TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LICH SỬ
«
ĐOÀN DÁNG PHƯƠNG THẢO
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THựC HIỆN
PHƯƠNG CHÂM BIẾT THẮNG TỪNG
BƯỚC TRONG cuôc KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 -1954)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngưòi hướng dẫn khoa học
PGS. TS. VŨ QUANG VINH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
nêu trong bài khóa luận là thành thực và chưa từng được ai công bổ trong bất kỳ
công trình nào.
Tác giả
Đoàn Dáng Phương Thảo
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc đến giáo viên hướng hướng dẫn em đó là PGS.TS Vũ Quang Vinh, người thầy
đã tận tình chỉ bảo, đóng góp ý kiến và bổ sung cho em trong việc triển khai thực hiện
THỰC HIỆN PHUONG CHÂM BIẾT THĂNG TỪNG BUỚC ...........................31
2.2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO THựC HIỆN PHUONG CHÂM BIẾT THẮNG
TỪNG BUỚC TRONG GIAI ĐOạN CUốI CUộC KHÁNG CHIếN
CHỔNG PHÁP (1950-1954) ..................................................................................34
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ........................ 52
3.1. NHẬN XÉT....................................................................................................52
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ..........................................................54
KẾT LUẬN .................................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................65
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẤT
CNXH
TDP
XHCN
: Chủ nghĩa xã hội
: Thực dân Pháp :
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, để chiến thắng kẻ thù lớn
mạnh, trên cơ sở đường lối và phương pháp cách mạng đúng, Đảng phải có nghệ thuật
chỉ đạo tài giỏi. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, đúc kết từ
thực tiễn đấu tranh, ông cha ta đã biết vận dụng rất nhiều phương châm để có thể đánh
thắng được kẻ thù xâm lược, trong đó có phương châm biết thắng từng bước. Nghệ
Đồng chí Lê Duẩn (1970), “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì
chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới”, Nxb Sự thật, 1970. Tác giả đã khẳng
định “Đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng bước cho cách mạng tiến lên đánh
bại hẳn kẻ địch, giành thắng lợi hoàn toàn đó là một quy luật đấu tranh cách mạng”
[31, tr38]. Đây là một phương châm để giành thắng lợi từng bước trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
GS. Trần Nhâm (1995), “Nghệ thuật biết thắng từng bước”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Tác giả xuất phát từ góc độ triết học, tác giả đã luận giải và làm
sáng tỏ cơ sở phương pháp luận của đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng
ta. Thực té chỉ rõ, trên cơ sở nắm vững mục đích cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo cách
mạng cũng như nghệ thuật sử dụng phương pháp cách mạng còn bao gồm vấn đề biết
thắng từng bước cho đúng. Sử dụng sức mạnh tổng hợp, đẩy lùi kẻ địch từng bước,
giành thắng lợi hoàn toàn, đó là một quy luật của đấu tranh cách mạng. Nghệ thuật
biết thắng từng bước là một đóng góp có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn.
Đinh Xuân Tú (2002), “Đảng chỉ đạo biết thắng từng bước trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1965- 1975)”. Tác giả đi sâu nghiên cứu về giai đoạn này để trả
lời câu hỏi tại sao chúng ta đánh Mỹ và thắng Mỹ. Đồng thời Đảng vận dụng biết
thắng từng bước để đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ như đánh bại
chiến lược chiến tranh cục bộ, đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh tiến tới
giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Dựa trên cơ sở những tác giả đã nghiên cứu trước đây, người nghiên cứu đã
tổng kết lại quá trình Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện phương châm biết thắng từng
bước trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954). Được thực hiện qua các
giai đoạn của cuộc kháng chiến như Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiên phương châm
2
biết thắng từng bước trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến (1945-1950); Đảng
lãnh đạo tổ chức thực hiện phương châm biết thắng từng bước từ sau chiến thắng Biên
4.2. Phạm vi nghiên cứu
về mặt thời gian:
Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài là từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 7
năm 1954 (Tháng 11 năm 1945 là Ban Chấp Hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị
“kháng chiến kiến quốc”, vạch ra con đường kháng chiến trong cách mạng Việt Nam.
Tháng 7 năm 1954 Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Đông Dương được ký kết, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược nhân dân ta.
về mặt không gian:
Không gian nghiên cứu của đề tài là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
tháng 11 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954.
Những chủ trương, đường lối, chỉ thị, Nghị quyết của Đảng tác động đến mặt
trận quân sự làm thay đổi cục diện chiến trường.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Để giải quyết vấn đề đặt ra, người nghiên cứu dựa trên những quan điểm của
chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chiến tranh
cách mạng, về bạo lực cách mạng, về chiến tranh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, thống kê để làm rõ
nội dung đề tài.
