Đảng lãnh đạo chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 1954) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
___________________________________

LÊ VĂN THÀNH

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH
Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI -2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
___________________________________

LÊ VĂN THÀNH

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH
Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN THỨC



CTQG

Chính trị Quốc gia

3

DCCH

Dân chủ Cộng hòa

4

Nxb

5

QĐND

Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ
TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN
TRONG NHỮNG NĂM 1945-1950 ............................................................... 9
1.1. Khái quát về Tây Nguyên ..................................................................... 9
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội .............................. 9

3.1. Một số nhận xét ................................................................................... 76
3.1.1. Ưu điểm .......................................................................................... 76
3.1.2. Hạn chế ........................................................................................... 83
3.2. Bài học kinh nghiệm ........................................................................... 87
3.2.1. Nắm bắt đặc điểm tình hình địa bàn, kịp thời có những chủ trương,
biện pháp phù hợp với Tây Nguyên ......................................................... 87
3.2.2. Luôn chăm lo, xây dựng và củng cố tổ chức Đảng và đội ngũ đảng
viên, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số để lãnh đạo chiến tranh
du kích ....................................................................................................... 89
3.2.3. Xây dựng lực lượng, căn cứ, làng bản chiến đấu và động viên toàn
dân tham gia chiến tranh du kích .............................................................. 93
3.2.4. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính
quy, giành ưu thế tiến công chiến lược ..................................................... 97
Tiểu kết chương .......................................................................................... 99
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 104
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 115


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh du kích là chiến tranh được tiến hành theo phương thức đánh
du kích, với lực lượng nhỏ lẻ, nòng cốt là lực lượng vũ trang địa phương nhằm
chống lại các đối phương có ưu thế hơn về sức mạnh quân sự [32, tr. 224]. Hiểu
một cách đơn giản, thì đây “là hình thức tác chiến của quần chúng nhân dân, của
quân đội và nhân dân một nước yếu, trang bị kém cỏi, đứng lên chống lại một
quân đội xâm lược có trang bị kỹ thuật mạnh hơn. Đó là một lối đánh của chiến
tranh cách mạng dựa vào tinh thần anh dũng mà chiến thắng vũ khí hiện đại, dựa
vào nhân dân, dựa vào làng bản mà chiến đấu, chỗ mạnh địch thì tránh, chỗ yếu
địch thì đánh, khi phân tán, khi tập trung, khi đánh tiêu hao, khi đánh tiêu diệt,

suốt của đảng bộ, quân và dân đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, diễn ra
ngay từ ngày đầu cho đến khi kháng chiến kết thúc thắng lợi. Cuộc chiến đấu
đó vừa mang những nét chung của các địa phương, các vùng miền trong cả
nước lại mang những đặc trưng riêng. Trong cuộc đấu tranh đó, quân và dân
Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi to lớn, nhưng cũng có những hạn
chế, vấp váp, phải chịu không ít tổn thất, mất mát và hy sinh.
Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với chiến tranh du kích ở
chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954) nhằm góp phần dựng lại cuộc đấu tranh anh dũng của quân và
dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, góp phần lý
giải rõ hơn một trong những nhân tố tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến,
làm phong phú thêm những kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh du kích của
cả nước, đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân
địa phương ở Tây Nguyên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện
nay. Với những lý do trên, Học viên quyết định chọn “Đảng lãnh đạo chiến
tranh du kích ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954) làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chiến tranh du kích ở Việt Nam nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng là một
chủ đề lớn. Từ nhiều năm qua đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tập thể và
các nhà khoa học trong nước cũng như quốc tế. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
về đề tài chiến tranh du kích, các công trình tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh
giá ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể chia thành các nhóm như sau:
2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kháng chiến chống
Pháp ở Tây Nguyên
Võ Nguyên Giáp (1959): Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân,

