Hậu phương thanh hóa trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1945 1954) luận văn ths lịch sử 60 22 56 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------

NGUYỄN TUYẾT NHUNG

HẬU PHƯƠNG THANH HOÁ TRONG CUỘC KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 – 1954)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.56

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. LÊ MẬU HÃN

HÀ NỘI – 2010


MỤC LỤC

Mở đầu ……………………………………………………………….

4

1. Lý do lựa chọn đề tài ………………………………………………

4

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài……………………………………….


22

Chương 2: Thanh Hóa tăng cường tiềm lực hậu phương,
chi viện cho tiền tuyến (1951 - 1954)

41

2.1. Xây dựng và phát triển tiềm lực của hậu phương ………………….

41

2.2. Thanh Hoá chi viện cho tiền tuyến …………………………………

57

Chương 3: Một số nhận xét chung

62

3.1. Xây dựng hậu phương vững mạnh và toàn diện…………………….

62

3.2. Bảo vệ hậu phương……………………………………….

65

3.3. Xây dựng và phát huy vai trò của hậu phương phải xuất phát từ vị
trí của Thanh Hoá và yêu cầu của tiền tuyến, với khẩu hiệu “tất cả cho
tiền tuyến”……………………………………………………………….


Hà Nội

HCM

:

Hồ Chí Minh

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

Nxb

:

Nhà xuất bản

QĐND

:

Quân đội nhân dân

TWĐ

:

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hậu phương là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của
chiến tranh, là nơi xây dựng và phát triển tiềm lực của chiến tranh cả về chính
trị, kinh tế, văn hoá và quân sự; là nơi chi viện chủ yếu sức người, sức của
cho tiền tuyến. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu phương.
Thanh Hoá là một tỉnh tự do thuộc Liên khu IV, có vị trí hiểm trở (3
mặt núi, một mặt biển), có 3 vùng tự nhiên (đồng bằng, trung du, miền núi),
có điều kiện cơ bản để xây dựng thành một tỉnh vững mạnh của vùng tự do
Liên khu IV - một hậu phương chiến lược cho cuộc kháng chiến trường kỳ,
gian khổ và hy sinh.
Với cách nhìn bao quát, toàn diện sâu sắc, trên cơ sở phân tích các
nhân tố: thiên thời, địa lợi, nhân hoà, khả năng và tiềm năng của tỉnh, Thanh
Hoá có thể trở thành một tỉnh của hậu phương lớn trong công cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 20 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vào thăm Thanh Hoá. Trong buổi nói chuyện với các đại biểu
thân sĩ trí thức, phú hào, Người đã giao cho Đảng bộ phải xây dựng Thanh
Hoá thành tỉnh kiểu mẫu tức là xây dựng chế độ dân chủ nhân dân phát triển
toàn diện tạo ra một tiềm lực hùng hậu đảm bảo đời sống của nhân dân trong
tỉnh và chi viện cho kháng chiến. Nhận thức được tầm quan trọng của việc
xây dựng hậu phương, Đảng bộ Thanh Hoá đã tích cực lãnh đạo nhân dân
quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Chín năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, hy sinh, Đảng bộ và nhân
Thanh Hoá đã hoàn thành xuất sắc vai trò căn cứ hậu phương kháng chiến của
dân tộc. Thanh Hoá là một tỉnh hậu phương vững mạnh của cuộc kháng chiến,
nghiên cứu lịch sử Thanh Hoá trong thời kỳ kháng chiến có ý nghĩa quan

4



- “Thanh Hoá - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
1945 – 1954” của Bộ Chỉ huy quân sự Thanh Hoá (1990) là công trình đề cập
đến việc xây dựng và động viên sức mạnh toàn dân đoàn kết đứng lên kháng
chiến kiến quốc, bảo vệ và xây dựng hậu phương, phục vụ tiền tuyến. Tuy
nhiên công trình miêu tả tiến trình lịch sử cuộc kháng chiến toàn dân, toàn
diện, tự lực cánh sinh của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ
trang Thanh Hoá trong 9 năm kháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược.
- Sách “Đảng bộ Thanh Hoá 70 năm chặng đường vẻ vang (1930 –
2000)” (2000), Nhà in Báo Thanh Hoá do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh
Hoá chỉ đạo biên soạn chào mừng 70 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, thành lập Đảng bộ Thanh Hoá (29/7/1930 – 29/7/2000) nhằm giáo dục
truyền thống, nâng cao niềm tin và tự hào về Đảng góp phần thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương. Nội dung cuốn sách mang
tính chất liệt kê, phân tích khái quát từ năm 1930 – 1999….
Các công trình lịch sử viết về Thanh Hoá là nguồn tư liệu có giá trị,
cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khái quát về cách mạng Thanh Hoá kể từ
khi Đảng bộ ra đời, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi qua các thời
kỳ.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
- Tái hiện sinh động, khách quan bức tranh lịch sử về quá trình quá
trình xây dựng và bảo vệ hậu phương Thanh Hoá (1945-1954).
- Nêu lên được kết quả cơ bản của việc xây dựng và bảo vệ hậu
phương Thanh Hóa thời kỳ 1945-1954 để làm nổi bật vai trò lãnh đạo của
Đảng bộ Thanh Hoá. Từ đó rút ra những nhận xét chung trong việc xây dựng
và bảo vệ hậu phương thời kỳ cách mạng tiếp theo.

