Vai trò của người phụ nữ Tỉnh Phú Thọ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) - Pdf 29

Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
********** CHU ANH THUẦN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TỈNH PHÚ THỌ TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 – 1954)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Người hướng dẫn khoa học
Th.S NINH THỊ SINH
HÀ NỘI - 2011
Khóa luận tốt nghiệp



Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Công trình này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sỹ sử học
Ninh Thị Sinh.
Các kết quả trình bày trong khóa luận chưa công bố trong công trình
nào khác và cũng không trùng với kết quả nghiên cứu của một tác giả nào.
Các số liệu được sử dụng trong khóa luận là trung thực, đảm bảo tính khách
quan, khoa học và có nguồn gốc rõ ràng.

Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2011
Tác giả Chu Anh Thuần


1.2.1. Buổi đầu tham gia phong trào yêu nước do Đảng lãnh đạo………
1.2.2. Phụ nữ Phú Thọ tham gia phong trào yêu nước và cách mạng
những năm 1939 – 1945………………………………………………………
1.2.3. Phụ nữ Phú Thọ tham gia bảo vệ, củng cố chính quyền
cách mạng (9 – 1945 đến 12 – 1946)…………………………………………
Chương 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỈNH PHÚ THỌ TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 - 1954)

Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

2.1.

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỈNH PHÚ THỌ TRONG NHỮNG NĂM
ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (1946 - 1950)………………………

2.1.1. Phú Thọ trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến…………

2.1.2. Vai trò của phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong những năm đầu toàn quốc
kháng chiến (1946 - 1950)……………………………………………………
2.1.2.1. Trong công tác xây dựng hậu phương…………………
2.1.2.2. Trong phục vụ chiến đấu và chiến đấu…………………
2.2. VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỈNH PHÚ THỌ TRONG NHỮNG NĂM
ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1951 – 1954)…………
2.2.1. Phú Thọ trong những năm đẩy mạnh kháng chiến đến
thắng lợi………………………………………………………………………
2.2.2. Vai trò của phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong những năm đẩy mạnh

của dân tộc” [2, tr.7].
Truyền thống đó đã được nhân lên gấp bội khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, các tầng lớp phụ nữ toàn tỉnh phát
huy tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Có thể nói trong lịch sử đấu
tranh vũ trang của dân tộc, chưa có cuộc đấu tranh nào mà lực lượng phụ nữ
tham gia đông đảo với tinh thần gan dạ, với khả năng dồi dào trên nhiều lĩnh
vực quan trọng như trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vĩ đại của
nhân dân ta. Ở đó, các thế hệ phụ nữ tỉnh Phú Thọ luôn giữ vai trò quan trọng
trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trên mặt trận lao động sản xuất, phục vụ chiến đấu
và trực tiếp chiến đấu. Phụ nữ Phú Thọ đã phát huy cao độ khả năng tiềm tàng
to lớn của giới mình để đóng góp đến mức cao nhất cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, đồng thời, giải phóng phụ nữ ở một bước mới
cao hơn. Phong trào của phụ nữ Phú Thọ trong những năm chống thực dân
Pháp, thực chất là một cuộc vận động cách mạng sâu sắc và rộng lớn của phụ
nữ, thể hiện được sự kết hòa giữa ba mặt: dân tộc, giai cấp và giới; đó là một
bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng rộng lớn của nhân dân Việt
Nam nói chung, đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc.
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Để phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của các thế hệ phụ nữ tỉnh
Phú Thọ trong giai đoạn cách mạng mới, việc ghi lại những trang sử hào hùng
trong các phong trào đấu tranh cách mạng của phụ nữ Phú Thọ có ý nghĩa rất
quan trọng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho các thế
hệ hôm nay và mai sau. Với tinh thần đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Vai trò
của phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 –

