Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHAN THỊ SEN HỒNG
HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
M
M
ã
ãn
n
g
g
à
à
n
n
h
h
:
:6
6
0
0
Thái Nguyên, năm 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh, người
thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo khoa Lịch sử, khoa Sau
đại học - trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Giáo dục - Đào tạo Thái
Nguyên, Trường THPT Phú Bình, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên, Trung tâm
Lưu trữ Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy Phú Bình, Ban Chỉ huy Quân
sự huyện Phú Bình đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thu
thập tài liệu để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, Tổ Văn - Sử, các bạn đồng
nghiệp đã giúp đỡ, động viện, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. 9
1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình. 16
Chƣơng 2. QUÂN, DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH ĐẤU TRANH BẢO VỆ,
XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN, TÍCH CỰC CHUẨN
BỊ KHÁNG CHIẾN (1945 - 1950) 30
2.1. Quân, dân huyện Phú Bình đấu tranh bảo vệ, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. 30
2.2. Quân, dân huyện Phú Bình tích cực chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược. 40
Chƣơng 3. QUÂN, DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TRỰC TIẾP CHIẾN
ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƢƠNG, XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG, CHI
VIỆN TIỀN TUYẾN ( 1950 - 1954) 58
3.1. Quân, dân huyện Phú Bình trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương, góp phần bảo
vệ cửa ngõ phía nam của An Toàn Khu Trung ương. 58
3.2. Quân, dân huyện Phú Bình tích cực xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến (1950 - 1954). 65
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phú Bình là huyện trung du, miền núi, có vị trí địa lí nằm ở vùng địa
đầu phía Đông - Nam tỉnh Thái Nguyên. Do nằm trên địa bàn trung tâm
của vùng chiến lược phía Bắc sông Hồng, nên trong lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc, địa bàn Phú Bình đã từng là nơi tranh
chấp quyết liệt giữa quân, dân ta với giặc ngoại xâm. Từ xa xưa, ông cha
ta đã từng coi địa bàn Thái Nguyên (trong đó có huyện Phú Bình) là phên
xây dựng chế độ dân chủ nhân dân; tích cực chuẩn bị kháng chiến; trực tiếp
chiến đấu bảo vệ quê hương, góp phần bảo vệ cửa ngõ phía nam của An Toàn
Khu Trung ương; xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến. Sự đóng góp đáng
kể sức người, sức của của nhân dân Phú Bình đã góp phần vào thắng lợi chung
của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với những
thành tích vẻ vang đó, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Phú Bình đã vinh dự được
Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân thời kì kháng chiến chống Pháp cho đơn vị huyện và 8 xã trong huyện.
Tìm hiểu, nghiên cứu về Huyện Phú Bình trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945 - 1954) vừa có ý nghĩa khoa học và vừa có ý nghĩa thực
tiễn. Nội dung của Luận văn góp phần dựng lại toàn cảnh bức tranh lịch sử về
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân, dân huyện Phú Bình. Qua
đó góp phần bổ sung tài liệu vào việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) của dân tộc, làm sâu sắc hơn lịch sử
dân tộc. Luận văn góp phần cung cấp nguồn tài liệu để giảng dạy lịch sử địa
phương tại các trường phổ thông trong huyện, tô thắm thêm truyền thống cách
mạng của vùng quê đã được Đảng ta chọn làm An Toàn Khu 2.
Vì những lí do trên, tôi quyết định chọn vấn đề: Huyện Phú Bình tỉnh
Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) làm
đề tài Luận văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Hơn một nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945 - 1954) còn in đậm trong lịch sử dân tộc. Cho đến
nay, đã có nhiều công trình lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược (1945 - 1954) của dân tộc với những đóng góp của các địa
phương trong đó có tỉnh Thái Nguyên.
làm phá sản các âm mưu chiến lược, các thủ đoạn chiến tranh của chúng.
