MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt là ở đô thị
không còn là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực, mà đã trở
thành vấn đề toàn cầu. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội đã tác động
lớn đến môi trường. Nồng độ các chất có hại trong không khí vượt mức
cho phép nhiều lần. Các chất này ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người,
gây ra các bệnh về đường hô hấp, thậm chí có thể gây tử vong. Do vậy các
khí thải cần phải được xử lí trước khi đưa vào môi trường, oxi hóa hoàn
toàn là phương pháp cơ bản nhất của phương pháp xử lí khí thải, muốn vậy
phải nhờ đến xúc tác.
Xúc tác kim loại quý như Pt, Pd, Au tuy có hoạt tính xúc tác tốt
nhưng giá thành cao và dễ bị ngộ độc. Hiện nay vật liệu perovskit được
nghiên cứu và ứng dụng làm xúc tác cũng có hoạt tính tốt, ít bị ngộ độc,
giá thành thấp hơn và độ bền cơ học cao.
Vật liệu perovskit là các oxit phức hợp ABO3 (với A = La, Nd,
Sm,.. ; B=Ti, Cr, Mn, Fe, Co, ...) và các oxit phức hợp họ hàng của chúng
dạng A1-xMxB1-yB*yO3 (M là các kim loại kiềm hoặc kiềm thổ, B* là kim
loại chuyển tiếp). Sự thay thế một phần ion A bởi nguyên tố khác dẫn đến
sự thay đổi tính chất rất thú vị. Hệ perovskit LaFeO 3 khi thay thế một phần
sắt bằng mangan hoặc coban tác giả Lê Hải Đăng đã tổng hợp, nghiên cứu
và cho thấy mẫu LFM6, LFC6, LFC8, LFC4 [2, 3] đều có giá trị T 50 nằm
trong khoảng nhiệt độ 200-250oC trong phản ứng oxi hóa sâu m- xilen.
Đặc biệt là mẫu LFM6 đạt độ chuyển hóa 90% ở vùng nhiệt độ 250-300 oC.
Theo một số công trình khi ion A là La và B là Mn trong cấu trúc
perovskit ABO3 sẽ cho vật liệu có khả năng xúc tác tốt cho các phản ứng
oxi hóa hidrocacbon [15, 16]. Nếu thay thế một phần La bằng Sr, B là Mn
hoặc Co cũng có khả năng xúc tác tốt. Vật liệu dạng La 1-xSrxMnO3 và La1xSrxCoO3 có hoạt tính cao với phản ứng oxi hóa parafin, m- xilen [17, 22].
Vật liệu La1-xLixMnO3 đã được nhóm tác giả của Viện khoa học vật liệu,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu hoạt tính xúc
tác trong phản ứng oxi hóa CO và chuyển hóa NO x cho kết quả tốt [3].
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài thực hiện sẽ làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm
hoàn thiện ứng dụng vật liệu dạng perovskit vào việc xử lý khí thải gây ô
nhiễm môi trường.
5. Bố cục luận văn
Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn với các phần
chính như sau:
Mở đầu: Nêu lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu của luận văn
Chương 1: Tổng quan: Trình bày tầm quan trọng của việc xử lí khí
thải; sơ lược về vật liệu perovskit, các phương pháp tổng hợp và khả năng
xúc tác của chúng trong các phản ứng.
Chương 2: Kĩ thuật thực nghiệm: Trình bày các bước tiến hành
thực nghiệm như chuẩn bị dụng cụ hóa chất, tổng hợp vật liệu bằng
phương pháp sol – gel.Cuối cùng là các phương pháp nghiên cứu cấu trúc,
hình thái bề mặt và thử hoạt tính xúc tác của vật liệu.
