp khúc bên lở bên bồi, sâu từ 15 đến 30m.. Trong kháng chiến,
sông Hồng là tuyến giao thông đường thủy chiến lược đối với việc vận
chuyển lương thực, quân số, vũ khí của địch từ ngoài biển vào Nam Định, Hà
Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Phía Tây Bắc là sông Luộc (phân lưu của
sông Hồng) bắt nguồn từ Hà Xá (Hưng Nhân) chảy qua huyện Hưng Nhân,
Quỳnh Côi, Phụ Dực, Vĩnh Bảo (Hải Phòng) dài 40km, chỗ rộng nhất 150m,
hẹp nhất 70m. Sông Luộc cũng là con đường thủy vô cùng quan trọng. Phía
Đông Bắc là sông Hóa dài 60km, bắt nguồn từ Lộng Khê ( Phụ Dực) chạy
theo ven huyện Thụy Anh, Phụ Dực ra biển, quãng rộng nhất là 150m, hẹp
nhất 70m. Cả ba con sông này địch đều thiết lập một hệ thống đồn bốt để bảo
vệ, gây cho ta nhiều trong bảo quản giao thông liên lạc và tác chiến. Bờ biển
Thái Bình dài 54km, có các cửa sông lớn như: cửa Ba Lạt, cửa sông Trà Lý,
cửa sông Thái Bình và cửa Lân.[76,tr.8]
Ngoài ba con sông lớn bao quanh, nội đia Thái Bình còn có 4 con sông
tương đối lớn khác là: Trà Lý, Diêm Hộ, Kiến Giang, Sa Lung. Thái Bình là
10
Trong chiến tranh đây là địa bàn địch có khả năng phát huy ưu thế về
phương tiện và vũ khí hiện đại. Thực tế đó đòi hỏi quân dân Thái Bình phải
biết lợi dụng và cải biến địa hình địa vật để tổ chức xây dựng thế trận chiến
tranh nhân dân, phát động chiến tranh du kích để duy trì và phát triển lực
lượng, chủ động đánh địch với những hình thức thích hợp.
Dân cư Thái Bình có nguồn gốc từ nhiều nơi. Họ tụ cư và hợp cư ở đây
bằng lao động, chinh phục và cải tạo tự nhiên. Sau cách mạng tháng Tám dân
số Thái Bình có gần 1 triệu người, mật độ dân số 650 người /km2, xếp hạng
thứ 4 của đồng bằng sông Hồng và thứ 5 so với cả nước[66, tr.104, 106]. Vì
vậy, Thái Bình được ví như là kho người mà ta và địch đều muốn giành giật.
So với các tỉnh khác thuộc châu thổ Bắc Bộ thì Thái Bình có lịch sử
hình thành đất đai và cư dân mang tính gối sóng tương đối rõ rệt. Nhiều làng
cổ thuộc vùng đất Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Vũ Thư có lịch sử trên
dưới 2000 năm. Tuy nhiên, số làng được khai phá từ thời Trần trở về sau
chiếm tỉ lệ cao, những làng coi là mới được xác lập ở Tiền Hải từ cuộc đại
khẩn hoang của Nguyễn Công Trứ bắt đầu từ năm 1828 đến nay cũng đã có
lịch sử gần 200 năm. Cư dân Thái Bình vốn là sự hội tụ từ các luồng cư dân
có gốc từ Sơn Tây, Hà Đông, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Yên, Hải Dương,
Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nam, Nam Định,.. và có cả một bộ phận
theo đường biển từ Bắc xuống, từ Nam ra vốn làm nghề đánh cá về sau định
cư trên đất Thái Bình. Họ mang theo những tập quán sản xuất, những truyền
thống văn hóa ở nơi ở cũ đến vùng này và nhanh chóng hòa nhập với sự phát
triển chung của nền văn hóa bản địa. Đến nay, ở Thái Bình có 58 dòng họ, cư
dân hầu hết là người Kinh.
Người dân Thái Bình sống bằng nghề nông là chủ yếu nên làng xã là
điểm quần cư của họ. Những xóm làng nhỏ liền nhau được bao bọc bởi những
người dân quê lúa. Qua thống kê cho thấy, trước Cách mạng tháng Tám năm
1945, ở Thái Bình có 52 gánh hát chèo, trong đó phải kể đến ba làng chèo nổi
tiếng là Hà Xá (huyện Hưng Hà), Khuốc (huyện Đông Hưng), Sáo Đền
12
(huyện Vũ Thư). Cùng với nghệ thuật chèo, múa rối nước cũng là một loại
hình sân khấu độc đáo, thể hiện sự khéo léo, tài tình của người dân quê lúa.
