Ôn tập thơ cách mạng - Pdf 37

TRàng GIang
Tác giả
Huy Cận (tên là Cù Huy Cận), quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cũng là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong “Thơ mới” tiền chiến với tập “Lửa thiêng” xuất bản năm 1940. Thơ của Huy Cận hàm xúc
cổ điển và có màu sắc suy tưởng, triết lí. Trước Cách mạng, thơ Huy Cận thấm một nỗi buồn mênh mông. Sau năm 1945, cảm hứng thơ Huy Cận ấm áp, tươi vui. Tiêu biểu là các tập thơ: Trời mỗi ngày
lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963),… Hạt lại gieo (1984)…
Xuất xứ, chủ đề
1. “Tràng giang” rút trong tập thơ “Lửa thiêng”.
2. Bài thơ thể hiện một nỗi buồn cô đơn, một nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê hương trong cảnh hoàng hôn trước tràng giang.
Phân tích
1. Cảm hứng chủ đạo được thi nhân nói rõ ở câu đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Một thiên nhiên bao la mênh mông, một dòng sông dài, không rõ đâu là nguồn, đâu là cửa sông.
Một nỗi niềm “bâng khuâng”, một tấm lòng tha thiết “nhớ” khi đứng trước vũ trụ, nhìn “trời rộng” và ngắm “sông dài”.
2. Bài thơ có 4 khổ, mỗi khổ như một bài thất ngôn tứ tuyệt hoàn chỉnh. Cảnh và tình giao hòa. Cảnh đẹp mà buồn man mác.
- Khổ một, sóng gợn buồn, từng lớp từng lớp như lan tỏa “điệp điệp”, lòng người. Con thuyền và vệt nước song song: “thuyền về nước lại” gợi lên một nỗi buồn chia phôi “sâu trăm ngả”. Một cành
củi khô trôi nổi trên tràng giang tượng trung cho sự chết chóc, chia lìa. Vần thơ đầy ám ảnh.
- Khổ 2, gợi tả một không gian mênh mông, vắng lặng. Cồn nhỏ thì “lơ thơ”. Gió nhẹ và buồn đìu hiu: “Lơ thơ cồn nhỏ, gió đìu hiu. Khác nào câu thơ Chinh phụ ngâm: “Non kỳ quạnh quẽ trăng treo
- Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”? Các từ láy: lơ thơ, đìu hiu; vần lưng: “nhỏ - gió” gợi cả cái hắt hiu, buồn thê thiết. Không một âm thanh một tiếng động, một tiếng vọng nào từ làng xa. Bầu trời thăm
thẳm như soi xuống đáy tràng giang, không gian 2 chiều: sâu chót vót”. Con người càng nhỏ bé, cô đơn trước một không gian: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Câu thơ 7 từ với 3 nét vẽ. Thật hàm súc
cổ điển.
- Khổ 3, lại nói về tràng giang. Không cầu. Cũng không đò. Sông đã dài lại thêm mênh mông. Cảnh đôi bờ rất đẹp nhưng vẫn thấm sâu một nỗi buồn xa vắng: “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Trung
tâm của bức tranh là “bèo dạt”. Chẳng có mây trôi, chỉ có “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”. Một nét vẽ tượng trưng thứ hai đem đến liên tưởng những kiếp người lưu lạc, trên dòng đời. Đúng là sầu nhân
thế, vạn cổ sầu như một số nhà thơ lãng mạn, thường nói:
… “Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?”…
(“Chiều” - Hồ ZDếnh).
Hai tiếng “về đâu” gợi tả một nỗi buồn mơ hồ, ngơ ngác. Chỉ biết hỏi mình, chẳng biết hỏi ai. Cô đơn và buồn đến thế là cùng!
- Khổ 4, nói về hoàng hôn:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa,
Lòng quê dợn dợn vời non nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Một cái nhìn xa vời đến mọi phía chân trời. Cánh chim như chở nặng bóng chiều đang “nghiêng cánh nhỏ”. Mây lớp lớp đùn lên như những “núi bạc”. Cảnh tượng tráng lệ. Cánh chim nhỏ nhoi tương