Chương 3: Kết quả và thảo luận: Trình bày các kết quả phân tích
cấu trúc, hình thái bề mặt vật liệu, nhận xét và kết luận về ảnh hưởng của
các yếu tố đến quá trình tổng hợp, , đến khả năng xúc tác của vật liệu tổng
hợp.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Hiện trạng ô nhiễm không khí trên thế giới
Dân số thế giới ngày một tăng nhanh dẫn đến nhu cầu về cuộc sống
cũng tăng theo. Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa càng nhanh chóng
hơn,sự phát triển này một mặt tác động tích cực đến nền kinh tế, tuy nhiên
một mặt còn tác động không nhỏ đến môi trường sống.Vấn đề ô nhiễm
không khí đang là vấn đề khá bức xúc hiện nay, nó trở thành vấn đề toàn
cầu không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam, mức độ ô nhiễm đáng báo
hại này, thống kê của tổ chức Y tế thế giới cho biết mỗi năm có đến 2 triệu
3
trẻ em tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp, 60% trong số đó do ô nhiễm
không khí. Tổ chức này cũng lượng định khoảng 3-5% trẻ em trên toàn thế
giới bị sinh ra khuyết tật bẩm sinh do ô nhiễm môi trường.
Tìm ra vật liệu có khả năng hấp phụ và xúc tác đạt hiệu quả cao, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường là mong muốn của tất cả mọi người.Trong số các
vật liệu đang được nghiên cứu và sử dụng, các oxit phức hợp dạng
perovskit chiếm được nhiều quan tâm vì hoạt tính xúc tác cao và lợi ích về
kinh tế.
1.2. Tổng quan về vật liệu perovskit
1.2.1. Cấu trúc tinh thể của vật liệu perovskit
Perovskit là tên gọi chung của các vật liệu có cấu trúc tinh thể giống
với cấu trức của Canxi titanat CaTiO 3. Tên gọi của perovskit được đặt theo
tên gọi của nhà khoáng học người Nga L.A.Perovski (1792- 1856), người
có công nghiên cứu và phát hiện ra vật liệu này ở vùng núi Uran của Nga
năm 1839.
Cấu trúc của perovskit ABO3 do H.D.Megaw phát hiện lần đầu tiên
năm 1864 trong khoáng chất CaTiO3. A có thể là cation kim loại kiềm thổ,
đất hiếm…Tùy theo nguyên tố ở vị trí B mà có thể phân thành nhiều họ
perovskit khác nhau.
Cấu trúc perovskit lí tưởng (không pha tạp) ABO 3 được mô tả trên
hình 1
Hình 1.1: Cấu trúc perovskit lí tưởng
Ô mạng cơ sở là hình lập phương với các hằng số mạng là a = b = c và
α = β = γ = 90o. Các cation A nằm ở vị trí có số phối trí là 12 với các ion
lân cận là anion oxi. Các cation B nằm ở vị trí tâm của bát diện (số phối trí
- Phương pháp precusor dung dịch rắn
- Phương pháp vi nhũ tương
- Phương pháp sol- gel
1.3.1. Phương pháp đồng kết tủa
Bản chất là kết tủa đồng thời tất cả các ion có trong thành phần của
oxit phức hợp từ dung dịch dưới dạng hydroxide, carbonate, oxalate,
xitrat… Sau đó kết tủa được rửa và nung sẽ thu được oxit phức hợp.Điều
kiện cùng kết tủa là tích số hòa tan của các hợp chất này phải xấp xỉ bằng
nhau và tốc độ kết tủa trong suốt quá trình phải như nhau.
1.3.2. Phương pháp precusor hợp chất
Trong phương pháp này, các nguyên tố có trong thành phần của oxit
phức hợp được đưa vào trong cùng một hợp chất thường dưới dạng các
phức chất.Nung các phức chất này ở nhiệt độ không cao (từ 400 oC đến 500
o
C) sẽ thu được các oxit phức hợp.
1.3.3. Phương pháp precusor dung dịch rắn
Phương pháp này dựa vào các chất đồng hình sẽ cùng kết tinh từ dung
dịch và tạo thành dung dịch rắn. Nhiệt phân dung dịch rắn này sẽ thu được
5
oxit phức hợp.Dung dịch rắn thường là các muối oxalate, nitrate và
carbonate.