Những đóng góp của quân, dân Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Bình
nói riêng đã được trình bày trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học:
Cuốn “Bắc Thái 40 năm đấu tranh và xây dựng (1945 - 1985)” - Sở Văn
hóa Thông tin Bắc Thái xuất bản năm 1985, đã tập hợp những bài tham luận
của các tác giả, làm rõ những đóng góp của nhân dân Bắc Thái trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cuốn sách đã cung cấp những tư liệu
quý giá về địa lí, lịch sử của Bắc Thái nói chung và các huyện nói riêng, trong
đó có huyện Phú Bình.
Cuốn “Bắc Thái trong căn cứ địa Việt Bắc” - Ban Nghiên cứu Lịch sử
Đảng Bắc Thái xuất bản 1987, đã làm rõ vai trò của nhân dân các dân tộc
Bắc Thái đối với quá trình hình thành, phát triển của Việt Bắc, trong đó
có đóng góp của Phú Bình với vai trò là cửa ngõ phía Đông - Nam của
Căn cứ Việt Bắc.
Từ năm 1990, thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và Bộ
Quốc phòng về công tác khoa học quân sự, tổng kết chiến tranh, đã có nhiều
công trình nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về Căn cứ Việt Bắc trong cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc:
Trong cuốn “Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975)”- Nhà
xuất bản Quân đội nhân dân gồm 2 tập, tập 1 xuất bản năm 1990, đã trình bày
đầy đủ về cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam, những đóng
góp của Việt Bắc trên các lĩnh vực, trong đó có đóng góp của nhân dân các
dân tộc huyện Phú Bình như: Công tác tiếp cư, đánh bại cuộc hành quân
Phôcơ năm 1950 của Pháp, chi viện tiền tuyến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Cuốn “Bắc Thái lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” -
Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Thái, xuất bản năm 1990, đã phản ánh đầy đủ,
Chấp hành Đảng bộ Thái Nguyên, xuất bản năm 2003 đã kế thừa, phát huy
những công trình nghiên cứu trước đó và đưa ra những đánh giá mới nhất về
các vấn đề lịch sử Thái Nguyên.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình (1930 - 2005) - Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện Phú Bình, xuất bản năm 2005 đã dựng lại quá trình xây dựng
và trưởng thành của Đảng bộ, ghi lại những thành tựu mà Đảng bộ đã lãnh
đạo cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện giành được trong suốt chặng
đường phát triển của lịch sử dân tộc, tiêu biểu là những đóng góp to lớn trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Trong cuốn “Huyện Phú Bình: Lịch sử kháng chiến chống xâm lược và
xây dựng - bảo vệ tổ quốc (1945 - 2000)” - Ban Chỉ huy quân sự huyện Phú
Bình, xuất bản năm 2007, đã làm nổi bật truyền thống đấu tranh vũ trang kiên
cường, bất khuất của nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình trong cuộc vận
động giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ.
Cuốn “Từ A.T.K Thái Nguyên đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”-
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, xuất bản năm 2009 đã tập hợp
những bài tham luận trong Hội thảo khoa học “Từ A.T.K Thái Nguyên đến
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, nhằm khẳng định vị thế, vai trò và ý nghĩa
của An toàn khu Thái Nguyên trong 9 năm trường kì kháng chiến chống thực
dân Pháp, nói rõ những đóng góp to lớn của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên
trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Các công trình trên đây đã phản ánh ở những mức độ khác nhau những
đóng góp của nhân dân Thái Nguyên nói chung và nhân dân huyện Phú Bình
nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -
1954). Những công trình trên là nguồn tài liệu quý giúp chúng tôi trong quá
trình thực hiện đề tài Luận văn: “Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
- Các văn kiện Đảng và Nhà nước trong thời kì Cách mạng tháng Tám và
kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954); các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ Thái
Nguyên và huyện Phú Bình trong kháng chiến chống Pháp là nguồn tư liệu gốc.
- Các công trình nghiên cứu về Căn cứ địa Việt Bắc, Bắc Thái, Thái
Nguyên, huyện Phú Bình trong cuộc kháng chiến chống Pháp là nguồn tài liệu
tham khảo giúp tôi hoàn thành Luận văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả Luận văn đã sử dựng các
phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu. Ngoài ra các
phương pháp : Phân tích, so sánh, thống kê, phỏng vấn cũng được vận dụng.
5. Đóng góp của luận văn.