5.3. Nguồn tài liệu
Các văn kiện của Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến
1954.
Tài liệu sách báo: Những tài liệu, sách báo, tạp chí, bài viết, luận văn, luận án
và các tài liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu được đăng tải công khai về
Những năm 1945- 1946, Đức, Ý, Nhật bị đánh bại, các nước tư bản Anh, Pháp
đều bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, nền kinh tế- tài chính giảm sút, phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều nước Châu Á, châu Phi, phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân trong các nước tư bản châu Âu cũng bột khởi. Quy mô và chiều
sâu của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc làm lung lay hệ thống thuộc địa và
làm suy yếu lực lượng của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc ở nhiều nước giành được thắng lợi vào những năm tiếp sau.
Lúc này, cách mạng Trung Quốc đã giải phóng phần lục địa phía Bắc với gàn
100 triệu trên 450 triệu dân, nhưng cuộc nội chiến giữa lực lượng cách mạng do Đảng
6
Cộng sản lãnh đạo với lực lượng Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đang diễn ra
quyết liệt.
Ở các nước tư bản châu Âu, nền kinh tế bị chiến tranh thé giới tàn phá nặng
nề. Các chính phủ cầm quyền lo vơ vét của cải, bóc lột nhân lực các nước thuộc địa để
phục vụ cho việc khôi phục nền kinh tế ở chính quốc và chống lại các phong trào đấu
tranh đòi quyền độc lập càng làm cho đời sống các tầng lớp lao động thêm điêu đứng.
Riêng ở Mỹ, mặc dù Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm hơn 350.000 người
thiệt mạng và tiêu tốn 240 tỷ đô la nhưng nước Mỹ chẳng những không bị tàn phá mà
các tập đoàn tư bản còn giàu lên nhanh chóng nhờ vào buôn bán vũ khí. Năm 19451946, nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh hơn tất cả các nước tư bản thế giới cộng lại. Mỹ
giữ độc quyền về vũ khí hạt nhân. Với sức mạnh về kinh té, khoa học, kỹ thuật quân
sự, Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu làm bá chủ thế giới. Mỹ đã lợi dụng sự suy yếu của
các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây, dùng viện trợ về kinh tế để khống chế
các nước này. Mỹ lo sợ sau chiến tranh, các nước đế quốc Tây Âu khôi phục xong nề
kinh té đã bị tàn phá, sẽ tiếp tục duy trì trật tự thế gới cũ được phân chia từ thế kỷ XIX
giữa các nước đế quốc thực dân Tây Âu. Và như vậy, Mỹ sẽ không có thị trường rộng
lớn để xuất khẩu, đưa nền kinh té phát triển lên quy mô toàn cầu. Để thực hiện ý đồ
đó, Mỹ đưa ra kế hoạch Marshall, triển khai chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ
Các đảng phái phản động như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt
Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) bám gót quân đội nước ngoài về nước
chống phá cách mạng quyết liệt, lập chính quyền phân liệt ở nhiều nơi (Vĩnh Yên,
Yên Bái, Móng Cái...). Một loạt các tổ chức khác, như Đại Việt quốc xã, Đại Việt duy
tân, Đại Việt quốc gia liên minh, Việt Nam phục quốc đồng minh hội cũng ngóc đầu
dậy ráo riết hoạt động mưu toan xóa bỏ quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam của
Đảng ta, chống phá chính quyền cách mạng.
Ở Miền Nam, các lực lượng thân Pháp, thân Nhật, nhất là bọn phản động đội
lốt tôn giáo trong Cao Đài, Hòa Hảo hoạt động chống phá cách mạng rất quyết liệt.
Thực dân Pháp giúp bọn phản động đưa ra cái gọi là “Nam Kỳ tự trị” để chia cắt đất
nước và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Pháp cho ra mắt “ nước Cộng hòa Nam
kỳ tự trị” do Nguyễn Văn Thinh đứng đầu.
Bọn Tơrốtkit cũng ráo riết hoạt động chống phá chính quyền nhân dân, chúng
đưa ra luận điệu “cách mạng triệt để”, hô hào nông dân đứng lên đấu tranh chống tư
8
sản và địa chủ, phá hoại Mặt trận dân tộc thống nhất.
