Tìm hiểu tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào dân tộc mông tại xã cán tỷ huyện quản bạ tỉnh hà giang - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

DƢƠNG MINH XUÂN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC
LOÀI THỰC VẬT LÀM THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG
TẠI XÃ CÁN TỶ - HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Nông lâm kết hợp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015




Giảng viên hƣớng dẫn

: ThS. Nguyễn Việt Hƣng

Khoa Lâm nghiệp - Trƣờng Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên - 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Đƣợc sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên, sự phân công của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự đồng ý của
thầy giáo hƣớng dẫn Th.S Nguyễn Việt Hƣng tôi đã thực hiện đề tài “Tìm hiểu
tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào
dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang”.
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc tới nhà trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp, chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hƣớng dẫn, giảng dạy
truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại
trƣờng. Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS. Nguyễn Việt Hƣng đã
trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện thành công khóa luận này.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới UBND xã Cán Tỷ và toàn thể nhân dân trong
xã đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thu thập số liệu cũng nhƣ các tài liệu
liên quan đến đề tài tốt nghiệp.
Mặc dù đã rất cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song
do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản
xuất cũng nhƣ hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi

Trang
Mẫu biểu 01.

Đặc điểm các loài cây đƣợc sử dụng làm thuốc trên tuyến
điều tra .......................................................................................20

Mẫu biểu 02.

Thông tin về các loài cây sử dụng làm thuốc trên tuyến điều
tra ...............................................................................................21


iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BTTN

: Bảo tồn thiên nhiên

GT

: Giới tính

HĐND

: Hội đồng nhân dân

IUCN



YHHĐ

: Y học hiện đại

YHCT

: Y học cổ truyền


v

MỤC LỤC
Trang

PHẦN 1. MỞ ĐẦU ........................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................ 3
1.4. Ý nghĩa của khóa luận ............................................................................. 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ..................................... 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất....................................................... 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................ 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................ 4
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trên Thế giới và ở
Việt Nam ........................................................................................................ 5
2.2.1. Trên thế giới ......................................................................................... 5
2.2.2. Ở Việt Nam .......................................................................................... 9
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu.............................................................. 13
2.3.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 13

5.2. Đề nghị .................................................................................................. 62


1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Tri thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng góp phần tạo nên
bản sắc văn hóa của tộc ngƣời, là tài sản trong quá trình phát triển, phản ánh mối
quan hệ của mỗi cộng đồng với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Kinh nghiệm phát
triển của nhiều quốc gia đã chỉ ra một thực tế, tri thức khoa học hiện đại chƣa
đáp ứng đủ những thách thức về kinh tế - văn hóa - môi trƣờng - xã hội. Trong
khi đó, với những ƣu điểm đã đƣợc chọn lọc và bảo tồn trong một thời gian lâu
dài, tri thức bản địa đã đem lại những hiệu ứng tích cực trong quá trình phát triển
của xã hội.
Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tƣợng đặc biệt đƣợc nhiều nhà
khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò, chức năng sử dụng
của nó trong nhiều lĩnh vực nhƣ thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ,
các nghi lễ tôn giáo, môi trƣờng… ở từng vùng từng địa phƣơng khác trên thế
giới. Trong đó, cây thuốc đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất.
Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam đƣợc đánh giá là nƣớc
đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật, trong đó độ đa dạng
về cây cỏ khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã đƣợc xác định, dự đoán có thể
tới 12.000 loài, trong số này, nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30%.
Nằm tại khu vực giao lƣu các nền văn hóa ở các nƣớc Đông Nam Á, Việt Nam
còn là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên
khắp lãnh thổ Việt Nam. Với mức độ đa dạng về hệ thực vật và văn hóa nhƣ vậy,
chúng ta đang đƣợc kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc quý giá của các
cộng đồng dân tộc khác nhau sử dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe và phát
triển kinh tế.

