ĐỀ ÁN Nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Pdf 37

1
MỞ ĐẦU
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, an ninh lương thực, giữ vững ổn
định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Xây dựng nông thôn mới
(NTM) là tạo ra những giá trị mới của nông thôn - một nông thôn hiện đại có
những giá trị mới về kinh tế, văn hóa văn minh, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn, gìn
giữ bản sắc văn hóa truyền thống.
Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương ngày
5/8/2008, "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã chỉ rõ: Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc
phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
của đất nước. Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết
đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai
thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực
lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời
tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa
học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực,
nâng cao dân trí nông dân. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy
tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân…
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 6 năm 2010 với 19 tiêu chí Quốc gia
được chia thành 5 nhóm gồm 39 chỉ tiêu cụ thể. Đây là một chương trình phát

SỰ CẦN THIẾT, NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. SỰ CẦN THIẾT

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020 (sau đây gọi tắt là Chương trình) là nội dung quan trọng hàng đầu
trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành TW Đảng (Khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Đây là một Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an
ninh quốc phòng; được thực hiện trên địa bàn nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống vật chất, tinh thần của hơn 80% dân số trên địa bàn tỉnh và được triển
khai thực hiện trong thời gian dài. Với mục tiêu là xây dựng nông thôn mới có
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày
càng được nâng cao. Nhận thức được điều đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã
xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và được thể hiện trong Nghị quyết
Đại hội Đảng các cấp.
Trong thời gian qua, bằng sự nỗ lực của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn
thể các cấp đã tập trung lãnh, chỉ đạo thực hiện Chương trình đạt được một số
kết quả đáng ghi nhận. Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được thì việc triển
khai thực hiện Chương trình còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế như: việc huy
động nguồn lực cho Chương trình còn hạn chế, sự vào cuộc chưa đồng bộ của
các Sở, Ban, ngành và Ban chỉ đạo nông thôn mới các cấp, chậm tham mưu ban
hành các cơ chế chính sách, các giải pháp để thực hiện Chương trình.
Từ những bất cập, hạn chế nêu trên nên kết quả thực hiện các tiêu chí
nông thôn mới ở các xã còn chậm so với kế hoạch, lộ trình đã đề ra. Do đó, việc
nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là hết
sức cần thiết.
1.2. NHẬN THỨC CHUNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.2.1. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới

ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới. Thực hiện đường lối của Đảng,
ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một
chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và
nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh,
hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô
thị, thị trấn, thị tứ.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn
mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của


5
đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng,
nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai
chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các
bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa
bản sắc của nông thôn Việt Nam.
Thực tiễn cũng cho thấy, những xã hội tiến bộ bao giờ cũng chú ý tới việc
thu hẹp khoảng cách sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát triển lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cải thiện điều kiện sinh hoạt
ở nông thôn, làm cho thành thị và nông thôn xích lại gần nhau. Chính vì vậy, bên
cạnh phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn quá trình xây
dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các nước trên thế
giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại, để xây dựng
hoàn thiện hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân
và nông thôn làm cơ sở khoa học cho thực tiễn. Xây dựng nông thôn nước ta trở
nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa và nét đẹp

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản
Lao động 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn
2010-2020, bao gồm:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao.
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy.
- An ninh tốt, quản lý dân chủ.
- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao...
* Thứ ba, Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc
gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng
Chính phủ.
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của
cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban
hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đưa ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng
dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân
chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các Chương trình mục
tiêu quốc gia, Chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các Chương trình, dự án khác
đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần
thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần
kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy


7
hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu

CTQG, H, 1996. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nông nghiệp Việt
Nam - 61 tỉnh và thành phố, Nxb Nông nghiệp, H, 2001. Trần Ngọc Bút: Chính
sách nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ cuối thế kỷ XX và một số định hướng
đến năm 2010, Nxb CTQG, H, 2002. Đỗ Hoài Nam: Xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb
KHXH, Hà Nội, 2001. Các giải pháp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn. Kỷ yếu hội thảo do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại
Đà Nẵng, tháng 8/1999. PTS Lê Mạnh Hùng (chủ biên): Thực trạng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê, H, 1998.
ThS Nguyễn Văn Hùng: Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân nước
ta. In trong cuốn “Những vấn đề lý luận thực tiễn trong quá trình đổi mới”, Nxb