6


tỉnh Thanh Hóa, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hóa, Sở Giáo dục- Đào tạo
Thanh Hóa, Bộ Chỉ huy Quân sự Thanh Hóa …
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: phương
pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp điều tra, so sánh, đối chiếu,
phân tích tổng hợp để làm sang tỏ các vấn đề trong sự lãnh đạo của Đảng bộ
Thanh Hóa trong việc xây dựng và bảo vệ hậu phương thời kỳ 1945-1954.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Thanh Hóa giữ vững chính quyền và xây dựng thành một
tỉnh vững mạnh của hậu phương kháng chiến (1945 - 1950)
Chương 2: Thanh Hóa tăng cường tiềm lực hậu phương, chi viện cho
tiền tuyến (1951 - 1954)
Chương 3: Một số nhận xét chung

8


CHƯƠNG 1
THANH HÓA GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN VÀ XÂY DỰNG THÀNH
MỘT TỈNH VỮNG MẠNH CỦA HẬU PHƯƠNG KHÁNG CHIẾN
(1945 - 1950)
1.1. Khái quát về quá trình đấu tranh giành và giữ vững chính
quyền ở Thanh Hóa (1945 - 1946)
1.1.1. Vài nét khái quát về Thanh Hoá
Trong một bức thư gửi danh sĩ Nguyễn Lộ Trạch, nhà yêu nước
Nguyễn Thượng Hiền viết: “Ở phía Tây Nam Hạc thành có hòn núi đẹp, cao
tột trời, ngôi nhà của tôi ở tại đó, cây cối rậm rạp có thể làm nơi nghỉ ngơi để
xem văn bài …” [57, tr.2]. Hạc thành là tỉnh lỵ Thanh Hoá.

nước biển), đến bãi bồi, ruộng vùng ven biển, các đảo ven bờ và ngoài khơi.
Đồi núi chiếm 3/4 diện tích cả tỉnh, nhiều đồi núi cao từ 1.000 m đến 1.500 m
gắn liền với vùng rừng núi thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào). Khí hậu Thanh Hoá có
tính chất chuyển tiếp giữa Bắc bộ và Trung bộ với kiểu khí hậu nhiệt đới gió
mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 240C ở vùng đồng bằng-trung du,
200C ở vùng núi. Lượng mưa trung bình từ 1.600 – 2.000 mm/năm. Số ngày
mưa 130 - 150 ngày và mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
trong năm.
Thanh Hoá là vùng đất có từ rất lâu đời của dân tộc Việt, qua các công
cụ thô sơ trong những xưởng chế tác đá công cụ ở núi Đọ (Thanh Hoá) cho
thấy người tiền sử đã từng sinh sống trên mảnh đất này từ thời đại đồ đá cũ.
Mặt khác, Thanh Hoá còn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong cả
lĩnh vực quân sự lẫn kinh tế. Do vậy, mảnh đất này là nơi phát sinh nhiều
triều đại phong kiến Việt Nam gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc.