Vườn ai mướt qua xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
Người thôn VĨ mà cứ như ai đâu .Vĩ Dạ lúc gần ,lúc xa. Ồ ,hoá ra , đấy là tâm trạng của người tương tư :Chỉ thiếu một người nhưng không gian trống rỗng (Lamartin)! Nhà thơ hoá thân hay thật .Màu
xanh của lá,chút nắgn mới lên vẫn chưa đủ ấm lòng người thiếu nữ .Nàng buồn và “cảnh có vui đâu bao giờ”:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Viết đến đây thì sự hoá thân ấy cũng chấm dứt .Thi sĩ ,anh có thể trốn tránh mọi điều m,trừ bản thân anh .Mà thượng đế mbao phen vẫn lỡ tay, tâm hồn nhà thơ mới phức tạp ,giàu ưu tư và đa cảm làm
sao! Người đời có thể trách khách văn hay viễn vông .Nhưng ở đây là ước mơ thật:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Có một “bến sông trăng” hiên hữu ở ngoài đời thực .Và ,cũng có một “bến” như thế , ở nơi nào tít tắp trong tâm tưởng con người .Khi “trăng” không về ,cõi ấy hoang vắng ,buồn bã biết bao !Có
người bình những câu : Áo em trắng quá nhìn không ra / Ở đây sương khói mờ nhân ảnh...là lúc tấm bưu thiếp đã cũ ,nghĩ chuyện cách xa bây giờ,tất thảy như muốn nhoà đi. Đấy chỉ mới là cái nghĩa cụ
thể của “văn bản” ,chứ chưa phải bài thơ hay tâm hồn Hàn Mặc Tử .Bất cứ nhà thơ tài hoa ở thời đại nào cũng thấy giữa tâm hồn mình và cuộc đời có điều lỗi nhịp. Ít nhiều ,họ cô đọc , đôi khi chỉ trong
tâm hồn ,chứ không nhất thiết phải ở giữa đám đông. Trường hợp Hàn Mặc Tử và những năm tháng ấy , điều đó càng rõ .Biết vây ,nhưng vẫn khao khát giải bầy ,khát khao cống hiến .Hình dung Đây
thôn Vĩ Dạ là bức thư tình gửi cho người yêu xứ Huế của Hàn Mặc Tử thì Ai biết tình ai có đậm đà? Là lời than thở đối với Hoàng Cúc. Song,nếu hiểu Hàn Mặc Tử - một người tình làm thơ , đấy còn là
tiếng nói của thi nhân với cuộc đời.
Ngày ấy ,Hàn Mặc Tử đã muộn phiền :Ai biết tình ai có đậm đà? Và,có lẽ , cho đến buổi trưa nghiwtj ngã 11.11.1940,nhàthơ tài hoa vẫn ôm mối tình đau đớn với cuộc đời ,ra đi , để lại :Một nấm mồ
bằng đất,một cây thánh giá bằng gỗ tạp ,không vòng hoa ,không hương khói , đìu hiu quạnh quẽ dưới một gố cây phi lao!(Quách Tấn) . Đến nay ,50 năm đã trôi qua ,khi người đời nhận ra Hàn Mặc Tử
là ánh sao băng không thể xoá nhoà dấu ấn trên bầu trời thi ca dân tộc thì xin đừng trách “sao Anh không về ?” ,cì chẳng phải bao năm nhà thơ vẫn ở lại đó sao?Xin hãy rộng đường cho người muôn
năm cũ...
Vội Vàng
Xuất xứ, ch ủ đề
1. Rút trong tập Th“ ơ t hơ , t” ập thơ đầu của Xuân Di ệ u , xuất bản năm 1938.
2 . Tuổi trẻ rất đẹp, rất đá ng yêu. Một đời người chỉ có một lần t uổi t rẻ. Phải biết quý trọng v sà ống hết mì nh với tuổi trẻ v thà ời gian.
Phân tích
1. Tôi không chờ nắng hạ mới ho ià xuân
- Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa “đồng nội xanh rì”, của lá “cành tơ phơ phất”; “Tuần tháng mật” của ong bướm. “Khúc tình si” của
yến anh. “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”. Chữ “này đây” được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh
đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải v ộ i vàng “tắt nắng đi” và “buộc gió lại”. Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn.
- Tuổi trẻ rất đẹp rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc “Thần Vui hằng gõ cửa”. Tháng giêng là tháng

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”
Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió “thì thào” vì “hớn”, “chim” bỗng ngừng hót, ngừng rao vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật
nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian:
Con gió xinh thì th o trong lá bi“ à ếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn r ng bà ỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai t n sà ắp sửa?”
Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng. Chợt tỉnh “mùa chưa ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải v ộ i
vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Ch“ ẳng bao giờ/ôi/chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi/mùa chưa ngả chiều hôm .”
Xưa kia, Nguy ễ n Trãi viết trong chùm “thơ tiếc cảnh”:
- Xuân xanh ch“ ưa dễ hai phen lại
Thấy cảnh c ng thêm tià ếc thiếu niên”
(B i sà ố 3)
- Ti“ ếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”
(B i sà ố 7)
Những vần thơ của Nguy ễ n Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu tr ữ tình trong “V ộ i vàng ” về màu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ. Thật yêu đời. Thật
ham sống.
3. Hỡi xu ân hồng, ta m uốn cắn v oà ngươi!
- Mở đầu bài thơ là cái Tôi hăm hở: “Tôi muốn tắt nắng đi”. Kết thúc bài thơ là “TA”, là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong dòng
chảy thời gian: Sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Ngh ệ thu ậ t trùng điệp trong diễn tả. Ngôn t ừ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo
rực: “Ta muốn ôm”, “Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…”.
Ta mu“ ốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa v gió là ượn
Ta muốn say cách bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
V non nà ước, v cây v cà à ỏ rạng”
Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Ngh ệ thu ậ t “vắt dòng” với ba từ “và” xuất hiện trong một