1.3.4. Phương pháp vi nhũ tương
Trong phương pháp này hệ vi nhũ tương thường được chọn là các chất
hữu cơ. Pha nước là dung dịch nước chứa muối tan. Pha nước tồn tại trong
hệ dưới dạng vi nhũ nước trong dầu với các giọt nước có kích thước nano
ổn định đồng nhất.Các hỗn hợp vi nhũ được tạo ra bằng cách trộn dung
dịch muối khác nhau vào dung dịch hỗn hợp các chất hữu cơ. Sau đó
hạt siêu mịn, hạt nano và màng mỏng.Theo quan điểm axit bazo có thể coi
các alkoxide là hợp chất được tạo thành bởi một bazo và 1 axit rất yếu
ROH do đó chúng rất dễ bị thủy phân theo phản ứng:
M(OR)n + H2O
M(OH)n + nROH
Thực tế ngoài quá trình thủy phân còn có quá trình ngưng tụ (theo cơ
chế alcoxolation, oxolation, olation) đây là hai quá trình chủ yếu biến đổi
alkoxide thành khung oxit hoặc hidroxyde.
6
1.3.5.3. Phương pháp sol- gel theo con đường tạo phức
Năm 1967, M.P. Pechini đã tổng hợp titanate, zirconate, niobate chì
và kim loại kiềm thổ dưới dạng bột và màng bằng cách thêm axit xitric
HOOC- CH2-C(OH)(COOH)-CH2- COOH (gồm ba nhóm cacboxyl và một
nhóm alcol để tạo phức càng cua với các cation kim loại, do đó khả năng
tạo phức của nó rất mạnh, vì thế có thể tạo phức được với hầu hết các kim
loại tùy thuộc vào pH) và ethylen glycol vào dung dịch muối của các kim
loại đó.Sau đó khuấy và đun nóng tới khi tạo thành gel đồng nhất. Sấy gel
phần lớn dung môi bay hơi thu được xerogel. Nung xerogel sẽ thu được
oxit phức hợp.
Có thể đưa ra giả thuyết về sự tạo gel của phương pháp sol- gel xitrat như
sau:
Ac, pH
Dung dịch → Phức đơn nhân → Phức đa nhân → Sol →
Gel
Tóm lại là phương pháp sol – gel là phương pháp được sử dụng rộng
rãi và tỏ ra ưu việt để tạo ra các vật liệu khối, màng mỏng có cấu trúc
nano, bột với độ mịn cao hoặc dạng sợi có cấu trúc đa tinh thể hay vô định
• Dụng cụ: bình định mức, cốc thể tích 100ml, 200ml, 500ml; con từ;
máy khuấy từ; máy sấy; máy nung.
•
Xác định nồng độ của dung dịch các ion kim loại bằng phương pháp
chuẩn độ tạo phức.
• Quy trình tổng hợp perovskit theo phương pháp sol-gel xitrat
2.1.1 Khảo sát điều kiện tổng hợp hệ La1-xLixFeO3 (x = 0,1; 0,2; 0,3)
Sử dụng quy tình tổng hợp như sơ đồ hình 2.1 chúng tôi đã tổng hợp
vật liệu thuộc hệ này theo bảng 2.1. Các mẫu gel được sấy ở nhiệt độ
120oC trong vòng 12 giờ. Xerogel được nung sơ bộ ở 450oC trong 2 giờ.