Tìm hiểu kiến thức bản địa và kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Mông
trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc góp phần bảo tồn, khai thác và
phát triển nguồn gen cây thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang.


3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục đích của nghiên cứu thì các mục tiêu sau đây đƣợc
thực hiện:
- Đánh giá đƣợc thực trạng và mức độ sử dụng các loài thực vật làm thuốc
của cộng đồng ngƣời Mông.
- Xây dựng đƣợc danh lục các loài thực vật rừng đƣợc ngƣời dân sử dụng
để làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiêm truyền thống.
- Lựa chọn đƣợc một số bài thuốc, cây thuốc hay và quan trọng để nhân
rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của ngƣời dân.
- Tìm hiểu đƣợc một số bài thuốc dân gian, công dụng chữa bệnh từ rễ,
thân, lá, hoa, quả hay hạt một cách an toàn và có hiệu quả cao.
1.4. Ý nghĩa của khóa luận
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng những kiến thức trong quá trình học tập ở trƣờng vào thực tiễn
tại địa bàn nghiên cứu.
- Rèn luyện phƣơng pháp tiếp cận và thu thập thông tin từ cộng đồng. Biết
cách phân tích, xử lý thông tin thu đƣợc và kỹ năng làm việc với cộng đồng.
- Bƣớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời sau khi
hoàn thành khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu
hơn trong sử dụng bền vững các loài thực vật làm thuốc của cộng đồng các dân
tộc thiểu số.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất
- Đánh giá đƣợc hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật làm
thuốc trong cộng đồng.

chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng vạn lao động khu vực nông thôn.
Theo thống kê chƣa đầy đủ, tính đến năm 2014, có khoảng 36/63 tỉnh gây
trồng, thu hái lâm sản ngoài gỗ với diện tích 1,6 triệu ha, chiếm 13% diện tích
đất có rừng trong phạm vi toàn quốc, trong đó diện tích lâm sản ngoài gỗ có khả
năng khai thác, thu hái từ rừng tự nhiên là 1,1 triệu ha, diện tích lâm sản ngoài
gỗ đƣợc trồng là 469.794ha.


5
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế
giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng
đồng. Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ
truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm
sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng nhƣ bảo đảm
nguồn cung cấp những thuốc này.
Đến nay ngƣời ta đã thu thập đƣợc 40.000 bài thuốc kinh nghiệm của đồng
bào trên khắp các miền, nhƣng khi con ngƣời phát hiện đƣợc giá trị của các hợp
chất thiên nhiên thì cũng là lúc môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng, cân bằng
sinh thái bị phá vỡ và các tài nguyên thiên nhiên đã bị cạn kiệt đây không chỉ là
thách thức đối với một vùng miền mà là vấn đề đang đặt ra đối với toàn cầu.
Trong sách đỏ Việt Nam ghi nhận 325 loài thực vật quý hiếm đã ở tình trạng cần
bảo vệ thì cây thuốc có 128 loài (chiếm 38,2%) chắc chắn con số này sẽ tăng
nhanh và danh sách các loài thuốc quý hiếm đang cạn kiệt dần còn nhiều hơn.
Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cây thuốc đáp ứng đƣợc nhu cầu hiện tại và cả
trong tƣơng lai thì cần chú ý song song giữa việc khai thác trong tự nhiên đảm
bảo tái sinh với việc nghiên cứu gây trồng các loài cây con làm thuốc.
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trên Thế giới và ở
Việt Nam
2.2.1. Trên thế giới
Tri thức bản địa đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến

dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ƣu nhất, tận dụng tối đa công dụng của
các loại cây thuốc. Các tác giả A.F.Hammemen, M.D.Choupinxkaia và A.A.
Yatsenko