10


Trong lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc, Thanh Hoá là
căn cứ, hậu phương của các cuộc chiến tranh ái quốc chống giặc ngoại xâm
oanh liệt, góp phần xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Chính
trên quê hương này đã sản sinh ra những người con ưu tú, anh hùng dân tộc:
Hai Bà Trưng, Dương Đình Nghệ, Lê Lợi,…..
Ở Thanh Hoá, nhân dân từ miền xuôi đến miền ngược đã hăng hái
tham gia các cuộc khởi nghĩa như: Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công
Tráng lãnh đạo; khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân và Cao Điểm lãnh
đạo…. Trong những cuộc khởi nghĩa đó thì khởi nghĩa Ba Đình được xem là
đỉnh cao của phong trào đấu tranh sôi nổi, rộng khắp các huyện đồng bằng,
ven biển. Mặc dù bị quân thù dìm trong biển máu, song tinh thần bất khuất, ý

Về kinh tế: Nhận thấy Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng người đông nên
thực dân Pháp đã ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công… Từ năm 1896
– 1925, chúng đã đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ nông sông Chu (gồm 1 đập
Bái Thượng, 1 kênh đào chính, 2 kênh đào phụ) với chiều dài là 110 km cùng
với hệ thống Chi Giang tiểu câu dài 2.625 km, đảm bảo tưới nước cho 5 vạn
ha ruộng đất của các huyện thuộc vùng đồng bằng sông Chu, sông Mã. Mặt
khác chúng đã tổ chức lực lượng điều tra thăm dò khoáng sản trên địa bàn
toàn tỉnh, độc chiếm và khai thác 35 khu mỏ (kẽm ở Quan Hoá, Crômít ở Cổ
Định,….), khai thác các loại gỗ quý hiếm… Mặt khác, người Pháp còn nắm
độc quyền về sản xuất rượu và buôn bán rượu, độc quyền về xuất - nhập khẩu,
đánh thuế cao các nghề thủ công nghiệp nội địa, chúng đưa hàng hoá nhập
ngoại tràn ngập vào thị trường… khiến nền kinh tế của Thanh Hoá nói riêng
và Việt Nam nói chung rơi vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nông
nghiệp tự cấp tự túc là chủ yếu, công thương nghiệp nhỏ lẻ và phụ thuộc vào
Pháp.

12


Về văn hoá xã hội: Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, chủ
trương xây dựng một nền văn hoá phản động, đồi trụy, tự ty dân tộc để dễ bề
cai trị. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Thanh Hóa chỉ có duy nhất một
trường Trung học, một số trường Tiểu học, một nhà thương và một số trạm xá
chủ yếu phục vụ bọn thực dân và quan lại phong kiến, hơn 90% dân số Thanh
Hoá mù chữ, ốm đau bệnh tật không nơi chữa bệnh, trong khi đó chúng lại
khuyến khích nhân dân dùng rượu cồn, thuốc phiện, các tệ nạn xã hội: mê tín,
dị đoan, mại dâm, cờ bạc phát triển làm suy thoái nòi giống, kìm hãm đồng
bào các dân tộc trong vòng tối tăm lạc hậu.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Thanh Hoá là
một tỉnh thuộc Liên khu IV cả về hành chính và quân sự. Các phủ, huyện,

bước khôi phục lại phong trào. Hầu hết đảng viên của Đảng bộ bị địch bắt tù
đày, các đảng viên còn lại đã dựa vào sự đùm bọc của quần chúng nhân dân
trong tỉnh đã kiên trì đấu tranh khôi phục lại Đảng bộ, Ngày 17/3/1934, Tỉnh
uỷ lâm thời được thành lập gồm có 7 đồng chí do đồng chí Lê Chủ làm Bí
thư. Cuối năm 1935, phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển mạnh ở nhiều
phủ, huyện.
Những năm 1936 – 1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào
quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ phát triển, toả rộng trên địa bàn
toàn tỉnh. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm của công
nhân Nhà máy Diêm Hàm Rồng, xưởng rượu Nam Đồng Ích, mỏ sắt Thanh
Xá (Hà Trung), núi Bần (Hậu Lộc)….
Tiếp đến những năm 1939 – 1945, Đảng bộ có những bước phát triển
vượt bậc, từ việc giành chính quyền ở một số làng xã, thôn ấp thuộc huyện
Hoằng Hoá vào ngày 24/7/1945 tiến đến phong trào cách mạng sôi sục khắp
tỉnh Thanh Hoá. Ngày 13/8/1945, Tỉnh uỷ Thanh Hoá triệu tập Hội nghị mở
rộng tại Mao Xá bàn biện pháp khẩn cấp phát động nhân dân nổi dậy giành
chính quyền. Ngày 15/8/1945 nhận được tin Nhật đầu hàng đồng minh vô

14


điều kiện, mặc dù chưa nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng về phát động
tổng khởi nghĩa nhưng Hội nghị mở rộng cho rằng: Thời cơ tổng khởi nghĩa
đã đến, tình thế chuyển biến thuận lợi, không thể ngồi chờ, cần phát động toàn
dân trong tỉnh nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền đồng thời cử cán bộ báo
cáo tình hình và xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương. Đêm ngày 18/8/1945,
Tỉnh uỷ Thanh Hóa quyết định phát động tổng khởi nghĩa, rạng sáng ngày
19/8 lực lượng cách mạng ở Yên Định, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quảng
Xương, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 20/8 huyện Nông Cống, Tĩnh Gia giành được chính quyền,…. Tại thị xã