được hay. Chữ “cô em” hơi lạc điệu. Thêm vào một chữ “tối” đã mất đi ý vị “ý tại ngôn ngoại” vẻ đẹp hàm súc của thơ chữ Hán cổ điển:
“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”
Bài thơ có cảnh bầu trời và xóm núi, có áng mây, cánh chim chiều. Chim về rừng, mây lơ lửng. Có thiếu nữ xay ngô và lò than hồng. Đằng sau bức tranh cảnh chiều tối là một nỗi niềm buồn, cô đơn,
là một tấm lòng hướng về nhân dân lao động, tìm thấy trong khoảnh khắc chiều tối. Nghệ thuật mượn cảnh để tả tình. Điệu thơ nhè nhẹ, man mác bâng khuâng, đậm đà màu sắc cổ điển. Tinh tế trong
biểu hiện, đậm đà trong biểu cảm là vẻ đẹp trữ tình của bài thơ “Chiều tối” này… Rất nhân hậu, rất người.
Từ ẤY
BÀI LÀM
Tố Hữu là bút danh Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920, tại Thừa Thiên - Huế. Ông là nhà thơ lớn của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Cuộc đời của Tố Hữu gắn liền với cuộc đời cách mạng của
ông. Mỗi tác phẩm của thi sĩ là một chặng đường lịch sử, là một chiến công của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ Tịch: “Từ ấy” (1937-1946), “Việt Bắc” (1954), “Gió lộng”(1961),
“Ra trận” (1972), “Máu và hoa” (1977)…
Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của Tố Hữu. Bài thơ nói lên niềm vui sướng hạnh phúc của một thanh niên yêu nước bắt gặp lí
tưởng cách mạng của Đảng, thấy gắn bó với nhân dân cần lao.
“Từ ấy” là lúc, là khi nhà thơ được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một bài thơ:
“Con lớn lên, con tìm Cách mạng – Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi - Mẹ không còn nữa, con còn Đảng. Dìu dắt khi con chửa biết gì”(Quê mẹ).
“Mặt trời chân lí” là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lí tưởng Cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa Cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã “chói qua tim”, đem lại ánh sáng cuộc đời như “bừng” lên trong “nắng hạ” -
Một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”.
Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại:
“Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”.
“Hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà
Bài giải của bạn: meomun_91 19:57:42 Ngày 28-12-2007
Ý nghĩa nhan đề của bài thơ " từ ấy". Tại sao bài thơ lại có tên là từ ấy
-"từ ấy" mang một ý nghĩa phiếm đinh về mặt thời gian ... Đó là khi tâm trạng của nhà thơ trong giây phút giác ngộ lí tưởng cộng sản .
- " Từ ấy " cũng là mốc thời gian đánh dấu bước ngoặt, lối rẽ mới trong cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu , đối với ông " từ ấy " là một thời gian rất cụ thể . " Từ ấy " _ ông đã xác định được con đường đúng
đắn mà mình phải đi và cũng chính từ đấy , lý tưởng cách mạng đã soi sáng tâm hồn ông , đã giúp ông tìm được lối đi đúng đắn cho cuộc đời ... mà trước đây , ông đã từng lạc lói :
" Chọn một dòng hay để nước trôi xuối "
" Ta đi ngơ ngác trong cuộc đời"

Ta đi tới chỉ một đường cách mạng
Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu:
Mặt trời chân lí chói qua tim
Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng , mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh
sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự
hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào.
Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại:
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :“hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một
vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ.
Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng
nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người:
Tôi buộc hồn tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời.
“Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân
dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam
Để tình trang trải với trăm nơi

Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu
đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”., mong ước xây dựng một khối
đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bấc cù bơ.
Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai
tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.

1. Tác giả
3. Tác phẩm
Câu hỏi: Bạn hãy cho biết tên một bài thơ của ông mà mình đã học?
Xuất xứ:
Bài thơ trích trong phần "Máu lửa" của tập thơ "Từ ấy" (tập thơ gồm 3 phần: "Máu lửa", "Xiềng xích", "Giải phóng".
Bài thơ được sáng tác vào 7/1938


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status