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu có trước, Luận văn trình
bày một cách hệ thống, toàn diện những hoạt động của nhân dân Phú Bình trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), khẳng định
đóng góp to lớn của quân và dân Phú Bình vào thắng lợi chung của cả dân tộc.
Luận văn góp phần giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, lòng
tự hào cho thế hệ trẻ Phú Bình về một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.
Luận văn góp phần bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng
dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông và góp phần làm phong phú nguồn
tư liệu lịch sử dân tộc.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống yêu
nước và cách mạng của nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình.
Chƣơng 2: Quân, dân huyện Phú Bình đấu tranh bảo vệ, xây dựng chế độ
dân chủ nhân dân, tích cực chuẩn bị kháng chiến (1945 - 1950).
5- Tổng Tiên La gồm 4 xã thôn: Tiên La, Vân Đồn, Bạch Thạch, Điều Khê.
6- Tổng Thượng Đình gồm 7 xã: Nhã Lộng, Úc Kỳ, Triều Dương, Cống
Thượng, Điềm Thụy, Ngọc Sơn. Trong đó xã Ngọc Sơn có hai thôn là
Ngọc Sơn và Ngọc Long.
7- Tổng Mạt Hương gồm 3 xã: Vân Dương, Trang Ôn, Mạt Ôn.
8- Tổng Bảo Nang gồm xã Bảo Nang và các thôn Làng Rồi, Thanh Huống,
các phường Thủy Cơ, Bến Hanh.
Ngoài ra, trên địa bàn của huyện Tư Nông còn có 3 xã phiêu bạt là Lữ Vân
(tổng Đức Lân), Lương Tạ (tổng Thanh Phao), La Đình (tổng La Đình) [3, tr.10]. 10
Dưới thời Pháp thuộc, vào những năm cuối thế kỉ XIX, vùng đất Phú
Bình ngày nay vẫn gọi là huyện Tư Nông thuộc phủ Phú Bình. Năm
1904, chính quyền thực dân giải thể phủ Phú Bình đổi tên các huyện:
Huyện Tư Nông thành phủ Phú Bình, huyện Phổ Yên thành phủ Phổ
Yên, huyện Vũ Nhai thành châu Vũ Nhai; các huyện, châu khác trong
tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên tên gọi. Các phủ, châu, huyện trở thành
đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Từ đó đến trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945 phủ Phú Bình gồm 9 tổng, 46 xã, 7 thôn và 1 phường:
Tổng Nhã Lộng (5 xã, 2 thôn), tổng Thượng Đình (7 xã, 2 thôn), tổng
Nghĩa Hương (2 xã, 2 thôn), tổng La Đình (9 xã, 2 thôn), tổng Thanh
Phao (6 xã), tổng Đức Lân (1 xã, 2 thôn), tổng Tiên La (4 xã ), tổng Lý
Nhân (6 xã), tổng Bảo Vang (3 xã, 1 phường) [34, tr.5].
Ngày 25/3/1948, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc
lệnh số 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận, các danh từ trên
cấp xã dưới cấp tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện. Từ đó, phủ Phú Bình được
gọi là huyện Phú Bình.
Phú Bình là huyện trung du, miền núi, có vị trí địa lí nằm ở vùng địa đầu
phía Đông - Nam tỉnh Thái Nguyên, nơi tiếp giáp giữa vùng trung du Bắc Bộ
Sông Cầu thuộc hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ xã Bằng Phúc (huyện
Chợ Đồn - Bắc Kạn). Đoạn chảy qua địa phận Phú Bình dài 29 km, lòng sông
rộng khoảng 120m, chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9 xã rồi đổ
về Chã (Phổ Yên). Sông Đào còn có tên gọi là kênh Bích Động hay sông
Máng được khởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm 1928 với mục
đích cung cấp nước tưới cho hệ thống đồn điền suốt từ Phú Bình sang Bắc
Giang. Sau này, Sông Đào đóng vai trò quan trọng trong kinh tế và giao thông
của huyện Phú Bình cung cấp nước tưới ruộng cho huyện Phú Bình và 3
huyện của Bắc Giang (Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên). Đoạn chảy qua địa bàn
huyện dài 33km từ xã Đồng Liên qua xã Đào Xá, Bảo Lý, Xuân Phương, thị
trấn Hương Sơn, vùng giáp ranh xã Lương Phú và Tân Hòa, xã Tân Đức
xuống huyện Tân Yên (Bắc Giang).