Chính sách áp bức, bóc lột của Pháp, Nhật đã để lại những hậu quả hết sức
nặng nề: 50% ruộng đất ở Bắc Kỳ bị bỏ hoang, 6 tỉnh Bắc Bộ hét lũ lụt lại hạn hán;
nhiều nhả máy đóng cửa; thương nghiệp đình trệ; hàng hóa khan hiếm; ngân quỹ
chống rỗng;...Nhà nước cách mạng không nắm được ngân hàng, tiếp nhận kho bạc chỉ
còn 1,2 triệu đồng, quá nửa là tiền rách nát. Trong khi đó quân Tưởng lại bắt ta tiêu
tiền Quan Kim càng làm cho nền tài chính của đất nước khó khăn hơn. Nạn đói chưa
được khắc phục, vẫn đe dọa đến đời sống nhân dân.
Chính sách ngu dân hơn 80 năm của thực dân Pháp để lại hậu quả là 95% dân
số mù chữ, hạn chế việc phát huy quyền làm chủ trong chế độ mới. Nhiều tệ nạn xã
hội, tập tục lạc hậu vẫn tồn tại trong đời sống nhân dân, gây cản trở sự phát triển đời
sống văn hóa mới.
lợi ích , song lại có chung một dã tâm tiêu diệt nhà nước cách mạng non trẻ, tiến tới
thủ tiêu nền độc lập của nhân dân ta.
1.2. QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO THựC HIỆN PHƯƠNG CHÂM BIẾT
THẮNG TỪNG BƯỚC GIAI ĐOẠN (1945-1950)
1.2.1. Đảng lãnh đạo triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù (19451946)
Để giải quyết những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách, Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã thực hiện một chính sách đối ngoại mềm dẻo, khôn khéo, lợi dụng mâu
thuẫn, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, chọn cái có lợi hơn, hoặc ít hại nhất trong những cái
bất lợi để đấu tranh buộc các thế lực thù địch công nhận và tôn trọng chính quyền dân
chủ nhân dân.
Một là, Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc với quân
Tưởng
Cuối tháng Tám năm 1945, theo thỏa thuận của Đồng minh tại hội nghị
Pốtxđam (Posdam), gần 20 vạn quân của chính phủ Tưởng Giới Thạch ồ ạt kéo vào
nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Ngày 11-9- 1945,
Lư Hán đến hà Nội. Tiêu Văn được Tưởng Giới Thạch giao nhiệm vụ sắp xếp chế độ
chính trị ở miền Bắc Việt Nam cũng có mặt ở Hà Nội [3, tr.47].
Theo gót quân Tưởng, bọn tay sai Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt
Cách) vào theo đường Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái. Bọn Việt Nam Quốc dân đảng
10
(Việt Quốc) vào theo đường Lào Cai, Hà Giang. Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh,
Nguyễn Tường Tam cũng bám gót quân Tưởng về nước. Chúng dựa vào thế lực quân
Tưởng chiếm đóng một số thị xã, thị trấn, lập ra chính quyền phản động ở Vĩnh Yên,
Yên Bái, Móng Cái...
Đen Hà Nội, quân Tưởng có những yêu sách hết sức ngang ngược. Lư Hán đòi
ta báo cáo quân số và tổ chức quân đội, Tiêu Văn đòi cải tổ chinh phủ, giành nhiều
chức vụ quan trọng như thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao cho
dụng mâu thuẫn, phân hóa hàng ngũ kẻ thù. Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc nêu rõ:
Đối với Tàu, vẫn chủ trương Hoa- Việt thân thiện. Để giữ vững hòa hoãn với chính
quyền Trung Hoa dân quốc, Đảng chủ trương nhân nhượng nhiều mặt, két hợp nhiều
biện pháp để hạn chế, đẩy lùi ý đồ phá hoại và lật đổ cuả chính quyền Tưởng Giới
Thạch. Nhân nhượng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc bất di, bất dịch là giữ vững
chính quyền dân chủ nhân dân.
Do đó Đảng chủ trương hòa hoãn với chính quyền Tưởng Giới Thạch, lợi dụng
mâu thuẫn giữa chính quyền Tưởng Giới Thạch với thực dân Pháp về quyền lợi ở
Đông Dương để tập trung ngọn lửa đấu tranh chống thực dân Pháp đang tái xâm lược
Việt Nam ở Nam Bộ.
“Hòa với Tưởng” là điều cần thiết nhưng không phải dễ dàng. Đảng ta đã vận
dụng sách lược hết sức linh hoạt, kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp để hạn chế, đẩy lùi
ý đồ phá hoại và lật đổ của chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhanh chóng phát hiện ra những chỗ yếu, những
mâu thuẫn giữa các phe phái trong hàng ngũ quân đội Trung Hoa dân quốc, tiến hành
phân hóa nội bộ kẻ thù. Đảng và Chính phủ nêu khẩu hiệu “Hoa- Việt thân thiện”
cùng với những khẩu hiệu “Kiên quyết ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh”, “Việt Nam
độc lập muôn năm”, “Kiên quyết chổng thực dân Pháp xâm lược”...âể đón tiếp quân
đội Trung Hoa dân quốc.