9
Đà Nẵng, 1998. Một số văn kiện của Đảng về phát triển nông nghiệp, Nxb
CTQG, H, 1993. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam, Nxb Thống kê, H, 1998.
- Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn: “Nghiên cứu nhu cầu nông
dân”, Nxb Hà Nội, 2003. PGS, TS Vũ Đình Thắng: “Giáo trình kinh tế nông
nghiệp”, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, 2006.TS Lê Quang Phi: “Đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ đổi mới”,
Nxb CTQG, 2007. PGS, TS Nguyễn Văn Bích: “Nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam sau hai mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại”, Nxb CTQG, 2007. PGS,
TS Phạm Văn Khôi: “Giáo trình phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn”,
Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, 2007. TS Lê Thu Hoa: “Kinh tế vùng ở Việt Nam
– Từ lý luận đến thực tiễn”, Nxb Lao động xã hội, 2007. PGS, TS Trần Thị Minh
Châu: “Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay”, Nxb Đại học Kinh
tế quốc dân, 2007. Trịnh Duy Luân: “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển
đổi”, Nxb Khoa học Xã hội, 2008. Đặng Kim Sơn: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn Việt Nam – Hôm nay và mai sau”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2008. Đặng

NTM
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 20102020
- Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011
của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính
về Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
- Quyết định 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
sửa đổi nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình MTQG xây dựng
NTM giai đoạn 2011-2020
- Quyết định 1996/QĐ-TTg ngày 04/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Văn phòng
Điều phối giúp Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới các cấp
- Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới
- Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/9/2011 của Tỉnh ủy Quảng Nam về
tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (Khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với thực hiện thắng lợi
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
1()

Với các bài viết: Những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới: PGS, TS Vũ Văn Phúc; TS Phạm
Tất Thắng; Vũ Hùng. Những kinh nghiệm quốc tế (Trung Quốc, Nhật Bản….) về xây dựng nông thôn mới: TS Vũ
Trọng Bình; TS Lê Minh Phụng; TS Nguyễn Thành Lợi; ThS Trịnh Cường. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam: TS Nguyễn Hữu Vạn; Trần Nhật Lam; Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An (Phú Thọ,
Ninh Bình, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Lai Châu, Bắc Giang, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Lào Cai… Viện
Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, Nông thôn...


di tích văn hóa, di tích lịch sử và di sản văn hóa thế giới, di sản đặc sắc của đồng
bào dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, kinh tế chung cả nước gặp nhiều
khó khăn, nhất là tình trạng suy giảm của 3 năm gần đây; một lần nữa, nông
nghiệp, nông thôn tiếp tục khẳng định vai trò tạo sự ổn định kinh tế, xã hội,
chính trị của mình.
Mặc dù giá trị ngành nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu GRDP của tỉnh
(chiếm hơn 15% năm 2014) nhưng vẫn còn hơn 80% dân số sống ở địa bàn nông
thôn với hơn 50% lao động nông nghiệp; sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển bền vững của tỉnh. Với đặc thù
Quảng Nam là tỉnh còn nhiều huyện nghèo (03/62 huyện nghèo cả nước: Nam
Trà My, Phước Sơn, Tây Giang và 03 huyện được hưởng Chương trình 30b là
đầu tư 70% CSHT so với các huyện nghèo chương trình 30a: Bắc Trà My, Nam
Giang, Đông Giang) và có 9/18 huyện, Thành phố là huyện miền núi, vùng khó
khăn có tỷ lệ hộ nghèo cao (trên 50%); hiện tại còn có 96 xã/205 xã nông thôn,
hầu hết là ở miền núi đạt dưới 05 tiêu chí, theo chuẩn nông thôn mới. N hiều địa
phương thường xuyên bị ảnh hưởng của bão, lũ, hạn hán; cơ cấu kinh tế chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp nhưng hiệu quả còn hạn chế; kinh tế nông hộ với
quy mô sản xuất nhỏ lẻ đang là rào cản của sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cạnh
tranh hội nhập, thiếu liên kết bền vững với doanh nghiệp; kết cấu hạ tầng, nhất là
giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, bưu điện, chợ, nước
sạch,... ở nhiều xã còn thiếu và yếu. Cơ cấu kinh tế nông thôn, nội bộ ngành
nông nghiệp chuyển dịch chậm, tỷ lệ chăn nuôi còn thấp, tỷ trọng đóng góp của