Với địa hình tương đối bằng phẳng, nguồn nước tưới tiêu dồi dào cùng
với khí hậu miền núi, trung du, độ ẩm cao, Phú Bình có những điều kiện
thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp hơn các huyện trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên. 12
Phú Bình là huyện kinh tế thuần nông. Nhân dân huyện Phú Bình sống
chủ yếu bằng nghề nông trồng lúa nước. Từ xưa đến nay, Phú Bình vẫn được
coi là vựa lúa, kho người, kho của ở Thái Nguyên. Bên cạnh sản xuất nông
nghiệp, Phú Bình cũng có nhiều nghề thủ công. Đáng chú ý là nghề làm gốm
ở Lang Tạ, nghề đan lát đồ mây, tre đều có rải rác ở các thôn xã.
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành: Phần lớn là dân bản
địa định cư từ lâu đời; một bộ phận dân tự do mà bọn điền chủ người Pháp và
người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền; một bộ phận khác là
đồng bào ở các tỉnh miền xuôi lên tản cư sau ngày Toàn quốc kháng chiến rồi
ở lại định cư lâu dài; một bộ phận là đồng bào các địa phương tự do di cư đến
địa bàn huyện sinh cơ, lập nghiệp. Dân số của huyện Phú Bình trong thời
Boadam đã dựa vào họng súng, lưỡi lê cướp không của nông dân Phú Bình
300 ha để lập đồn điền. Từ năm 1887 đến năm 1912, thực dân Pháp đã chiếm
hữu trên 50% diện tích đất canh tác của nông dân Phú Bình. Từ năm 1919 trở
đi, việc cướp đất lập đồn điền của thực dân Pháp diễn ra ở Phú Bình quyết liệt
và tàn bạo khiến cho hàng ngàn nông dân trong huyện rơi vào cảnh tay trắng.
Trong số hàng chục đồn điền ấy, điển hình là đồn điền Hàn Lân chiếm 300
ha, đồn điền Sec Nay chiếm 222 ha, riêng đồn điền của hai anh em Ghiôm
đã chiếm đoạt 720 ha đất canh tác ở hai huyện Phú Bình và Phổ Yên. Hình
thức và thủ đoạn bóc lột của bọn điền chủ rất đa dạng, vừa tinh vi, vừa trắng
trợn. Hình thức bóc lột chủ yếu và phổ biến nhất là phát canh thu tô, cho vay
nặng lãi. Thông thường, mức tô từ 50% đến 70% sản lượng, bất kể tốt hay xấu,
được mùa hay mất mùa. Có chủ đồn điền còn tính chắc ăn bằng cách ép buộc tá
điền muốn lĩnh canh phải vay nợ để nộp tô trước (ứng tô, vay thì phải chịu lãi
suất cao). Ngoài tô chính còn các khoản tô phụ như lễ lạt, biếu xén trong các
ngày giỗ, tết…Ngoài ra, chúng còn bóc lột người nông dân bằng cách mướn
nhân công làm thuê với giá rẻ mạt nhất là lúc tháng ba ngày tám, có khi một 14
ngày làm thuê chỉ được trả một bát gạo. Người nông dân chân lấm tay bùn làm
lụng quần quật một nắng hai sương để nộp cho bọn chủ đồn điền mức tô cắt cổ
nên cảnh đói nghèo, túng thiếu xảy ra thường xuyên: “Trước năm 1945 xã Tân
Khánh có 129 hộ thì 100 hộ thiếu ăn quanh năm; xã Lương Phú có 287 hộ thì
248 hộ thiếu ăn; xã Thanh Ninh có tới 30% số người lao động nghèo khổ phải
đi ở cho bọn nhà giàu, có gia đình ba đời đi ở cho bọn địa chủ vẫn không trả
hết nợ [4, tr. 8]. Tại xã Kha Sơn trước Cách mạng tháng Tám, nông dân chiếm
đến hơn 90% dân số trong xã nhưng chỉ có 30% ruộng đất để cấy cày. Hầu hết
ruộng đất đã bị chủ đồn điền người Pháp và địa chủ chiếm đoạt. Vì tô cao, tức
nặng nên trong xã Kha Sơn có hơn 555 hộ thì chỉ có 22 hộ giàu, hơn 40% số hộ
thuộc loại nghèo đói [21, tr.10].