Ngày 2-10-1945, trong buổi lễ đón Hà ứng Khâm, Tổng tư lệnh Lục quân quân
đội nhân dân Trung Hoa dân quốc cùng tướng Mỹ Mắc Lurơ (MC. Lure) đến Hà Nội,
Chính quyền cách mạng huy động 300.000 người diễu hành qua Phủ toàn quyền cũ,
hô vang những khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “ủng hộ Việt Nam
12
độc lập đồng minh”, “ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam”, “ủng hộ Chủ tịch
Hồ Chí Minh”. Cuộc diễu hành được tổ chức hết sức rầm rộ, mang danh nghĩa đón
phái bộ Đồng minh, song thực chất là một cuộc biểu dương ý chí và lực lượng của
13
nước và toàn xã hội vẫn được giữ vững, tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được củng cố, số
lượng đảng viên tiếp tục tăng. Sự lãnh đạo của Đảng lúc này là “kín đáo và có hiệu
quả” [30, tr. 161].
Với sách lược khôn khéo của ta với Tưởng . Chúng ta có điều kiện và thời gian
củng cố thực lực, tập trung lực lượng để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp ở miền Nam.
Hai là, Thực hiện sách lược hòa hoãn với thực dân Pháp
Đến cuối tháng 2- 1946, dân tộc Việt Nam đứng trước tình thế mới. Lúc này,
quân Anh đang rút khỏi miền Nam Đông Dương, quân Nhật bị tước vũ khí đang lần
lượt về nước. Quân đội Trung Hoa dân quốc vẫn đóng quân từ vĩ tuyến 16 trở ra.
Thực dân Pháp đưa một số lượng lớn quân viễn chinh sang Đông Dương và đang
chiếm đóng hầu hét Nam Bộ, Nam Trung Bộ, chiếm đại bộ phận Campuchia, khống
chế vùng rộng lớn ở Lào. Sau khi cho rằng đã “bình định” Nam Bộ và Nam Trung Bộ,
thực dân Pháp xúc tiến việc đưa quân ra miền Bắc nước ta bằng cách xúc tiến việc dàn
xếp , thỏa thuận với chính quyền Trung Hoa dân quốc.
Sau hơn nửa năm không thực hiện được mưu đồ tiêu diệt Đảng ta, lật đổ chính
quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam, lại bị thất bại nặng nề trong cuộc tấn công
vào vùng giải phóng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính quyền Trung Hoa dân
quốc buộc phải ký với Pháp Hiệp ước Hoa- Pháp ngày 28-2-1946 để đổi lấy một số
quyền lợi kinh tế ở Đông Dương “Hoa kiều ở Việt Nam được hưởng những quyền lợi
có tính chất truyền thong và những lợi ích như người Pháp; Pháp trả lại các tô giới và
nhượng địa trên đất Trung Hoa sớm hơn thời hạn đã kỷ, bán lại đoạn đường sắt Côn
Minh- Ho Kiều để Trung Hoa dân quốc chở hàng về nước, Pháp miễn thuế qua cảng
Hải Phòng...”. Bù lại, chính quyền Trung Hoa dân quốc đồng ý cho quân đội Pháp
được thay thế quân đội Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật ở miền Bắc Đông Dương.
Trước tình hình đó, ngày 3-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ
thị Tình hình và Chủ trương. Chỉ thị cho rằng “ Hiệp ước Hoa- Pháp không phải là
lãnh sự quán Anh.
Hiệp định sơ bộ có những nội dung chính sau:
Nước Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do,
có Chính phủ tự chủ, có nghị viện, có quân đội, có tài chính riêng; ở trong Liên bang
Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp;
15
Chính phủ cam kết sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về
vấn đề thống nhất ba kỳ (Bắc- Trung - Nam);
Phía việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam làm nhiệm
vụ thay thé quân đội Trung Hoa dân quốc, số quân Pháp này sẽ phải rút hét sau một
thời gian quy định (trong vòng 5 năm, mỗi năm rút 1/5);
Hai bên đình chiến để mở đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân
hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy [14, tr.48].
Hiệp định Sơ bộ 6-3 là văn bản pháp lý đàu tiên mà nhà nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa ký kết với nước ngoài. Việc ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 buộc
Pháp, làn đàu tiên , phải công nhận quyền tự do của Việt Nam, một dân tộc trước đó
từng là thuộc địa của Pháp.