địa của chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động ở các nước TBCN đòi tự do dân tộc, dân chủ, cải thiện đời
sống diễn ra sôi nổi và rộng lớn; các lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ trên
thế giới đang trên đà tấn công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch dưới nhiều hình thức và tính chất khác nhau…
Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã bị các thế lực
phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt: Ở miền Bắc,
khoảng 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch lũ lượt kéo vào chiếm đóng Hà Nội
và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16; Ở
miền Nam vĩ tuyến 16 quân đội Anh đã kéo vào đồng loã và giúp thực dân
Pháp quay trở lại nước ta xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngoài lực lượng của
quân Tưởng, Anh, Pháp còn có khoảng 6 vạn quân Nhật. Chưa lúc nào trên
đất nước Việt Nam lại có nhiều kẻ thù đến như vậy.
Chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến
nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nhân dân vừa trải
qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai
triệu đồng bào (tức là gần 1/10 dân số nước ta) đã chết vì đói và dịch bệnh.
Công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn, ngoại thương bị đình trệ, thủ công
nghiệp phá sản; hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng vọt, hàng vạn

16


công nhân không có việc làm. Về tài chính, kho bạc của chính quyền cách
mạng chỉ có 1,3 triệu đồng thì quá nửa là tiền hào giấy nát. Trong khi đó,
Ngân hàng Đông Dương ta không chiếm được, đồng tiền quan kim do quân
Tưởng tung ra buộc ta phải lưu hành khiến cho thị trường càng rối loạn thêm.
Hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân số Việt
Nam mù chữ,….
Những khó khăn trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa đặt ra những

kháng chiến. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hoá đứng trước muôn
vàn khó khăn phức tạp và thử thách nghiêm trọng.
Ngày 18 tháng 11 năm 1945, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã họp bàn biện
pháp thực hiện 6 điều cần làm ngay của Chủ tịch Hồ Chí Minh: một là, phát
động chiến dịch tăng gia sản xuất; hai là, mở chiến dịch chống nạn mù chữ;
ba là, tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; bốn là, mở phong trào
giáo dục cần, kiện, liêm, chính để bài trừ những thói hư, tật xấu của chế độ cũ
để lại; năm là, bãi bỏ ngay thuế thân, thuế chợ, thuế đò và nghiêm cấm việc
hút thuốc phiện; sáu là, tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Hội nghị chủ trương đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, tổ chức các đội tuyên truyền lưu động đưa chủ trương
“Kháng chiến kiến quốc” của Trung ương Đảng, Chính phủ đến tận các bản
làng từ đồng bằng cho đến miền núi hẻo lánh. Đối với các huyện miền núi,
với đa số là đồng bào các dân tộc ít người. Tỉnh uỷ chủ trương thành lập Uỷ
ban Thượng du để nắm tình hình khu vực miền núi nhằm thực hiện đoàn kết
lực lượng toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Đồng thời Tỉnh uỷ chỉ đạo tăng cường lực lượng vũ trang cho vùng Thượng
du để trấn áp bọn phản động lợi dụng lòng tin của đồng bào các dân tộc để lật
đổ chính quyền cách mạng.

18


Một trong những vấn đề cấp bách mà Đảng bộ và chính quyền cách
mạng Thanh Hoá phải tập trung giải quyết là nhanh chóng ổn định đời sống
mọi mặt cho nhân dân. Thực hiện 6 nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Chính
phủ và Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ
Thanh Hoá vừa phát động phong trào “Thi đua tăng gia sản xuất” vừa chỉ đạo
chính quyền các cấp thành lập Ban cứu tế, Ban Khuyến nông và Sở Canh