13
khoa học công nghệ vào giá trị gia tăng nông sản không đáng kể; thu nhập của
nhân dân ở khu vực nông thôn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, khó khăn trong việc huy
động sự đóng góp cộng đồng dân cư để xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó,
đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã đều là kiêm nhiệm, ở cấp xã vừa yếu, vừa thiếu
và năng lực hạn chế, nhất là các xã miền núi, nên khó triển khai thực hiện những

kế mẫu, thiết kế điển hình các công trình, các cơ chế chính sách có liên quan đến


14
chương trình như hỗ trợ cơ giới hóa, hỗ trợ giống cây trồng, con vật nuôi, dồn
điền đổi thửa...
Chỉ đạo, hướng dẫn thành lập hệ thống quản lý chỉ đạo, điều hành thực
hiện Chương trình ở các cấp từ tỉnh xuống xã, thôn. Hiện nay, đã cơ bản hình
thành bộ máy tổ chức thực hiện Chương trình từ tỉnh xuống xã.
Các huyện, thành phố và các xã ban hành Nghị quyết, Chỉ thị, kế hoạch
thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Các địa phương đã tổ
chức hội nghị sơ kết hằng năm thực hiện Chương trình.
* Thứ hai, Công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Chương trình
- Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 4016/UBND-KH ngày
03/11/ 2011 về tổ chức phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2011 – 2015 và quy định tạm thời cơ chế khen thưởng thành tích thực hiện
Chương trình; các địa phương đã hưởng ứng thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn
mới” của Trung ương và tỉnh phát động;
- Văn phòng Điều phối Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh
đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị: Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo
Quảng Nam, Báo Nông thôn Ngày nay, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin Truyền thông tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong đó, Cổng Thông tin điện tử Nông thôn mới của tỉnh đã giúp cho cán bộ,
đảng viên, nhân dân trên địa bàn tỉnh hiểu rõ hơn về Chương trình, giới thiệu
thông tin những mô hình hay, những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.
- Sở Nông nghiệp và PTNT (Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh) đã
xây dựng nội dung, tổ chức lễ ký kết, lập kế hoạch triển khai chương trình phối
hợp với các đơn vị, các ngành: Hội Người cao tuổi, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên
phòng, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học

tỷ đồng. Các Sở, ngành đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ làm công tác
xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã, như: Xây dựng (tiêu chí số 1, số 9),
Thống kê (tiêu chí số 10), Nông nghiệp và PTNT (tiêu chí số 13), Văn hóa – Thể
thao và Du lịch (tiêu chí số 16), Nội vụ (tiêu chí số 18), Công an (tiêu chí số 19),
Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Hội Nông dân, Phụ nữ,
Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh,…
* Thứ tư, Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới
a) Lập quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới:
Tổng số xã trên địa bàn tỉnh: 213 xã. Trong đó, 8 xã (bao gồm: 6 xã của
huyện Điện Bàn và 2 xã của huyện Duy Xuyên), tỉnh thống nhất không lập quy
hoạch xây dựng xã NTM, vì đã có quy hoạch phát triển đô thị, hoặc quy hoạch
phát triển công nghiệp, các xã này lập quy hoạch sản xuất và Đề án phát triển sản
xuất, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn; số xã còn lại lập quy hoạch xây
dựng NTM là 205 xã. Đến cuối năm 2014 có 202/205 xã hoàn thành công tác lập
quy hoạch, đạt 98,6% (2).
2()

3 xã: Tam Quang, Tam Hiệp, Tam Anh Nam (huyện Núi Thành) đã lập quy hoạch xây dựng xã NTM
nhưng UBND huyện chưa phê duyệt, do liên quan đến Khu Kinh tế mở Chu Lai.