đã

đƣa

ra

giá

trị

của

từng

loài

cây

thuốc

(cả về giá trị dƣợc liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “giá trị cây thuốc”. Năm 1972
tác giả N.G.Kovalena đã công bố trên cả nƣớc Liên Xô cũ việc sử dụng cây thuốc
vừa mang lại lợi ích cao và không gây hại cho sức khỏe của con ngƣời. Qua cuốn
sách “chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp ngƣời đọc tìm đƣợc



khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm


8
dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác
nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và từ đó, mỗi châu lục mỗi
dân tộc hình thành nên nền dƣợc thảo mang những nét đặc trƣng riêng.
- Dƣợc thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học
truyền thống cổ điển. Thầy thuốc ngƣời Hy Lạp có tên là Dioscorides đã viết
một cuốn sách thống kê 600 loại thảo mộc; Nicholas Culpeper xuất bản cuốn
dƣợc thảo “The English Physitian”…
- Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời. Ở
Trung Quốc, Lý Thời Trân (thế kỷ 16) đã thống kê đƣợc 12.000 vị thuốc trong
tập "Bản thảo cương mục". Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các
phương thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc.
Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các
loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trƣớc tới nay. Ở Ấn Độ, nền y học cổ
truyền - y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã đƣợc
nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000
loài cây cỏ có công dụng làm thuốc…
Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1985, trên toàn
thế giới đã biết tới 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao (trong tổng
số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) đƣợc sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có
xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R.Farnsworth $
D.D.Soejarto,1985). Theo Napralert năm 1990 con số này đƣợc ƣớc tính từ
30.000 - 70.000 loài cây thuốc. Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000
loài thực vật đƣợc coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới
Đông - Nam Á khoảng 6.500 loài…(N.R.Farnsworth, 1985; S.K.Alok, 1991;
P.G. Xiao, 2006), (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2007) [15]. Theo Lewington
(1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực vật đang đƣợc sử dụng

rét, Bình vôi (Stephania spp.) chiết xuất L. tetrahydro palmatin làm thuốc an thần,
giảm đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết saponin làm thuốc chữa
sỏi thận…(dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [15].


10
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây thuốc đã đƣợc tiến hành từ rất sớm,
gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng nhƣ: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá
Tĩnh (thế kỷ XIV), Hải Thƣợng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721 - 1792), hay các
nhà nghiên cứu hàng đầu về cây thuốc: Vũ Văn Chuyên, Đỗ Tất Lợi, Phạm
Hoàng Hộ, Võ Văn Chi, Trần Đình Lý, Nguyễn Nghĩa Thìn, …
Trong nền văn minh Đại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập sách y
học cổ truyền dân tộc đƣợc viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm. Trong thế kỷ 20
các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200 tập sách có giá trị về Đông y
bằng chữ Quốc ngữ. Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam gắn liền với sự sinh sống từng vùng địa dƣ sinh thái và xã hội. Từng dân
tộc trong quá trình sinh tồn và phát triển đều tích lũy đƣợc những kinh nghiệm
về sử dụng cây con thuốc có ở từng địa phƣơng. Đông y Việt Nam với hệ thống
lý luận chặt chẽ, với các phƣơng pháp phòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục
vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân từ xƣa tới nay.
Nƣớc ta đã có những công trình nghiên cứu về cây thuốc và các phƣơng
pháp chữa bệnh bằng cây thuốc đồ sộ nhƣ: “Nam dược thần hiệu”, “Hồng nghĩa
giác tư y thư” của Đại y thiền sƣ Tuệ Tĩnh và tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm
lĩnh” của Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Các tác phẩm này có ý nghĩa to
lớn cho nền YHCT dân tộc. Bộ “Nam dược thần hiệu” do Hòa Thƣợng Bản Lai
ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô biên tập, bổ sung in lại năm 1761 gồm bản thảo
dƣợc tính 499 vị (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3.932 phƣơng thuốc nam
ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa bệnh gia súc. “Nam dược chính
bản” do vua Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1705- 1719) sai các quan nội thị phủ chúa
Trịnh, các quan y viện duyệt lại và bổ sung sắp xếp thành chƣơng mục thứ tự và

sửa lại và bổ sung thêm. Nội dung giới thiệu từng vị thuốc nhƣng còn quá sơ
lƣợc so với sự đòi hỏi thực tế hiện nay.
- Bộ thứ hai “Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương” phần cây thuốc
do hai tác giả Ch. Crevest và A. Pestelot biên soạn thành hai tập: Tập 1 in năm
1928, tập 2 in năm 1935 với 1.430 vị thuốc thảo mộc của 3 nƣớc Đông Dƣơng.
Đến năm 1952, A. Pesterot có sửa chữa lại và bổ sung thêm, đặt cho bộ sách cái