du kích, chiến tranh nhân dân địa phương, Nxb QĐND, Hà Nội; Võ Nguyên
Giáp, Chỉ đạo chiến tranh du kích, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản; Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (19451954), Nxb CTQG, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (2006),
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (1930-2005), Nxb Đắk Nông; Đảng Cộng sản
Việt Nam, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum (2006), Lịch sử Đảng bộ
tỉnh Kon Tum, Tập 1 (1930 – 1975), Nxb Đà Nẵng; Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005), Nxb CTQG,
Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (2008), Lịch sử Đảng bộ
tỉnh Lâm Đồng (1945-1975), Nxb CTQG, Hà Nội;… Bên cạnh đó, còn có các
công trình Lịch sử Đảng bộ các huyện, thị xã như: Ban Thường vụ Thành ủy
Đà Lạt (1994), Lịch sử thành phố Đà Lạt (1930-1975), Thành ủy Đà Lạt ấn
hành; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mang Yang (1999), Lịch sử Đảng bộ
huyện Mang Yang (1945-1995), Nxb CTQG, Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ Thị xã
An Khê (1945-2005), Nxb CTQG, 2010; …
Các tài liệu này chủ yếu đề cập đến quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của
Trung ương Đảng và Đảng bộ các cấp trong quá chỉ đạo chiến tranh du kích
của cả nước, cũng như ở tỉnh, huyện cụ thể trên chiến trường Tây Nguyên.
4


Liên quan tới chủ đề chiến tranh du kích nói chung, chiến tranh du kích
trên chiến trường Tây Nguyên nói riêng trong kháng chiến chống thực dân Pháp,
nhiều năm qua đã có một số bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Vũ
Quang Hiển (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng dân quân du
kích và chiến tranh du kích, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3; Nguyễn Văn Diệu
(2004), Âm mưu của thực dân Pháp về vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên (18931954), Tạp chí Xưa và Nay, số 224; Trần Văn Thức (2005), Âm mưu của thực
dân Pháp đối với vùng Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
lần thứ hai (1945-1954), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 7 … Các tác giả đã đề cập
một số vấn đề đến chiến tranh du kích, đồng thời tập trung làm rõ những âm
mưu thủ đoạn của thực dân Pháp, cũng như trình bày khái quát hoàn cảnh, diễn

Liên khu ủy 5 và các cấp uỷ Đảng ở Tây Nguyên, cũng như quá trình hiện
thực hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1945-1954).
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Bám sát tiến trình lịch sử, làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến
tranh du kích của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và các cấp uỷ địa
phương trên địa bàn Tây Nguyên.
- Trình bày quá trình quân và dân Tây Nguyên tiến hành chiến tranh du
kích theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong suốt cuộc kháng chiến.
- Phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, rút ra một số kinh
nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Đảng trên chiến trường
Tây Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là sự lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng
ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954).

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về đường lối, chủ trương
của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và cấp uỷ các địa phương và chiến
tranh du kích ở Tây Nguyên từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954
- Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến
tranh du kích của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và các Đảng bộ địa
phương các tỉnh Tây Nguyên, bao gồm các tỉnh theo địa giới hành chính lúc
đó là: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm của Đảng trong việc lãnh đạo,
chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến
tranh du kích ở Tây Nguyên trong những năm 1945-1950
- Chương 2: Tăng cường lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích, góp
phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược (1951-1954)
- Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

8


Chương 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
VÀ TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN
TRONG NHỮNG NĂM 1945-1950
1.1. Khái quát về Tây Nguyên
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Tây Nguyên là vùng rừng núi trùng điệp, hiện nay gồm có 5 tỉnh: Kon
Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông1, Lâm Đồng nối tiếp nhau chạy dài theo
hướng Bắc – Nam. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam; phía Nam nối liền với
các tỉnh Đông Nam Bộ (tỉnh Bình Phước và Đồng Nai); phía Đông giáp tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận;
phía Tây giáp với Lào và Đông Bắc Campuchia, với đường biên giới chung là
732 km (Nam Lào 288km, Đông Bắc Campuchia 444km) [34, tr. 7]. Tây
Nguyên2 là vùng rừng núi, với nhiều núi cao, rừng rậm, có nhiều ngọn cao từ
1.500 đến trên 2.000m. Do địa thế hiểm trở, Tây Nguyên có một thế đứng vô