Pháp chỉ mở hai trường học: Một trường sơ học toàn cấp (từ lớp 1 đến lớp 3)
ở Phương Độ và một trường sơ học bán cấp (từ lớp 1 đến lớp 2) ở Hà Châu.
Chỉ có con em địa chủ, hào lí, gia đình khá giả mới có điều kiện đi học, do đó
trên 95% dân số Phú Bình mù chữ [34, tr. 16]. Chính quyền thực dân còn ra
sức thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết các dân tộc
trong huyện, chia rẽ giữa người Kinh với các dân tộc khác…Đáng chú ý nhất
là chúng lợi dụng đạo Thiên Chúa để mê hoặc giáo dân, chia rẽ lương và giáo.
Trên thực tế số giáo dân của huyện chỉ chiếm khoảng 2,5% dân số nhưng năm
1870, chúng cho thành lập xứ đạo tại Nhã Lộng. Chính quyền thực dân còn ra
sức đầu độc nhân dân bằng rượu cồn, thuốc phiện. Toàn quyền Đông Dương ra
nghị định cưỡng bức nhân dân phải mua rượu của các công ti Đông - Pháp. Tại
các làng xã đều có đại lí bán lẻ rượu và thuốc phiện. Chúng đặt ti rượu tại phủ
lị. Một bộ phận “sở đoan” đóng ở Phương Độ để kiểm soát giữ độc quyền nấu
rượu và bán rượu của nhà nước thực dân. Ai vi phạm dù chỉ là một nắm
men, một li rượu lậu trong nhà hay góc vườn, là bị tù đày, khuynh gia bại
sản. Bàn đèn thuốc phiện và sòng bạc gần như làng nào, ấp nào cũng có 16
công khai, khiến cho không ít người dân vì đam mê, vì một phút sai lầm
mà gia đình tan nát, khánh kiệt. Các hủ tục như tảo hôn, đa thê, ăn khao,
đồng bóng, ma to, cưới lớn, đóng góp nặng trong phe giáp, mua ngôi bán
thứ… được khuyến khích phát triển, nhất là ở các xã phía Nam huyện
[34, tr. 17]. Trong khi đó, việc chăm lo, bảo vệ sức khỏe của nhân dân
không được quan tâm. Toàn huyện chỉ có một nhà thương với số giường
bệnh ít ỏi và chỉ tiếp nhận gia đình giàu. Còn những người nông dân ốm
đau, bệnh tật chỉ biết trông vào thần thánh, lễ bái tốn kém mà vẫn “tiền mất
tật mang”. Các loại bệnh dịch như đau mắt hột, tả lị, thương hàn… diễn ra
thường xuyên trong huyện, hằng năm có hàng trăm người chết, có những
gia đình không một người sống sót.
Trong cuộc khởi nghĩa do Ông Lão lãnh đạo, nghĩa quân đã mở rộng địa bàn
hoạt động xuống huyện Tư Nông, nhân dân các dân tộc huyện Tư Nông đã tự
nguyện tham gia nghĩa quân, biến xóm, làng thành đồn, thành lũy để chiến đấu
chống giặc Minh.
Bước vào thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào khủng
hoảng. Thiên tai, bệnh dịch, nạn đói xảy ra thường xuyên khiến cho đời sống
nhân dân vô cùng cực khổ. Trong cả nước, phong trào đấu tranh của nông dân
chống lại chính quyền phong kiến diễn ra mạnh mẽ. Tại Thái Nguyên, cuộc
khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương kéo dài từ năm 1740 đến năm 1751 đã
lan rộng khắp các huyện, phủ trong tỉnh và các tỉnh lân cận (vùng Sơn Tây,
Tuyên Quang). Tại vùng Tư Nông, Nguyễn Danh Phương đã xây dựng đồn
Úc Kỳ và một số đồn nhỏ khác để tập trung lực lượng, dự trữ lương thảo cho
nghĩa quân. Đồn Úc Kỳ được xây dựng vững chắc, lại được nhân dân huyện
Tư Nông tận tình giúp đỡ, ủng hộ, cung cấp sức người, sức của nên cuộc
nghĩa của Nguyễn Danh Phương kéo dài trên 10 năm.