Việc ký kết hiệp định sơ bộ là chủ trương sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng
sản Đông Dương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh xét trong tình hình lúc bấy giờ. Với việc
ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, ta đã phân hóa được kẻ thù, thoát ra khỏi tình thế cô
độc, giành lại được thế chủ động, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù chính là
thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời tạo điều kiện hòa hoãn để nhân dân ta củng cố
thành quả cách mạng đã giành được, chuẩn bị đưa sự nghiệp toàn quốc lên bước phát
triển mới.
Ngày 9-3-1946, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Hòa để tiến”, bản
chỉ thị phân tích rõ hơn chủ trương tạm thời hòa hoãn với thực dân Pháp là nhằm :
“1. Tránh tình thế bất lợi, phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực
Ngày 22-6, Chủ tịch hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa
tới Paris. Trong những ngày ở thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên gặp
gỡ, nói chuyện với đại diện các chính Đảng và các đoàn thể chính trị lớn của nước
Pháp, với đông đảo đồng bào Việt Nam tại Pháp, với những nhân vật có vị trí quan
trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của Pháp. Người cũng đã gặp gỡ với
các tổ chức quần chúng quốc tế, nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội châu Âu, châu
Á, châu Phi, tiếp xúc với các đại diện quân sự, ngoại giao của các nước lớn như Mỹ,
Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc để làm rõ tình hình Việt Nam và Đông Dương, lập
trường của Chính phủ Việt Nam...
Ngày 6-7-1946, tại lâu đài Phôngtenơblô , cuộc đàm phán chính thức giữa hai
phái đoàn Việt Nam và Pháp khai mạc.
17
Phát biểu trong buổi lễ khai mạc, Trưởng Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, đồng chí Phạm Văn Đồng kiên quyết chỉ rõ âm mưu tái chiếm Việt Nam của phía
Pháp, đồng thời nêu rõ lập trường trước sau như một của dân tộc Việt Nam là quyết
tâm như một của dân tộc Việt Nam là quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ, quan hệ Việt- Pháp phải dựa trên cơ sở hòa bình, tôn trọng lẫn
nhau, hai bên cùng có lợi.
Phía Pháp vẫn giữ nguyên lập trường mà họ đưa ra từ Hội nghị trù bị Đà Lạt:
Lập chế độ Toàn quyền ở Đông Dương, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, không thừa
nhận Việt Nam có quyền ngoại giao riêng.
Trước thái độ kiên quyết của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phái
đoàn Pháp vẫn ngoan cố giữ lập trường hiếu chiến và chính thái độ đó của phía Pháp
đã khiến cho cuộc đàm phán không tiến triển được.
Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng hải ngoại Pháp
M.Moutet (Mutê) ký bản Tạm ước 14-9-1946 Việt - Pháp gồm 11 điều khoản. Nội
dung của Tạm ước là sự thỏa thuận tạm thời về một số vấn đề cấp bách có tính chất bộ
Bằng sự kiên trì, nồ lực và sáng tạo trên mặt trận địch vận, ta đã khoét sâu mâu
thuẫn toong nội bộ kẻ thù, thổi bùng phong trào phản chiến toong binh lính Pháp, làm
nội bộ địch hoang mang, nhiều đơn vị địch chưa đánh đã tan vỡ từng mảng.
Bốn là, Lợi dụng mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân lao động Pháp với nhà
cầm quyền thực dân phản động, bọn đầu sỏ chiến tranh.
Những bức thư của Hồ Chí Minh gửi Quốc hội, Chính phủ, nhân dân và binh
lính Pháp thể hiện lập trường chinh nghĩa, yêu chuộng hòa bình và lòng nhân ái của
Người đã có tác động sâu sắc với các tầng lớp nhân dân Pháp, thổi bùng lên ngọn lửa
phản đối chiến tranh, đòi hòa bình ở Đông Dương của mọi tầng lớp nhân dân Pháp.
Tiêu biểu là các cuộc đình công của công nhân trong các công binh xưởng đình công
không chịu sản xuất vũ khí trở sang Đông Dương; công nhân bốc vác vứt vũ khí,
phương tiện xuống biển, phản đối việc bắt lính, v.v... Những cuộc đấu tranh trên làm
cho Pháp không có đầu não và hậu phương ổn định, việc cung cấp sức người và sức
của cho Đông Dương bị hạn chế. Điều đó góp phần quan trọng vào thắng lợi của ta và
thất bại của địch. Trước sức mạnh trong đánh ra, ngoài đánh vào, buộc kẻ thù phân tán
đối phó lực lượng lớn hóa nhỏ, mạnh hóa yếu.
19