Bảng 2.1: Tổng hợp vật liệu hệ La1-xLixFeO3
ST Mẫ
p
T(oC)
t
x
k
Hiện tượng
T
u
H nung (giờ)
Gel trong suốt, sau
1
L1 0,1
1,4
5
800
3
khi sấy thì xốp
Gel trong suốt, độ xốp
750
3
Gel trong suốt
6
L12
0,2
1,4
6
750
4
Gel trong suốt
7
L15
0,2
1,4
56
10
L20
0,3
1,2
6
800
3
Gel không được xốp
Không có bị đục khi
nhỏ NH3, gel bóng và
độ xốp không cao
Gel trong suốt
8
11
L23
0,3
u
nung
T
)
13 L2 0,1 1,4
5
800
3 Gel trong suốt
Gel trong suốt, xốp sau
14 L5 0,1 1,4
5
650
4
sấy
15 L32 0,1 1,4
6
800
3
Không có kết tủa khi
16 L25 0,1 1,6
5
650
4
nhỏ NH3
17 L10 0,2 1,4
5
750
3 Gel trong suốt
18 L13
1,2
6
800
3
Gel không xốp
21 L24
0,3
1,4
5
800
3
Gel trong suốt
22 L27 0,3 1,6
6
800
3 Gel trong suốt
2.1.3 Khảo sát điều kiện tổng hợp mẫu La1-xLixCoO3 ( x = 0,1; 0,2; 0,3)
Bảng 2.3: Tổng hợp các vật liệu hệ La1-xLixCoO3
6-7
5
650
4
9
Gel không đồng nhất
Gel màu hồng, trong
suốt
27
L11
0,2
1,4
6
750
3
Gel trong suốt
Gel trong suốt
30
L31
0,2
1,2
7
31
L22
0,3
1,2
6
800
3
32
L33
3
Gel trong suốt
2.2. Một số phương pháp nghiên cứu cấu trúc và tính chất của vật liệu.
2.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X
Phương pháp nhiễu xạ tia X được sử dụng sớm và phổ biến nhất để
nghiên cứu cấu trúc vật rắn, vì tia X có bước sóng tương đương với
khoảng cách giữa các nguyên tử trong tinh thể vật rắn.
Phương pháp nhiễu xạ tia X cung cấp thông tin về sự hình thành và biến
đổi pha tinh thể của vật liệu tổng hợp. Nó còn cho phép phân tích bán định
lượng đối với kích thước tinh thể và hàm lượng các pha có trong vật liệu.
Hình 2.2:Phản xạ Bragg từ các mặt phẳng song song
Khi chiếu một chùm tia X vào tinh thể, điện từ trường của tia X sẽ
tương tác với các nguyên tử nằm trong mạng tinh thể. Các tia khuếch tán
từ tương tác này có thể giao thoa với nhau. Nếu gọi góc tới của tia X với
mặt phẳng tinh thể là θ thì sự giao thoa chỉ có thể xảy ra nếu thoả mãn
phương trình Bragg :
2dsinθ = nλ
10
Việc đo các cực đại nhiễu xạ tia X theo các góc θ khác nhau sẽ cho
phép xác định được kích thước trung bình của hạt theo công thức DebyeScherrer:
D=k
λ
βcosθ
học bằng các thấu kính điện tử.
Điều kiện hoạt động thông thường của thiết bị truyền qua là: chùm
electron 100 ke V, độ chân không 10-6 mbar, độ phân giải 0,5nm, độ phóng
11
đại 300.000 lần. Ảnh TEM được ghi trên máy JEOL-JEM-1010 (Nhật
Bản) tại Viện Vệ sinh Dịch Tễ Trung ương.
2.2.4. Phương pháp tán xạ năng lượng tia X (EDX)
Kĩ thuật EDX được phát triển từ những năm 1960 và thiết bị thương
phẩm đầu tiên xuất hiện vào đầu những năm 1970 với việc sử dụng
Detector dịch chuyển Si, Li hoặc Ge.
Phổ tia X phát ra có tần sô trải trong một vùng rộng và được phân tích
nhờ phổ kế tán sắc năng lượng, do đó ghi nhận thông tin về các nguyên tố
cũng như thành phần. Cường độ tia X tỉ lệ với thành phần nguyên tố có
mặt trong mẫu. Độ phân giải của phép phân tích phụ thuộc vào kích cỡ
chùm điện tử và độ nhạy của detector. Độ chính xác của EDX ở cấp độ
một vài phần trăm, thông thường ghi nhận được sự có mặt của các nguyên
tố có tỉ lệ 3-5% trở lên. Tuy nhiên EDX tỏ ra không hiệu quả với các
nguyên tố nhẹ (ví dụ B, Li, …).
Giản đồ EDX của các mẫu tổng hợp trong luận văn được đo trên hệ
thiết bị hiển vi điện tử quét Model JSM 7600F; hang JEOL, xuất xứ Nhật
Bản tích hợp phân tích phổ tán sắc năng lượng tia X Modle X- Mas 50,
hãng Oxford Instruments, Anh.