Sang thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam càng lún sâu vào khủng
hoảng, suy vong trầm trọng; hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra 18
khắp cả nước. Nhân dân vùng Đông Bắc, trong đó có nhân dân huyện Tư
Nông tham gia chống lại chế độ phong kiến diễn ra gay gắt, quyết liệt. Năm
1806, Dương Đình Cúc phất cờ khởi nghĩa được đông đảo nhân dân trong
huyện hưởng ứng, duy trì cuộc chiến đấu gần 20 năm. Năm 1833, nhân dân
huyện Tư Nông cùng với nhân dân trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của
Nông Văn Vân - Tù trưởng vùng Bảo Lạc (Cao Bằng). Nghĩa quân đã chiếm
được thành Thái Nguyên, bắt quan lại nhà Nguyễn thích vào mặt dòng chữ
“Quan tỉnh hay ăn hối lộ” rồi đuổi ra khỏi thành. Nhà Nguyễn phải dốc nhiều
lực lượng trong nhiều năm mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa nhưng không đè
bẹp được tinh thần phản kháng của nhân dân. Cũng trong năm 1833, nhân dân
quyết liệt, quân Pháp không dám ở lại, ngày 21/3 phải lui về Bắc Ninh. Phải
đánh đi, đánh lại nhiều lần, ngày 10/5/1884, thực dân Pháp mới dám cho quân
đóng lại ở Thái Nguyên. Cùng với nhân dân trong tỉnh, nhân dân Phú Bình
không vì thất thủ mà ngừng cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Ngay cả khi
triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhân dân Phú Bình vẫn cùng nhân dân
trong tỉnh tiến hành kháng chiến chống pháp. Hàng loạt nhóm nghĩa quân do
nhân dân tổ chức xuất hiện, tự vũ trang và chiến đấu để ngăn chặn các cuộc
hành quân bình định của giặc Pháp.
Trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang lan rộng khắp cả nước,
năm 1884, Hoàng Hoa Thám dựng cờ khởi nghĩa lập căn cứ chống Pháp ở
Yên Thế (Bắc Giang). Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, tại Phú Bình, nhiều thôn,
xóm trở thành đồn lũy, thành chiến trường để đánh giặc; có nơi cả một dòng
họ, một làng nhân dân đều theo nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Ngoài ra, nhân
dân Phú Bình còn ủng hộ lương thực, vũ khí cho nghĩa quân Yên Thế. Các xã
thuộc phía Đông - Nam Phú Bình đã trở thành chỗ đứng chân, nơi nương tựa
của nghĩa quân Yên Thế.
Dập tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế chưa được bao lâu, thực dân Pháp lại
phải đối phó với cuộc nổi dậy của binh lính và các tầng lớp nhân dân tại tỉnh
lị Thái Nguyên. Đêm ngày 30 rạng ngày 31/8/1917, anh em binh lính người 20
Việt trong quân đội Pháp đã cùng với tù chính trị và nhân dân các vùng xung
quanh, dưới sự chỉ huy của Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn), Lương Ngọc Quyến, Đội
Giá (Dương Văn Giá), Đội Trường (Phạm Văn Trường), đã nổi dậy khởi nghĩa
diệt quân Pháp để giành chính quyền. Tham gia cuộc khởi nghĩa có 23 lính khố
xanh quê ở Phú Bình: Dương Văn Giá, Đào Văn Mảnh, Hoàng Văn Chúc,
Bạch Đình Dũng, Dương Đình Bảnh, Dương Văn Bộ, Dương Văn Thìn,
Nguyễn Văn Cởn, Dương Danh Lợi, Dương Đình Trọng, Dương Văn Thành,
Dương Văn Kế, Dương Văn Lịch, Dương Văn Nhu, Dương Văn Tuế, Dương