Thạch Trụ (Mộ Đức - Quảng Ngãi lên giáp với Đường 14 ở Đắk Tô (Kon
Tum). Đường 19 từ cảng Quy Nhơn lên giáp Đường 14 ở thị xã Pleiku rồi
chạy thẳng sang Đông Bắc Campuchia giáp với Đường số 13 ở phía Nam Thị
xã Stung treng. Đường số 7 (nay là đường số 25) từ thị xã Tuy Hoà đi Cheo
Reo và giáp với Đường 14 ở ngã ba Mỹ Thạch. Đường số 21 nay là Đường số
26 từ Ninh Hoà (Khánh Hoà) lên đến thành phố Buôn Ma Thuột. Đường số
11 (nay là Đường số 20) từ thị xã Phan Rang lên Đà Lạt. Đường số 8 (nay là
Đường số 28) ở phía Nam Thị xã Phan Thiết lên giáp với Đường số 20 ở Di
Linh rồi chạy thẳng lên gặp Đường số 14 ở ngã ba Đắk Song. Đường 20 từ
ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) lên Đà Lạt. Đường số 18 từ Đắk Tô (Kon Tum)
đi Nam Lào. Tất cả các con đường này đều chạy qua các vùng núi cao, rừng
rậm, lắm đèo, nhiều dốc quanh co, có đèo với chiều dài lên đến 20km.
Hệ thống sông ngòi ở Tây Nguyên dọc ngang chằng chịt, lắm ghềnh
nhiều thác; là nơi khởi nguồn của 4 hệ thống sông chính gồm: hệ thống sông
Pô Kô - Sê San ở Kon Tum đổ vào sông Mê Kông; hệ thống sông Ba - Ayun
ở Gia Lai đổ vào sông Đà Rằng chảy ra biển Đông; hệ thống sông Sêrêpôk ở
Đắk Lắk đổ vào sông Mê Kông và hệ thống sông Đồng Nai ở Đắk Nông và
Lâm Đồng chảy ra biển Đông. Vào mùa mưa, nước dâng cao và chảy xiết.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao trung bình từ 400m
đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng, khí
10


hậu Tây Nguyên vừa có những điểm chung, vừa có những điểm riêng, đan
xen, phức tạp, gồm nhiều tiểu vùng, nhưng phổ biến là khí hậu nhiệt đới gió
mùa cao nguyên, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến
tháng 10 dương lịch, thường gây ra lũ lớn, làm cho việc đi lại gặp nhiều khó
khăn. Mùa khô, phần lớn các con sông nhỏ và suối đều khô, cạn, nhất là ở
Nam Tây Nguyên.
Tây Nguyên là vùng đất đỏ ba dan lớn nhất nước ta. Các loại cây cao

độ dân số còn rất thấp. Đến năm 1936, số lượng của một số dân tộc đông
người nhất ở đây như sau: dân tộc Gia Rai có 151.300 người, Bana có
147.000 người, Sê Đăng có 12.160 người, Ê Đê có 80.000 người, Mạ có
34.150 người, M’nông có 31.160 và Kơ Ho là 64.4700 người [97, tr. 255].
Dân cư thưa thớt, tuyệt đại bộ phận đồng bào các dân tộc ít người thường
sinh sống ở vùng núi cao hoặc các vùng đất bằng ở xa các đô thị. Tuy không
hình thành những vùng lãnh thổ tộc người riêng, nhưng mỗi bộ tộc đều quần
tụ trong một khu vực nhất định. Các bộ tộc có số lượng đông thường theo
nhóm người địa phương.
Vào khoảng thế kỷ XVII, khi quân Nguyễn đánh vào Nghệ An, chiếm 7
huyện Nam sông Cả, bắt cư dân người kinh đưa vào sống ở vùng Tây Sơn;
tiếp theo là một số dân lao khổ ở đồng bằng lên sinh cơ lập nghiệp, đến giữa
thế kỷ XVIII đã có một số thôn ấp người Kinh ở vùng Tây Sơn thượng đạo.
Đến thế kỷ XIX, một số cư dân ở các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình
Định và một số theo đạo Thiên chúa giáo, để lánh sự truy nã của triều đình
Huế đã đến sinh sống ở Kon Tum, Gia Lai…
Ở Lâm Đồng, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất,
chỉ có đồng bào dân tộc ít người. Khi xâm lược nước ta, đặt chân đến Lâm
Đồng và phát hiện cao Nguyên Lang Biang và Di Linh (1893), đặc biệt sau
chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp mới ra sức bắt ép người Kinh
từ miền Bắc, miền Trung đưa lên xây dựng Đà Lạt, Di Linh và khai thác vùng
Lâm Đồng. Trong khi đó, ở Đắk Lắk, do chính sách ngăn cấm của thực dân
12