16
b) Lập đề án xây dựng nông thôn mới:
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Trung ương, tỉnh đã biên soạn, tập
huấn hướng dẫn nội dung đề cương, các biểu mẫu và công tác thẩm định, phê
duyệt đề án xây dựng xã NTM (Đề án) cho tất cả các xã trên địa bàn tỉnh; qua
đó, các địa phương đã cụ thể hóa trên từng địa bàn xã, thực hiện các bước để tiến
hành lập, trình UBND cấp huyện phê duyệt, đến nay đã có 183 xã/205 xã phê
duyệt Đề án (đạt gần 90%).
* Thứ năm, Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân

Đến nay đã có 62 xã đạt tiêu chí thu nhập, chiếm tỷ lệ 30,20%.
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 24,18% năm 2010 giảm còn 12,10 % năm
2014 (giảm 2,81% so với năm 2013); tuy nhiên, tỉ lệ giảm không đồng đều giữa
các khu vực nông thôn; tỷ lệ hộ nghèo khu vực 9 huyện miền núi còn cao, bình
quân 36,98%, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ nghèo trên 50% như Nam Trà My
(62,96%), Nam Giang (57,36%),…và nguy cơ tái nghèo của các hộ vừa thoát
nghèo còn nhiều tiềm ẩn, nhất là các hộ đồng bào dân tộc. Đến nay, đã có 63 xã
đạt tiêu chí hộ nghèo, tăng 46 xã so với năm 2013.
Tuy đã có nhiều kết quả nổi bật trong phát triển sản xuất, nâng cao thu
nhập cho người dân nhưng còn nhiều tồn tại, hạn chế như: công tác chọn mô
hình để phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn còn lúng túng,
làm theo phong trào chứ chưa có chiến lược lâu dài; công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp, ngành nghề nông thôn, thương mại dịch vụ, nhìn chung phát triển
còn chậm; doanh nghiệp chưa đầu tư mạnh vào nông nghiệp, nông thôn; HTX,
hộ nông dân, chủ trang trại vẫn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng; quy mô sản
xuất còn nhỏ lẻ, năng suất, sản lượng một số cây trồng, con vật nuôi chưa cao,
hiệu quả thấp; chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp chưa rõ nét; chưa khai
thác tốt tiềm năng đất đai, lao động; kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đã được
đầu tư nhưng còn thiếu và yếu so với nhu cầu phát triển, nhất là các xã miền núi;
ứng dụng khoa học công nghệ, thay đổi giống cây trồng, con vật nuôi mới vào
sản xuất còn nhiều hạn chế, các vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế
biến còn phân tán, vận chuyển nông, lâm sản còn nhiều khó khăn…
* Thứ sáu, Việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn
Với nguồn vốn Chương trình của Trung ương, của tỉnh và lồng ghép các
nguồn vốn từ các chương trình, dự án, trong 4 năm qua, các địa phương đã xây
dựng, nâng cấp các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất, dân sinh, góp phần đạt
chuẩn các tiêu chí về cơ sở hạ tầng nông thôn, cụ thể như:
- Tiêu chí giao thông: toàn tỉnh đã bê tông hóa hơn 1.315 km đường giao
thông nông thôn, gần 270 km giao thông nội đồng và cứng hóa 2.753 km giao
thông nông thôn với tổng kinh phí đầu tư gần 960 tỷ đồng; trong đó, ngân sách