2.2.5. Phương pháp xác định diện tích bề mặt (BET)
Mô hình BET được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu hấp phụ vật lí.
Việc ứng dụng phương trình BET để tính toán bề mặt riêng đã trở
thành phương pháp tiêu chuẩn trong nghiên cứu vật liệu mao quản.
Để xác định diện tích bề mặt riêng của vật liệu có thể dựa vào phương
trình BET ở dạng:
thí nghiệm Bộ môn Hóa Lí –Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội và bộ môn
hóa học trường Đại học Tổng hợp để thử hoạt tính xúc tác của mẫu phân
tích.
Phản ứng: C7H8 + 9O2 → 7 CO2 + 4 H2O
Quá trình thực hiện:
-Cho hệ vào reactor, đặt trong lò. Nâng nhiệt độ lên 450 0C trong dòng
không khí, giữ trong 2h ở nhiệt độ này.
-Hạ nhiệt độ lò xuống các nhiệt độ 250, 300, 350 0C. Khi đã ổn định nhiệt
thì chuyển van đưa dòng không khí toluen qua, đo trong 1h.
Kết quả tính toán như sau:
-Độ chuyển hóa:
α=
Ngoài ra chúng ta có thể xác định được năng lượng hoạt động hóa của
phản ứng dựa vào phương trình Arrhenius:
d ln k
E
=
dT
RT 2
Biết rằng, tốc độ phản ứng r:
(1)
ϕ(Ci )
r = k (T).
(2)
Giả thiết rằng, trong khoảng nhiệt độ khảo sát cơ chế phản ứng không thay
đổi thì φ (Ci) = const (T). Do đó, ta có:
ln r = lnk(T) + ln φ(Ci)
tại T = const
Do đó, từ (1) - (5) ta có:
d ln α
E
=
dT
RT 2
ln α = −
(6)
E
+ ln α 0
RT
hay
(7)
Từ (7) có thể xác định được năng lượng hoạt hóa E của phản ứng oxi hóa
toluen với oxi không khí bằng cách vẽ đồ thị lnα =f (1/T).
14
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khảo sát điều kiện tổng hợp một số vật liệu perovskit
3.1.1. Khảo sát điều kiện tổng hợp hệ La1-xLixFeO3 với x = 0,1; 0,2; 0,3
Hệ La1-xLixFeO3 nên tổng hợp ở pH= 5-6, k = 1,4; nung sơ bộ 450 0C,
nm. Tuy nhiên với mẫu L2 và L5 các hạt cũng tách rời nhau hơn mẫu L1.
Kích thước hạt của mẫu L1 to hơn cũng có thể ảnh hưởng tới khả năng xúc
tác của vật liệu, vì sự kết đám và kích thước lớn sẽ làm giảm diện tích về
mặt của vật liệu.
16
3.2.1.2 Kết quả chụp TEM
Hình 3.16: Ảnh TEM của mẫu L2
Quan sát ảnh TEM ta thấy các mẫu đều có dạng cầu, kích thước trung bình
hạt khoảng 20-30nm.
3.3.2 Xác định diện tích bề mặt riêng của vật liệu
Diện tích bề mặt riêng của vật liệu được xác định bằng phương pháp hấp
phụ đẳng nhiệt khí N2.
Chúng tôi thu được kết quả diện tích bề mặt riêng của mẫu L2
(La0,9Li0,1MnO3) là 32,34 m2/g.
3.4. Hoạt tính xúc tác của vật liệu trong phản ứng oxi hóa toluen
Chúng tôi đã chọn ra 5 mẫu thuộc 3 hệ vật liệu đã tổng hợp để nghiên cứu
hoạt tính xúc tác theo nhiệt độ.