Pháp nên đến năm 1929 mới có người Kinh lên sinh sống. Do đó, tính đến
năm 1936, toàn Tây Nguyên mới chỉ có 30.750 người Kinh sinh sống [97, tr.
255] và cho đến trước ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công,
phần lớn người Kinh là công nhân ở các đồn điền, còn lại phần ít tham gia sản
xuất nông nghiệp, số còn lại buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công ở các thị xã, thị

các tập tục của nhân dân.
Các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra nhiều đạo cụ độc đáo như đàn
đá, đàn Tơ rưng, đàn Klong pút, các loại cồng chiêng…. làm phong phú thêm
đời sống âm nhạc và đời sống tinh thần của người Tây Nguyên.
Ngoài điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội phong phú, đa dạng,
Tây Nguyên còn là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên
cường. Trong lịch sử đấu tranh, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã nhiều
lần đứng lên chống lại các cuộc xâm lược của Xiêm La (Thái Lan), Vạn
Tượng (Lào)… Ngay giữa thế kỷ XVIII, nhân dân Tây Nguyên đã nổi dậy
mạnh mẽ dưới ngọn cờ của nghĩa quân Tây Sơn chống lại ách thống trị của
chúa Nguyễn hà khắc ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Những đàn
voi chiến của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thuần dưỡng, huấn luyện là
lực lượng đột kích chủ yếu của nghĩa quân Tây Sơn trong sự nghiệp thống
nhất đất nước trong chiến dịch đại phá 29 vạn quân Thanh của người anh
hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Hiểu rõ vị trí và tầm quan trọng của địa bàn chiến lược Tây Nguyên,
ngay từ giữa thế kỷ XIX để chuẩn bị cho quá trình xâm lược nước ta, thực dân
Pháp đã cho hàng loạt tên gián điệp đội lốt giáo sĩ xâm nhập khảo sát địa dư,
lập một số cơ sở Thiên chúa giáo trong những làng của đồng bào thiểu số. Theo
chân các giáo sĩ, những đoàn thăm dò, phái bộ quân sự của thực dân Pháp liên
tiếp đến Tây Nguyên thực hiện âm mưu cai trị vùng đất chiến lược này. Bằng
các thủ đoạn thâm độc lừa bịp, mua chuộc, chia để trị đi đôi với trấn áp vũ
trang, đến năm 1889, thực dân Pháp thiết lập chế độ “trực trị”, chính thức truất
hẳn quyền hành của triều đình Huế khỏi Tây Nguyên. Dưới ách thống trị tàn
14


nhẫn của quân cướp nước, người dân Tây Nguyên bị cướp đất đai để lập đồn
điền; phải nộp sưu thuế, lao dịch cực kỳ hà khắc; nhân dân bị chìm đắm trong
cảnh hủ bại “ngu dân”. Với chính sách thống trị thâm độc của thực dân Pháp đã

suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn coi trọng công tác
dân vận, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc ít người. Nghị quyết về công tác
trong các dân tộc ít người thông qua tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng năm
1935 đã khẳng định: “Lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực
lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng
trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương” [58, tr. 73].
Ở Tây Nguyên, ngay từ những năm 1928-1929, thị xã Kon Tum và Đà
Lạt đã có cơ sở của Đảng Tân Việt. Tiếp theo một số đảng viên Đảng cộng
sản “vô sản hoá” hoặc tránh các đợt khủng bố của địch ở các tỉnh đồng bằng
lên hoạt động ở các đồn điền. Một số tổ chức quần chúng như Hội Ái Hữu,
Cứu Tế đỏ, Công Hội đỏ lần lượt ra đời.
Từ cuối năm 1930, nhằm khủng bố tinh thần cách mạng của những
chiến sĩ cộng sản yêu nước và để uy hiếp, khủng bố tinh thần nhân dân, thực
dân Pháp đã đưa nhiều chiến sĩ cách mạng vào cảnh tù đày khổ sai. Ở Tây
Nguyên, thực dân Pháp đã bắt bớ và đưa hàng trăm chiến sĩ cách mạng từ
khắp cả nước vào giam giữ ở các nhà tù Kon Tum và Buôn Ma Thuột. Với
chế độ lao tù hà khắc, tù đày khổ ải, hàng trăm chiến sĩ cách mạng đã bị giết
hại trên các công trường làm đường ở Đắk Tô, Đắk Pét (Kon Tum), Đắk Mil
(Đắk Lắk). Nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra mà điển hình là cuộc đấu
tranh của các chiến sĩ cộng sản diễn ra ngày 12 tháng 12 năm 1931 phản đối
chế độ hà khắc của địch ở ngục Kon Tum.
Bằng nhiều thủ đoạn nhằm ly gián, chia rẽ các chiến sĩ cách mạng với
quần chúng nhân dân. Nhưng qua các cuộc đấu tranh dũng cảm, kiên cường đó
đã làm cho quần chúng càng hiểu rõ hơn về cách mạng, về người chiến sĩ cộng
sản. Những cuộc tuyên truyền giáo dục vận động quần chúng mà trước hết là
trong hàng ngũ hạ sĩ quan binh sĩ và công chức bộ máy thống trị đã đưa lại
16


nhiều kết quả. Đến đầu năm 1931, ở thị xã Kon Tum đã thành lập được một chi


Xuất phát từ đặc điểm, vị trí địa lý hiểm trở, liên hoàn, tài nguyên thiên
nhiên phong phú đa dạng; nhân dân kiên cường dũng cảm, bất khuất trong
đấu tranh bảo vệ buôn làng… Với những đặc trưng đó, Tây Nguyên chiếm
một vị thế lợi hại, là địa bàn lý tưởng của chiến tranh du kích và cũng là đất
căn cứ lâu dài và bền vững của cách mạng; là cơ sở để phát triển chiến tranh
nhân dân trong những giai đoạn tiếp theo.
1.2. Bước đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến
tranh du kích của Đảng ở Tây Nguyên từ năm 1945 đến 1948
1.2.1. Chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích ở Tây Nguyên
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9, tại Quảng
trường Ba Đình, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc
bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ
đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự
do, thống nhất. Nhân dân đã trở thành người làm chủ đất nước, tự mình quyết
định con đường xây dựng cuộc sống mới tự do, hạnh phúc sau hơn 80 năm sống
dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và sau năm năm bị phát xít Nhật chiếm đóng.
Vừa mới ra đời, con thuyền cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản
Đông Dương lãnh đạo, chèo lái phải đương đầu với muôn vàn khó khăn và thách
thức. Trong đó, nạn ngoại xâm trở nên ngày một bức thiết do chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt.
Bên cạnh đó, chính quyền cách mạng non trẻ cũng phải đương đầu với
nhiều khó khăn, đặc biệt là nạn đói và nạn dốt. Tất cả những khó khăn đó đã
tạo nên một bức tranh được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Đúng như dự đoán, chỉ sau chưa đầy một tháng giành độc lập, ngày 23
tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, chính thức xâm
lược nước ta một lần nữa.
Trước tình thế thù trong giặc ngoài, khó khăn chồng chất khó khăn,
ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị
18

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status