Nhân dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân
giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của
mình, bổn phận của mình phải có kiến thức mới để có thể tham gia
vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc biết viết
chữ quốc ngữ. [50, tr.18]
Hưởng ứng sôi nổi lời kêu gọi và các Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, khắp nơi từ thành phố đến nông thôn, trong các nhà máy đến đồng
ruộng, nhiều lớp bình dân học vụ đã được mở với khẩu hiệu “Đi học là kháng
chiến”, “Mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các
đường phố, xóm làng.
Về lực lượng vũ trang: Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Chi đội Đinh Công
Tráng được thành lập với số lượng 1.500 người, biên chế thành 9 đại đội, vũ
khí chủ yếu là đại đao, giáo mác. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ủy ban nhân
dân lâm thời tỉnh, sự đồng tình hỗ trợ của nhân dân, Chi đội đã nhanh chóng
chiếm Hoàng cung trong nội thành, tiếp quản Bưu điện, Ngân hàng, nhà tù,
trại lính của của Pháp - Nhật. Ở mỗi huyện đều có một trung đội du kích tập
trung quân số 30 – 40 người dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ủy ban nhân dân
lâm thời huyện. Lực lượng tự vệ Thanh Hoá do Mặt trận Việt Minh tổ chức
trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nhanh chóng được xây dựng
củng cố và phát triển đáp ứng cho nhiệm vụ kháng chiến.

20


Vừa khẩn trương chuẩn bị chống giặc bảo vệ địa phương, vừa chủ
động và kịp thời hưởng ứng lời kêu gọi đồng bào cả nước dốc sức vì đồng bào
miền Nam của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng
bộ và nhân dân Thanh Hoá liên tiếp tổ chức các cuộc mittinh, biểu tình, lên án
hành động xâm lược của thực dân Pháp, nguyện sát cánh cùng đồng bào miền
Nam với tinh thần “Còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu”.

quyền lại càng khó hơn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hoá đã
giữ vững được chính quyền cách mạng, lực lượng vũ trang được xây dựng từ
tỉnh, huyện, đến xã, khối đại đoàn kết dân tộc được xây dựng tạo ra những
điều kiện cơ bản chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
1.2. Xây dựng hậu phương và chi viện cho tiền tuyến (1947 - 1950)
1.2.1. Xây dựng và bảo vệ căn cứ hậu phương
Trước hành động gây chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân
Pháp, đêm 19/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động cả nước đứng lên
tiến hành cuộc kháng chiến:
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, xuổng, gậy gộc. Ai cũng
phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. [46, tr.480]
Nhận rõ được bản chất xâm lược và tiềm lực hùng mạnh của thực dân
Pháp cũng như thuận lợi và những khó khăn của ta, Trung ương Đảng và Hồ
Chí Minh đã sớm có những dự kiến đối phó với tình hình. Vì vậy, ngay sau
khi phát động cuộc kháng chiến toàn quốc, Đảng và Hồ Chí Minh đã kịp thời
công bố đường lối, phương châm kháng chiến cho toàn dân thực hiện: tiến

22


hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình
là chính.
Để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu phương, coi đó là
một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh

cả về chính trị, hành chính, kinh tế, quân sự và xã hội. Người lưu ý Thanh
Hoá cần phải làm tốt nhiệm vụ đón tiếp, giúp đỡ chu đáo cán bộ, đồng bào
các nơi tản cư đến, từ 2,5 đến 10 vạn người.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đảng bộ
Thanh Hoá đã tìm ra giải pháp phù hợp để chỉ đạo các vùng, miền trong tỉnh
thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng, bảo vệ căn cứ, hậu phương Thanh
Hoá. Đồng thời từng bước xây dựng Thanh Hoá trở thành một hậu phương
chiến lược của cuộc kháng chiến toàn quốc.
- Về chính trị
Xây dựng hậu phương về chính trị là một trong những nhiệm vụ của
công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong kháng chiến. Vì vậy, việc
củng cố và phát triển Đảng, hệ thống chính quyền các cấp và tổ chức quần
chúng trở thành nhiệm vụ trước mắt hết sức khẩn trương.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: về chính trị, toàn dân đoàn kết, yêu nước chống
Pháp. Chính quyền phải là đầy tớ của nhân dân, phải thanh khiết từ to đến
nhỏ.
Trên tinh thần đó, ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chính phủ ban hành
Sắc lệnh số 1/SL về tổ chức bộ máy chính quyền trong thời kỳ đặc biệt. Thực
hiện Sắc lệnh, cuối tháng 3/1947 Uỷ ban Kháng chiến (UBKC) tỉnh Thanh
Hoá được thành lập, đồng chí Đặng Việt Châu – phái viên của Chính phủ
được bổ nhiệm làm Chủ tịch. Trong tháng 4 và 5/1947, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo
các cấp thành lập UBKC. Song song với UBKC thì Uỷ ban Hành chính
(UBHC) cũng được thành lập do đồng chí Đặng Thai Mai làm Chủ tịch, ngày

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status