12
tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia và Việt Nam” với 1.428 vị thuốc
thảo mộc và đƣợc in thành 4 tập: Tập I (1925), tập II (1953), tập III (1954), tập
IV in năm 1954 dành riêng cho các mục lục và bảng tra cứu (dẫn theo Đỗ Tất
Lợi, 2006) [12]. Các tác phẩm nghiên cứu về cây thuốc của các tác giả ngƣời
pháp tuy chƣa đầy đủ và tỉ mỉ nhƣng các bộ sách biên soạn khá công phu và giúp
ích nhiều cho những nghiên cứu về cây thuốc của Việt Nam sau này.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải
phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc
sƣu tầm, nghiên cứu các cây cỏ đƣợc sử dụng làm thuốc trên cả nƣớc. Trong thời
kì kháng chiến các nhà khoa học Việt Nam đã bƣớc đầu thống kê, hệ thống lại,
tìm hiểu số lƣợng, khu phân bố các loại cây thuốc. Công việc này đƣợc tiến hành
trong suốt một thời gian dài với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành:
Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi… Trong các nghiên cứu về cây thuốc
Việt Nam có một công trình nghiên cứu điển hình nhƣ:
- Cuốn sách “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi gồm 6 tập
đƣợc in từ năm 1962 - 1965. Tác giả đã trình bày khoảng 430 loài cây thuốc
thuộc 116 họ, đã thống kê các cây thuốc, ông đã ghi chép một cách tỉ mỉ các
thông tin: Đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa lí,
công dụng, cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình
khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc. “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” có một ý nghĩa quan trọng trong nền y dƣợc học Việt

2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Cán Tỷ thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang cách trung tâm thị trấn Tam
Sơn 12km về phía bắc đƣợc chia thành 8 thôn bản gồm: Đầu Cầu I, Đầu Cầu II,
Suối Hồ, Lùng Vái, Sảng Cán Tỷ, Sủa Cán Tỷ, Pờ Chúa Lủng, Giàng Chu Phìn.
Xã có vị trí địa lý và ranh giới nhƣ sau:
- Phía bắc giáp xã Bát Đại Sơn, xã Na Khê và xã Lao Và Chải


14
- Phía đông giáp xã Lao Và Chải
- Phía nam giáp xã Lùng Tám và xã Đông Hà
- Phía tây giáp xã Thanh Vân và xã Bát Đại Sơn.
Là một xã vùng III điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có vị trí địa lý đặc biệt
quan trọng là cầu nối giữa các huyện, tỉnh miền xuôi với cao nguyên đá Đồng Văn.
2.3.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng
Cán Tỷ nằm trong vùng núi đá vôi của khu vực đông bắc, có địa hình bị
chia cắt mạnh bởi hệ thống núi đá vôi cao trên 1000m - 1500m so với mặt nƣớc
biển, trải dài từ bắc xuống nam, độ dốc trung bình 40%. Xen kẽ giữa địa hình đồi
núi là các thung lũng nhỏ hẹp có con sông Miện chảy qua, hai bên bờ sông là
khu dân cƣ và đƣờng giao thông, chính vì vậy mà đất canh tác của xã không có
nhiều so với diện tích của toàn xã. Đất của xã chủ yếu là đất xám bạc màu dùng
để trồng ngô và trồng các loại cây hoa màu khác, ngoài ra còn có đất phát triển
trên núi đá vôi màu vàng nhạt xen lẫn phiến sét.
Nhìn chung Cán Tỷ có địa hình tƣơng đối phức tạp, độ dốc lớn nên việc bố
trí các công trình phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội
của địa phƣơng còn gặp rất nhiều khó khăn.
2.3.1.3. Đặc điểm Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu

kế hoạch giao, tăng 70%. Tổng sản lƣợng lƣơng thực là 2.372 tấn đạt 114% kế
hoạch giao trong đó:
+ Cây ngô: Diện tích ngô trồng đƣợc 462/454 ha đạt 101% kế hoạch giao,
diện tích ngô lai là 315 ha, năng suất bình quân đạt 40,5 tạ/ha, sản lƣợng bình
quân đạt 1.871,1 tấn.
+ Cây lúa mùa: Trồng đƣợc 77/77 ha đạt 100% kế hoạch giao, năng suất đạt
65 tạ/ha, sản lƣợng đạt 500,5 tấn.
+ Cây đậu tƣơng: Tổng diện tích gieo trồng 275,23 ha/312 ha đạt 91,7 % kế
hoạch giao, năng suất đạt 16,1 tạ/ha, sản lƣợng đạt 444 tấn tăng 111,2
+ Cây cỏ chăn nuôi: Toàn xã có 197 ha trong đó: Trồng mới đƣợc 30/40 ha
đạt 75% kế hoạch giao, tăng 14,8 ha.


16
+ Cây lạc: Trồng đƣợc 27/25 ha đạt 108% kế hoạch giao, năng suất đạt 13
tạ/ha, sản lƣợng 35,1 tấn.
* Bảo vệ và phát triển rừng
Do nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nên Cán Tỷ có diện tích
rừng tƣơng đối lớn với sự đa dạng, phong phú của các hệ động thực vật trên núi
đá vôi. Tuy nhiên, việc khai thác các sản phẩm từ rừng còn chƣa theo khuôn khổ,
mang tính tự phát, hiện tƣợng chặt phá rừng, đốt nƣơng làm rẫy vẫn thƣờng
xuyên xảy ra.
Chính vì vậy xã đã tập trung chỉ đạo cán bộ chuyên môn và lực lƣợng bảo
vệ rừng xây dựng kế hoạch phối hợp với cán bộ phụ trách thôn, bản tổ chức
tuyên truyền cho ngƣời dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ và phát triển
rừng. Phối hợp với các công ty lƣơng thực trong tỉnh tổ chức cấp phát gạo bảo vệ
rừng cho các hộ gia đình trong xã.
2.3.2.3. Xã hội
* Giáo dục – đào tạo:
Hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm học 2013 - 2014 ở tất cả các cấp học,

Dân quân tự vệ.
- Công tác An ninh: An ninh chính trị đƣợc giữ vững, trật tự an ninh toàn xã
hội đƣợc ổn định. Chú trọng và thƣờng xuyên nắm tình hình an ninh chính trị.
* Công tác an sinh xã hội:
Phối hợp với phòng lao động thƣơng binh xã hội thực hiện chi trả kịp thời
các chế độ chính sách cho các đối tƣợng bảo trợ xã hội theo nghị định số 67/CP,
tặng quà tết, hỗ trợ lƣơng thực, thực phẩm cho các hộ gia đình có hoàn cảnh kinh
tế khó khăn và tiếp nhận quà từ thiện từ các nhà hảo tâm trên cả nƣớc.
Qua kết quả rà soát toàn xã có 914 hộ với 4836 khẩu, tổng số hộ nghèo là
362 hộ chiếm 39,60%, hộ cận nghèo là 224 hộ chiếm 24,51%, hộ trung bình là
328 hộ chiếm 35,89%. Xã đã tập trung chỉ đạo cán bộ phụ trách thôn xét nhà tạm
theo nguồn vốn hỗ trợ của Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam với mức hỗ trợ 30
triệu đồng/hộ, đến nay các hộ đã hoàn thành xong nhà đảm bảo chất lƣợng và
cuộc sống ổn định cho ngƣời dân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status