một cách khái quát, thông sử, chưa đi sâu làm rõ vai trò của phụ nữ trong lao
động, sản xuất và trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ quê hương.
Tác phẩm “Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Phú Thọ (1930 – 2010)”
(2010), của Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ cũng đã tái
hiện toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của lực lượng phụ nữ tỉnh, từ tự
phát đi vào tự giác. Cuốn sách này cũng dành một chương trang trọng để nói
về phong trào của phụ nữ tỉnh trong kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, vấn
đề của khóa luận lại được trình bày ở mức độ khái quát, thông sử chưa có sự
nổi bật về vai trò của phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn này, nặng về liệt kê
sự kiện mà chưa có sự hệ thống hóa các sự kiện theo lĩnh vực cụ thể.
Tác phẩm “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ” (2000), của Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã nêu lên một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh đến các cấp, các ngành trong đó có lực lượng phụ nữ. Đồng thời, cuốn
sách cũng thể hiện những chiến công oanh liệt của quân và dân Phú Thọ trong
mọi thời kỳ cách mạng kể từ khi có Đảng và ít nhiều cũng đã đề cập đến vấn
đề của khóa luận nhưng đó chỉ là những thông tin mang tính chất khái quát,
giản đơn.
Tác phẩm “Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân tỉnh Phú Thọ
(1930 - 2010)” (2010), của Ban Chấp hành hội nông dân tỉnh Phú Thọ.
Cuốn sách nêu lên quá trình hình thành và phát triển của Hội nông dân tỉnh
Phú Thọ, trong đó nêu lên một cách khái quát các phong trào của nông dân
tỉnh Phú Thọ kể từ khi có Đảng lãnh đạo. Như chúng ta đã biết có rất nhiều
hội viên hội nông dân là nữ, nên trong quá trình tái hiện lịch sử phong trào
của nông dân ở nhiều thời kì lịch sử, ở nhiều phong trào cũng đã ít nhiều đề
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử



Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Đồng thời trong quá trình nghiên cứu và trình bày khóa luận, tác giả
cũng đề cập tới những vấn đề liên quan đến đề tài như: vị trí địa lý, điều kiện
dân cư, truyền thống lịch sử quê hương Phú Thọ… cũng như bối cảnh chung
của cuộc kháng chiến trên chiến trường nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ
của đề tài.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của phụ
nữ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946 – 1954).
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả dựa vào những nguồn tư liệu chủ yếu sau.
Các văn kiện của Đảng và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh như:
Tác phẩm ‘‘Hồ Chí Minh toàn tập’’, tập 4, tập 5, tập 6, của Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Hà Nội, phát hành năm 2000. Tác phẩm ‘‘Văn kiện Đảng
toàn tập’’, tập 8, tập 9, tập 10, của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội,
phát hành năm 2002. Những văn bản này nêu quan điểm đánh giá của Đảng
Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ và vai trò của phụ
nữ nói chung.
Những tác phẩm, công trình, báo cáo… đề cập tới phụ nữ Phú Thọ
trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Tư liệu dạng này gồm có: Tác phẩm
‘‘Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú (1930 – 1995)’’, (cuốn sơ thảo)
của Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú, phát hành năm 1996. Tác phẩm
‘‘Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Phú Thọ (1930 – 2010)’’, của Ban Chấp
hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Phú Thọ, phát hành năm 2010. Tác phẩm
‘‘Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ’’, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ,
phát hành năm 2000. Tác phẩm ‘‘Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông

trị, tập hợp các tư liệu đó thành một hệ thống, phục vụ cho công tác nghiên
cứu lịch sử địa phương.

Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
khóa luận kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Khái quát về tỉnh Phú Thọ và vai trò của phụ nữ tỉnh
Phú Thọ trước năm 1946
Chương 2: Vai trò của phụ nữ tỉnh Phú Thọ trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (1946 – 1954)
huyện Mê Linh.
Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công Nguyên đến thế kỉ X),
Phú Thọ nằm trong địa bàn các huyện Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.
Thời kỳ phong kiến độc lập, phân cấp hành chính của Việt Nam có sự
thay đổi, chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo
(lộ, tấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ
Tam Giang.
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Từ thời nhà Lê đến đầu thời nhà Nguyễn (1428 – 1891), phần lớn tỉnh
Phú Thọ ngày nay thuộc tỉnh Sơn Tây, trừ huyện Thanh Xuyên và huyện Yên
Lập thuộc tỉnh Hưng Hóa (huyện Thanh Xuyên nay là ba huyện: Tân Sơn,
Thanh Sơn và Thanh Thủy); huyện Yên Lập thuộc phủ Quy Hóa nay thuộc
tỉnh Phú Thọ).
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà vua đã tiến hành cải cách hành
chính, đổi tất cả các trấn trong cả nước là tỉnh, phân lại địa giới các tỉnh
(điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia), chia tách một số huyện
lớn… Theo đó, địa bàn tỉnh Sơn Tây đã được chính quyền đương thời điều
chỉnh như sau: chuyển huyện Từ Liêm về tỉnh Hà Nội, chuyển huyện
Tam Nông về tỉnh Hưng Hóa để làm tỉnh lỵ (tỉnh Hưng Hóa khi đó bao gồm
toàn bộ các tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay). Trong địa bàn tỉnh
Hưng Hóa năm 1833, tách huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng thành hai
huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy.
Sau khi đánh chiếm Bắc kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ
Việt Nam, thực dân Pháp lập ra các đạo quan binh, các quân khu, tiểu quân
khu để dễ dàng và chủ động đàn áp các phong trào kháng chiến. Theo đó,