- Tiêu chí chợ nông thôn: Toàn tỉnh có 161 chợ, trong đó có 130 chợ nông
thôn/205 xã (còn 51 xã không nằm trong quy hoạch xây dựng chợ nông thôn).
Từ năm 2011 đến năm 2014, có 06 chợ được đầu tư xây mới, 17 chợ được nâng
cấp, với tổng nguồn kinh phí trên 140 tỷ đồng (chủ yếu từ nguồn vốn lồng ghép
như khai thác quỹ đất, tiểu thương đóng góp). Đến nay có 67 xã đạt tiêu chí chợ
nông thôn, chiếm 32,68%.
- Tiêu chí bưu điện: Năm 2014, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án Phát triển
hệ thống điểm Bưu điện văn hóa xã đảm bảo cung cấp thông tin cộng đồng phục
vụ xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Hiện nay, đã phủ sóng thông tin di
động đến 100% trung tâm các xã và 96% số xã được kết nối internet đến các
vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và hải đảo; số xã đạt tiêu chuẩn về điểm bưu
chính viễn thông là 80 % (164 xã/205 xã). Mật độ điện thoại là 85,17 máy/100
dân; số thuê bao Internet hiện có 40.689 thuê bao, tỷ lệ người dân sử dụng
Interntet là 10,8 thuê bao/100 dân; tiếp tục hỗ trợ duy trì hoạt động của các Bưu


19
điện văn hóa xã và các điểm Internet, điện thoại công cộng, cung cấp dịch vụ
viễn thông công ích đến cho người dân tại các vùng khó khăn, các xã chương
trình 135. Đến nay, có 136 xã đạt tiêu chí bưu điện, chiếm 66,34%
- Tiêu chí nhà ở dân cư: Tổng số có 350.078 nhà ở dân cư nông thôn;
trong đó, có 239.239 nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, nhà bán kiên cố
89.012 nhà và có 21.827 nhà tạm bợ, dột nát. Trong hơn 3 năm đã hỗ trợ xây
dựng 18.014 nhà (trong đó, khu vực các huyện miền núi hỗ trợ xây dựng 9.434
nhà ở), kinh phí gần 200 tỷ đồng. Đến nay, có 101 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư,
chiếm 49,27%.
* Thứ bảy, Giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội - môi trường
- Về tiêu chí giáo dục: Trong những năm qua công tác giáo dục và đào tạo
trên toàn tỉnh đã có bước chuyển mạnh mẽ về nhiều mặt, như: Mạng lưới trường
lớp ngày càng đa dạng, rộng khắp và từng bước được sắp xếp phù hợp với khung

* Thứ tám, Hệ thống tổ chức chính trị xã hội và an ninh, trật tự xã hội
- Hệ thống tổ chức chính trị xã hội: Tổng số cán bộ, công chức cấp xã là
4.245 người/205 xã (bình quân số cán bộ, công chức là 21 người/xã, không kể
bán chuyên trách); cấp thôn 6.851 người/1.499 thôn (bình quân 5 người/thôn).
Đến nay, đã có 126 xã đạt tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội, đạt 61,46 %
- An ninh, trật tự xã hội: Ngành Công an tỉnh, huyện đã xây dựng kế hoạch
và tổ chức thực hiện công tác an ninh trật tự giai đoạn 2010 – 2020. Trong 4 năm
qua, Công an toàn tỉnh đã phối hợp tổ chức 5.988 cuộc vận động, tuyên truyền
cho 1.023.007 lượt người tham dự. Qua đó, quần chúng đã cung cấp cho lực
lượng Công an 2.527 tin có giá trị giúp cho lực lượng Công an điều tra, khám
phá và xử lý kịp thời các vụ việc xảy ra, mang lại hiệu quả tích cực. Toàn tỉnh
hiện có 205 trưởng Công an xã, 205 Phó trưởng Công an xã và 1.799 Công an
viên. Đội ngũ này được quan tâm về chế độ chính sách, trang bị phương tiện, bồi
dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ xây dựng phong
trào toàn dân bảo vệ ANTQ và giữ gìn ANTT ở cơ sở, góp phần thực hiện tốt
tiêu chí an ninh trật tự. Đến nay, đã có 190 xã đạt tiêu chí an ninh trật tự xã hội,
chiếm 92,7%.
* Thứ chín, Kết quả huy động các nguồn lực, giai đoạn 2011-2014
Tổng vốn từ ngân sách nhà nước các cấp và huy động các nguồn lực trong
4 năm (2011 – 2014) để thực hiện Chương trình là 12.852,793 tỷ đồng. Trong
đó:
a) Vốn trực tiếp từ Chương trình: 640,493 tỷ đồng
- Ngân sách Trung ương: 297,717 tỷ đồng; trong đó:
+ Vốn đầu tư phát triển: Tổng số 216,199 tỷ đồng, tập trung hỗ trợ đầu tư
cho các xã phấn đấu đạt chuẩn NTM vào năm 2015, bình quân mỗi xã 3,6 tỷ
đồng/4 năm (bình quân mỗi năm 900 triệu đồng/xã).
+ Vốn sự nghiệp: Tổng số 81,518 tỷ đồng, tập trung hỗ trợ lập quy hoạch
xây dựng xã nông thôn mới (150 triệu đồng/xã), hỗ trợ công tác tuyên truyền,
đào tạo, quản lý (10 triệu đồng/xã/năm); số còn lại hỗ trợ phát triển sản xuất, tập