Bên cạnh những giá trị văn hoá phi vật thể, Thái Bình còn là nơi lưu giữ
nhiều giá trị văn hoá vật thể đặc sắc với 1.404 công trình kiến trúc cổ như:
đình, đền, phủ, chùa, miếu… Mặc dù hiện nay đã thiếu vắng nhiều công trình
do chiến tranh do thiên nhiên và cả con người tàn phá, song số còn lại cũng để
lại nhiều dấu ấn đặc sắc, đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc tinh xảo qua từng
mảng kiến trúc tại các di tích: chùa Keo, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, đền
Trần, đình An Cố, chùa Ký Con, đình Đông Lĩnh...
Là địa phương nằm xa các trung tâm văn hoá cổ, với địa hình bị chia cắt
bởi sông nước, nhưng Thái Bình lại có truyền thống hiếu học từ khá sớm.
Trong tổng số 2.898 trí thức đại khoa Việt Nam, Thái Bình có 111 vị, trong
đó có 2 trạng nguyên, 2 bảng nhãn, 3 thám hoa, 26 hoàng giáp, 78 người là
tiến sĩ, phó bảng.
Ngoài tín ngưỡng dân gian, có hai tôn giáo phát triển ở Thái Bình : Phật
giáo, Thiên chúa giáo.
Đạo Phật xuất hiện ở Thái Bình cách đây khoảng hơn 2000 năm, thịnh
hành nhất vào thời Lý –Trần. Hiện nay có 770 ngôi chùa nằm trên 267 xã
phường . Có 109 chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa, trong đó có
17 chùa được cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 92
chùa được chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đặc biệt chùa Keo
được công nhận là di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia.
Đạo Thiên chúa du nhập vào Thái Bình tương đối sớm. Theo gia phả họ
hai giai cấp chủ yếu là nông dân và địa chủ.
Nông dân Thái Bình chiếm 93% dân số. Hầu hết họ là những người có
rất ít hoặc không có ruộng đất . Họ phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, hoặc
phải làm thuê cho chúng để kiếm sống. Lợi dụng tình hình đó, bọn địa chủ ra
sức tăng mức địa tô và các khoản tô phụ, người dân phải nộp hai phần ba hoa
lợi trên diện tích lĩnh canh. Ngoài ra nông dân còn phải đóng sưu cao, thuế
nặng. Thêm vào đó, bọn cường hào, lý dịch địa phương lại phù thu lạm bổ,
14
nhiều nông dân làm quanh năm mà không đủ tiền sưu thuế. Không có tiền nộp
sưu thì bị bọn quan lại, cường hào đánh đập, kìm kẹp tàn nhẫn. Vì vậy, người
nông dân Thái Bình sớm có truyền thống đấu tranh chống áp bức bất công,
chống bọn phong kiến cường quyền và kẻ thù xâm lược.
Giai cấp địa chủ Thái Bình chiếm 2% dân số nhưng chiếm đoạt 20%
tổng số ruộng đất. Khi bị đế quốc đụng chạm tới quyền lợi và khi phong trào
cách mạng lên cao, một số địa chủ có tinh thần yêu nước đã tham gia chống
Pháp với mức độ khác nhau. Song nhìn chung đây là chỗ dựa của đế quốc để
áp bức bóc lột nhân dân ta ở vùng nông thôn.
1.1.2 Truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân Thái Bình
Với vị trí trọng yếu của đất nước và đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình sớm
phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm. Trong nhiều thập kỷ, người dân
nơi đây rất nổi tiếng bởi ý chí kiên cường, bất khuất, lập nên bao kỳ tích anh
hùng. Ngay từ buổi đầu dựng nước, vào năm 40 sau công nguyên, hưởng ứng
lời hịch cứu nước của Hai Bà Trưng, nhiều anh hùng hào kiệt ở Thái Bình đã
nổi dậy phất cờ khởi nghĩa chống lại chế độ cai trị hà khắc của nhà Đông Hán.
Tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa của Vũ Thị Thục ở Tiên La Trang (nay là xã
Đoan Hùng, huyện Hưng Nhân), dưới ngọn cờ “Phù Trưng phạt Hán”. Cuộc
khởi nghĩa đã tập hợp được đông đảo, nhân dân trong vùng nhanh chóng phát
cả Bùi Đằng Liêu và Phạm Bôi đều đem quân vào xin nhập với đại quân của
Lê Lợi, góp phần đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập vào năm 1427. Vào
thế kỷ XVIII trước tình hình triều đình Lê – Trịnh ngày càng thối nát, hàng
loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra trên khắp địa bàn tỉnh như: cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Sơn (Hồng Việt, Đông Hưng), Bùi Đá, Hoàng Sỏi (huyện
Quỳnh Côi), sau phát triển sang huyện Thần Khê, Duyên Hà, tiếp đó phát
triển sang Hải Phòng phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Hữu Cầu… chống
lại sự thối nát, mục ruỗng cùng ách áp bức bóc lột hà khắc của triều đình
phong kiến. Tuy nhiên, có ảnh hưởng lớn nhất lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa
của Hoàng Công Chất. Hoàng Công Chất, người làng Hoàng Xá, xã Nguyên
Xá, huyện Vũ Thư đã liên kết được nhiều lực lượng ở đồng bằng, trung du và
16
vùng Tây Bắc kéo dài cuộc khởi nghĩa trong 30 năm. Vào thế kỷ XIX, dưới triều
nhà Nguyễn, ngọn lửa đấu tranh của nông dân nổi lên dữ dội. Tiêu biểu trong
các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta lúc đó là cuộc khởi nghĩa của Phan Bá
Vành, người làng Minh Giám, xã Vũ Bình, huyện Kiến Xương. Cuộc khởi nghĩa
đã tập hợp được hàng vạn nông dân tham gia, mở rộng khắp vùng đồng bằng
duyên hải sông Hồng và đến tận Quảng Ninh. Đi đến đâu nghĩa quân cũng thực
hiện khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo” và trừng trị thẳng tay bọn
phú hào, địa chủ nên được nhân dân hết lòng che chở giúp đỡ. Vào thời điểm
Pháp đánh chiếm miền Bắc lần thứ nhất (năm 1873) và lần thứ hai (năm 1882), ở
Thái Bình xuất hiện nhiều cuộc khởi nghĩa do các văn thân sĩ phu không cam
chịu nỗi nhục mất nước, bất hợp tác với thực dân Pháp và triều đình Huế đã từ
quan về quê tổ chức nhân dân dựng cờ khởi nghĩa, bất chấp lệnh bãi binh của
triều đình. Tiêu biểu trong số đó là cuộc khởi nghĩa của cha con Nguyễn Mậu
Kiến (Động Trung, huyện Kiến Xương), tiến sĩ Nguyễn Khuê (xã Song Lãng,
Vũ Thư), cuộc khởi nghĩa của Biện Tốn (Tam Nông, huyện Hưng Hà), cử nhân
trào cách mạng trong cả nước cũng như trong tỉnh bị địch khủng bố ác liệt,
nhiều cơ sở cách mạng của Đảng bị phá vỡ. Ba Ban Tỉnh uỷ kế tiếp nhau
được thành lập nhưng đều bị địch bắt, phong trào cách mạng gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, các đảng viên và quần chúng vẫn kiên cường đứng vững,
duy trì và từng bước phát triển phong trào đấu tranh cách mạng. Từ đầu năm
1934, mặc dù không còn cơ quan lãnh đạo của tỉnh nhưng một số chi bộ ở địa
phương vẫn tiếp tục hoạt động. Hình thức chủ yếu là hoạt động hợp pháp để
duy trì cơ sở.
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936-1939, phong trào cách mạng phát
triển mạnh ở thành thị rồi lan về nông thôn, tạo đà phát triển cho phong trào
cách mạng ở Thái Bình. Tháng 6-1937, Hội nghị bầu Ban Tỉnh uỷ thống nhất
được tiến hành tại Vũ Lăng (Kiến Xương), gồm 7 đồng chí. Hội nghị tập
trung bàn về công tác tuyên truyền, công tác xây dựng Đảng và tổ chức quần
chúng cũng như việc lãnh đạo quần chúng đấu tranh với nhiều hình thức
phong phú. Khắp nơi trong tỉnh đều nổ ra những cuộc đấu tranh chống ách áp
18
bức bóc lột hà khắc, đòi giảm các khoản đóng góp trong làng xã, đòi cải cách
hương thôn. Đồng thời, nông dân cũng tích cực hưởng ứng các cuộc vận động
do Trung ương và Xứ uỷ phát động như: đấu tranh đòi trả tự do cho các chính
trị phạm, phản đối dự án thuế thân của Saten, cử đại biểu đi dự mít tinh ở Hà
Nội, quyên góp ủng hộ báo của Mặt trận dân chủ, ủng hộ nhân dân Trung
Quốc chống Nhật…
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 11-1939,
Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 quyết định chuyển hướng hoạt
động. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương
thay cho Mặt trận dân chủ. Tại Thái Bình, việc chuyển hướng các mặt trận
công tác cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới đã được Ban Tỉnh uỷ