– 1895, hai châu Thanh Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển
về tỉnh Hưng Hóa mới. Ngày 24 – 8 – 1895, hai huyện Hùng Quan và
Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang thuộc đạo
quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hóa mới. Năm 1900 thành lập thêm
huyện Hạc Trì.
Ngày 5 – 5 – 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định chuyển tỉnh
lỵ của Hưng Hóa (từ làng Trúc Phê, huyện Tam Nông) lên làng Phú Thọ
thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi và từ đây tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành
tỉnh Phú Thọ. Sở dĩ có sự chuyển dịch tỉnh lỵ vì Phú Thọ có đường xe lửa
chạy qua, lại ở vào trung độ của tỉnh, còn Hưng Hóa ở cuối tỉnh, không thuận
lợi giao thông. Khi đó Phú Thọ gồm hai phủ (Đoan Hùng và Lâm Thao),
tám huyện (Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê,
Hạ Hòa, Hạc Trì) và hai châu (Thanh Sơn, Yên Lập). Từ năm 1903 đến Cách
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản đơn vị hành chính trong tỉnh không có
thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số huyện và thành lập một số làng xã
mới.
Ngày 22 – 10 – 1907, thị xã Phú Thọ được thành lập, thị xã Phú Thọ là
tỉnh lỵ của Phú Thọ. Năm 1939, phủ Đoan Hùng đổi thành châu Đoan Hùng;
huyện Thanh Ba đưa lên làm phủ Thanh Ba.
Đến năm 1940, tỉnh Phú Thọ bao gồm hai phủ (Lâm Thao và Thanh
Ba); sáu huyện: Hạ Hòa, Cẩm Khê, Hạc Trì, Thanh Thủy, Tam Nông,
Phù Ninh; ba châu: Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng; hai thị xã: Phú Thọ,
Việt Trì và một thị trấn Hưng Hóa. Toàn tỉnh có 66 tổng, 467 làng, xã và
22 phố.

Tam Nông hợp nhất với Thanh Thủy thành huyện Tam Thanh, bao gồm
34 xã; Lâm Thao hợp nhất với huyện Phù Ninh thành huyện Phong Châu gồm
34 xã; huyện Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã hữu ngạn sông Thao của Hạ Hòa
hợp nhất thành huyện Sông Thao, gồm 58 xã; Thanh Ba, Đoan Hùng và các
xã còn lại của huyện Hạ Hòa cùng với 7 xã của Phù Ninh, hợp nhất thành
huyện Sông Lô gồm 80 xã.
Năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định thành lập thị trấn
Phong Châu, thuộc huyện Phong Châu. Ngày 22 – 12 – 1980, Hội đồng chính
phủ ra quyết định số 377/QĐ – CP, tách huyện Sông Thao thành hai huyện
Sông Thao và Yên Lập; huyện Sông Lô thành huyện Thanh Hòa và huyện
Đoan Hùng. Tháng 10 – 1995, chia tách huyện Thanh Hòa thành hai huyện
Thanh Ba và Hạ Hòa. Tháng 11 – 1995, thành lập thị trấn Thanh Ba và thị
trấn Đoan Hùng.
Ngày 26 – 11 – 1996, kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IX, đã thông qua
nghị quyết chia tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.
Khi chia tách, tỉnh Phú Thọ có diện tích 3.465,12

km², dân số
1.261.949 người, gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện: thành phố Việt Trì
(tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ và 8 huyện: Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng,
Sông Thao, Thanh Sơn, Yên Lập, Tam Thanh, Phong Châu.
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Ngày 28 – 5 – 1997, Chính phủ ra nghị định thành lập sáu thị trấn gồm:
thị trấn Yên Lập (Yên Lập), thị trấn Hạ Hòa (Hạ Hòa), thị trấn Hưng Hóa
(Tam Thanh), thị trấn Lâm Thao, Phú Hộ (Phong Châu) và thị trấn Thanh Sơn