17.722 17.722
0
2012
48.080 20.000 28.080
2013
20.000 20.000
0
2014
69.273 69.273
0
Cộng
155.075 126.99 28.080
5
- Ngân sách huyện, thành phố: 118,152 tỷ đồng.
- Ngân sách xã: 69,549 tỷ đồng.
b) Vốn huy động, lồng ghép: 12.212,3 tỷ đồng
- Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án: 3.080 tỷ đồng.
- Vốn tín dụng: 8.384 tỷ đồng.
- Vốn huy động từ doanh nghiệp, HTX: 222,3 tỷ đồng.
- Nhân dân đóng góp (quy ra giá trị): trên 526 tỷ đồng.
* Kết quả giải ngân: Theo số liệu báo cáo của các huyện/thành phố, kết
quả thực hiện giải ngân vốn năm 2014 là 89,50% (qua Kho bạc Nhà nước tỉnh,
đến ngày 28/02/2015); trong đó, vốn sự nghiệp (NSTW) 95,30%, vốn đầu tư
phát triển (NS tỉnh) 94,20%, vốn TPCP 86,70%. Các địa phương thực hiện giải
ngân thấp: Nông Sơn (34,20%), Tam Kỳ (74,30%), Núi Thành (79,70%),…
* Kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới

4()

Ngân sách Trung ương

Trong đó, năm 2010 có 25 xã chưa đạt tiêu chí nào (xã trắng tiêu chí), đến
tháng 8/2013 không còn xã trắng tiêu chí.
- Kết quả bình quân tiêu chí NTM đạt chuẩn/xã của các huyện, thành phố:
+ Đối với khu vực đồng bằng, trung du (10 huyện + 2 thành phố): tổng số
141 xã, bình quân tiêu chí đạt 10,39 tiêu chí/xã (trong đó, có 9 xã đạt chuẩn
NTM năm 2014: Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong, Hương An, Đại Hiệp,
Tam Phước, Tam An, Tam Thành, Bình Tú). Các địa phương có bình quân tiêu
chí đạt cao: Phú Ninh (15,90 tiêu chí), Điện Bàn (15,08 tiêu chí), Hội An (13,50
tiêu chí), Tam Kỳ (10,75 tiêu chí), Quế Sơn (10,69 tiêu chí), Đại Lộc (10,59 tiêu
chí), Thăng Bình (10,10 tiêu chí), ...
+ Đối với khu vực miền núi cao (6 huyện): tổng số 64 xã, bình quân tiêu
chí đạt 5,34 tiêu chí/xã (trong đó, xã A Nông đạt chuẩn NTM năm 2014), cao
nhất là: Tây Giang (7,70 tiêu chí), Đông Giang (7,40 tiêu chí),...
- Ngoài 10 xã đạt chuẩn NTM năm 2014, bình quân số tiêu chí đạt của 4 3
xã phấn đấu đạt chuẩn NTM tong năm 2015 là 14,30 tiêu chí/xã, tăng bình quân
6,38 tiêu chí so với năm 2010 và tăng 4,24 tiêu chí/xã so với năm 2013; trong đó,
nhóm từ 15 - 18 tiêu chí: 23 xã và nhóm từ 10 - 14 tiêu chí: 21 xã.
2.2.2. Một số hạn chế
- Công tác thông tin tuyên truyền của các cấp chưa được thường xuyên,
rộng khắp, nội dung chưa được phong phú; trên một số lĩnh vực, công tác tuyên
truyền chưa mang lại những chuyển biến tích cực. Vai trò chủ thể của người dân
trong xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy cao; một bộ phận cán bộ và