trọng trong giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước
ASEAN.
Với vị trí quan trọng như vậy, Phú Thọ từ xa xưa cũng như ngày nay
luôn có ý nghĩa đặc biệt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược “thần thánh” diễn ra vào
nửa cuối những năm 40 và nửa đầu những năm 50 của thế kỉ XX. Theo đó, đã
đặt ra cho nhân dân Phú Thọ nói chung và lực lượng phụ nữ nói riêng những
trách nhiệm thiêng liêng trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, xây dựng quê
hương.
1.1.1.2. Điều kiện dân cư
Nằm trên vùng đất hai bên có hai dãy núi cao là Ba Vì và Tam Đảo,
phía trước là bạt ngàn rừng rậm, phía sau có ba con sông lớn là sông Hồng,
sông Lô, sông Đà với thềm phù sa màu mỡ, nên ngay từ thời xa xưa, Phú Thọ
đã là địa bàn cư trú của người Việt cổ. Theo các tài liệu khảo cổ học, từ việc
phát hiện di chỉ văn hóa Sơn Vi, Đồng Đậu, Gò Mun (Lâm Thao), Gò Chè,
Gò Cháy, Gò Cổ Bông (Tam Nông), Làng Cả (Việt Trì), Xóm Dền (Phù
Ninh)…cùng nhiều nơi khác rải rác trên đất Phú Thọ, các nhà khoa học đã
nhận định: “Cách đây hàng vạn năm, trên địa bàn tỉnh đã có hàng chục thị
tộc người nguyên thủy cư trú; đông nhất là ở các huyện Lâm Thao, Phù Ninh,
Thanh Ba, Hạ Hòa, Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê, thành phố Việt Trì.
Những nhóm người này đã biết hái lượm, săn bắt thú rừng để kiếm sống”
[3, tr.25]. Thời đại Hùng Vương (từ cuối thời đại đồ đá mới đến thời đại đồ
đồng thau, sau là sắt và luyện kim), dân số ngày một đông lên, sống quây
quần bên nhau thành chòm xóm.
Vùng đất từ ngã ba Hạc Trì lên tới núi Nghĩa Lĩnh, bao gồm địa bàn
thành phố Việt Trì ngày nay được coi là Kinh đô Văn Lang – trung tâm của
quốc gia Văn Lang – Nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam do các vua
Khóa luận tốt nghiệp


xóm đông khẩu nhất là xóm Thông Bằng (nay thuộc xã Hưng Long, huyện
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Yên Lập) gồm 180 khẩu, 40 gia đình là dân nghèo từ Nam Định lên lập
nghiệp từ năm 1938.
Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nhất là từ khi ra đời các cụm công
nghiệp mới trong tỉnh và thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế,
văn hóa miền núi, nhiều hợp tác xã nông nghiệp miền xuôi, kể cả bà con tiểu
thương Hà Nội, đã đưa gia đình lên khai hoang lập nghiệp, xây dựng quê
hương mới, tình hình dân cư Phú Thọ mới có sự thay đổi lớn, phát triển nhanh
(năm 1960 có 505.672 người; năm 1964 lên 528.438 người). Và đến ngày
nay, Phú Thọ là địa bàn có dân cư sinh sống đông đảo “Tính đến 0h ngày 1 –
1 – 2009, dân số Phú Thọ có 1.316.389 người, mật độ dân số là 372,7
người/ km². Tỷ lệ dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, vùng núi là 84,2%,
tại khu vực thành thị là 15,8%; tỉnh có đông đồng bào các dân tộc cùng sinh
sống và định cư, trong đó, dân tộc Kinh có 1.108.891 người, chiếm 84,2%;
dân tộc Mường có 184.141 người, chiếm 13,9%; dân tộc Dao có 12.986
người, chiếm gần 1%, sống chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên
Lập; dân tộc Sán Chay có 3.294 người, chiếm 0,2%, sống chủ yếu ở huyện
Đoan Hùng” [33, tr.29].
Trong suốt chiều dài lịch sử, người dân đất Tổ luôn đoàn kết, cùng
nhau xây dựng và bảo vệ quê hương, làng xóm ngày một đông vui, trù phú và
đã tạo dựng nên những truyền thống tốt đẹp. Đó là “cần cù, sáng tạo trong
lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống thiên tai,
chống giặc ngoại xâm, lối sống giản dị, chân thành đằm thắm, thủy chung với
người thân, bầu bạn, xóm giềng…” [3, tr.26].

Cà phê Phú Hộ, đồi trà Thái Ninh” [6, tr.39]
Cùng với phát triển nghề nông, người dân Phú Thọ còn làm ra hàng
trăm loại sản phẩm thủ công, mỹ nghệ phục vụ cho sinh hoạt và trao đổi khắp
các vùng; hình thành các làng nghề truyền thống như rèn nông cụ, làm đồ
gốm, đồ mộc, đan lát, làm nón, ươm tơ, dệt vải… Từ những nguyên vật liệu
có sẵn, dưới bàn tay khéo léo của người dân Phú Thọ, đã tạo nên những sản
phẩm có giá trị còn lưu truyền đến ngày nay.
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

“Nhất sòng Cao Xá;
Nhất rá kẻ Dền
Nhất đền Hùng Vương
Nhất hương Sơn Thị…” [6, tr.40]
Không chỉ cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, người dân Phú Thọ
còn rất sáng tạo trong lao động nghệ thuật, trong sáng tác, giữ gìn và phát
triển văn hóa dân gian vùng đất Tổ.
Ngoài Đền Hùng, di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của cả nước, trong
tỉnh còn trên một nghìn di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng, trong đó đã
có trên một trăm di tích được Bộ Văn Hóa thể thao và du lịch và Ủy ban nhân
dân tỉnh xếp hạng, cấp bằng. Đó là các đình, đền, miếu, thờ các vị thành
hoàng, những người có công với nước, với địa phương. Đây là những công
trình kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc gỗ dân gian, thể hiện óc thẩm mỹ,
tính nghệ thuật cao, tài năng kiến trúc và điêu khắc dân gian của nhân dân ta.
Các đình, đền, miếu tiêu biểu hiện còn là đền thờ Quốc mẫu Âu Cơ ở xã Hiền
Lương (Hạ Hòa); đền thờ Thiều Hoa công chúa ở Hiền Quan, miếu thờ Xuân
Nương công chúa ở Hương Nội (Tam Nông); đền Du Yến thờ Hạnh Nương

đệ, đệ nhất danh (Trạng nguyên), khoa thi Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21,
đời Lê Thánh Tông (1490). Ông làm quan trải qua các chức Trinh ý bình văn
công thần, Thượng thư bộ lại kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diên,
thiếu bảo, tước Trịnh Khê hầu. Hay như Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc người
làng Xuân Lũng, huyện Lâm Thao. Ông làm quan đến chức Thượng thư,
Hàn lâm thị thư, đời vua Lê Chiêu Tông. Bảng nhãn Trần Toại xã
Phượng Lâu, thành phố Việt Trì, ông làm quan đến chức Hàn Lâm thị thư…
Cũng như nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Phú Thọ có truyền
thống yêu nước ngoại xâm từ rất lâu đời. Ngay từ những năm 40 đầu công
nguyên, trong cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo chống lại ách thống
trị của nhà Đông Hán, Phú Thọ đã có hơn ba chục tướng lĩnh nam và nữ triệu
tập binh mã ở hầu khắp các huyện nổi lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của hai
bà. Tên tuổi của các tướng lĩnh như Thiều Hoa, Bát Nàn, Xuân Nương,
Khóa luận tốt nghiệp

Giảng viên: Th.S Ninh Thị Sinh

Sinh viên: Chu Anh Thuần Lớp: K33 – Lịch Sử

Hạnh Nương, Nàng Nội, Hà Tơ, Hà Liễu, Nguyệt Cư… đến ngày nay vẫn còn
được lưu truyền trong nhân dân qua truyền thuyết, thần tích, đền thờ. Tiếp đó,
trong các cuộc chống Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, phá Thanh của dân tộc
ta do các vua triều Lý, Trần, Lê và Quang Trung lãnh đạo, nhân dân Phú Thọ
đã có những đóng góp quan trọng về công sức, lương thảo và phối hợp chiến
đấu với quân đội triều đình, lập nên những chiến công hiển hách. Tiêu biểu
cho tinh thần quật cường, anh dũng chống quân xâm lược phương Bắc trong
thời kỳ này là những trận đánh, những chiến tích chống Nguyên Mông,
chống Minh, và đến nay và mãi mãi sau này vẫn là niềm tự hào của nhân dân
Phú Thọ.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII, Ngã ba Hạc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status