23
nhân dân còn biểu hiện tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Sự “chung sức, chung lòng”
xây dựng nông thôn mới đã được phát động, tuyên truyền, nhưng việc thể hiện
bằng các hành động cụ thể còn nhiều hạn chế.
- Trong chỉ đạo xây dựng nông thôn mới còn nặng về xây dựng cơ bản,
chưa tập trung cao cho việc tổ chức chỉ đạo sản xuất; công tác lập và phê duyệt


24
- Ban Chỉ đạo các cấp tuy hoạt động kiêm nhiệm, nhưng đã bố trí, sắp xếp
thời gian để kiểm tra, chỉ đạo công tác nông thôn mới ở các địa phương được
phân công phụ trách; một số thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã gắn chức năng,
nhiệm vụ của đơn vị mình, ngành mình với nội dung các tiêu chí xây dựng xã
nông thôn, để phối hợp với các địa phương trong chỉ đạo thực hiện hoàn thành
các tiêu chí.
- Công tác thông tin tuyên truyền, đào tạo, tập huấn hướng dẫn nhằm nâng
cao nhận thức, nâng cao trình độ và kỹ năng về công tác xây dựng nông thôn
mới được chú trọng hơn. Nhờ vậy, đã tạo được sự chuyển biến về nhận thức và
sự hưởng ứng tích cực trong cán bộ, đảng viên, nhân dân trong việc thực hiện
Chương trình.
- Đã tập trung huy động, lồng ghép các nguồn vốn để nâng cấp, xây dựng
mới các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất, dân sinh tại địa bàn các xã, nhất là
các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015; tập trung ưu tiên nguồn
lực cho phát triển sản xuất, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp,
liên kết sản xuất để hỗ trợ thúc đẩy sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập cho hộ cư
dân nông thôn.
2.2.3.2. Nguyên nhân
hạn chế
- Tỉnh Quảng Nam có 6 huyện miền núi cao (tỷ lệ hộ nghèo trên 50%),
điểm xuất phát thấp, thu nhập của người dân khu vực nông thôn còn ở mức thấp,
tỷ lệ hộ nghèo cao; trong khi đó, kết cấu hạ tầng nông thôn (giao thông, thủy lợi,
trường, trạm y tế, nước sạch nông thôn,…) còn nhiều yếu kém, nhưng do ngân
sách tỉnh hạn hẹp nên những năm qua vốn đầu tư hỗ trợ trực tiếp cho Chương
trình chưa đáp ứng yêu cầu. Hơn nữa, trình độ, năng lực cán bộ ở cấp cơ sở còn
nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
- Nhiều đơn vị đã được UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo tỉnh giao nhiệm vụ
nhưng việc triển khai thực hiện chậm; một số thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh chưa

Thứ nhất; Xây dựng nông thôn mới phải thực hiện kiên trì, thường xuyên,
liên tục, bền bỉ, không nóng vội; mục tiêu xây dựng nông thôn mới là phục vụ
cho nhân dân, là sự nghiệp của dân, do dân làm, vì vậy cần phát huy vai trò làm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status