3.4.1. Mẫu La0,9Li0,1FeO3
-Kết quả:
Bảng 3.6: Độ chuyển hóa toluen theo thời gian của mẫu La 0,9Li0,1FeO3 tại
các nhiệt độ 2500C, 3000C, 3500C, 4000C, 4500C
Thời gian (phút)
15
30
45
60
ở 2500C mẫu chưa có hoạt tính xúc tác, đến 300 0C độ chuyển hóa tăng
17
mạnh, đã đạt 65,64%, nhiệt độ tăng đến 4000C độ chuyển hóa là 89,05%.
Độ chuyển hóa cao nhất là 95,86% ở nhiệt độ khảo sát 4500C.
3.4.2 Mẫu La0,9Li0,1MnO3
-Kết quả
Bảng 3.7: Độ chuyển hóa toluen theo thời gian của mẫu La 0,9Li0,1MnO3 tại
các nhiệt độ 2500C, 3000C, 3500C, 4000C, 4500C
Thời gian (phút)
15
30
45
60
Độ
250
93,04
93,18
93,14
93,04
chuyển
300
96,02
95,99
96,12
96,05
hóa
(α 350
97,37
32,73
24,17
32,88
chuyển
300
56,16
56,33
56,51
53,63
hóa
(α 350
68,08
69,83
69,48
69,97
%)
400
78,83
78,50
78,82
78,90
450
83,9
83,68
84,51
84,05
0
Hoạt tính xúc tác của mẫu La 0,9Li0,1CoO3 ở 250 C còn thấp mới đạt khoảng
32%, khi tăng lên 3000C thì độ chuyển hóa đã đạt quá nửa, khoảng 5356%. Độ chuyển hóa tiếp tục tăng lên đến khoảng 78% ở 400 0C. Ở nhiệt
độ 4500C, toluen chuyển hóa được 83-84%.
-Kết quả:
Bảng 3.9: Độ chuyển hóa toluen theo thời gian của mẫu La 0,8Li0,2MnO3 tại
nhiệt độ 2000C, 2500C, 3000C, 4000C
Thời gian
15
30
45
60
Độ
200
92,95266 92,19132 91,0583
91,3926
chuyển
250
99,47554 99,45288 99,41597 99,61361
hóa (%)
300
99,67252 99,58322 99,47958 99,56361
400
99,73252 99,73322 99,64958 99,61361
Dựa vào bảng, ta thấy mẫu La 0,8Li0,2MnO3 có hoạt tính xúc tác cao, ở
2000C độ chuyển hóa đã đạt khoảng91-92%, khi tăng nhiệt độ lên các nhiệt
độ 2500C, 3000C, 4000C độ chuyển hóa đạt gần 100%.
Như vậy, ta có thể dễ thấy khi tăng tỉ lệ pha tạp, thay thế ion La 3+ bằng ion
Li+ thì khả năng xúc tác của mẫu tăng lên đáng kể. Với mẫu
La0,9Li0,1MnO3, ở 2500C độ chuyển hóa đạt 93% trong khi với mẫu pha tạp
x = 0,2, chỉ ở nhiệt độ 2000C độ chuyển hóa đã là 91-92%. Điều này có thể
19
là gần 100% trong khi mẫu pha tạp x = 0,1 chỉ đạt trên 50%.
Rõ ràng, tỉ lệ pha tạp ảnh hưởng lớn tới khả năng xúc tác của hệ, điều này
cũng giải thích tương tự là do diện tích bề mặt riêng của mẫu tăng lên.
20
KẾT LUẬN
1. Trên cơ sở khảo sát các yếu tố pH, tỉ lệ axit xitric và tổng ion kim loại,
thời gian, nhiệt độ nung ảnh hưởng tới sự tạo gel, sự hình thành oxit phức
hợp perovskit, từ đó xác định được điều kiện tổng hợp thích hợp là:
Hệ La1-xLixFeO3 nên tổng hợp ở pH= 5-6, k = 1,4; nung sơ bộ 450 0C,
nung ở 8000C trong 3 giờ.
Hệ La1-xLixMnO3 nên tổng hợp ở pH= 5, k =1,4; nung sơ bộ bộ 450 0C,
nung ở 8000C trong 3 giờ.
Hệ La1-xLixCoO3 nên tổng hợp ở pH= 5-6, k =1,4 hoặc k = 1,6; nung
sơ bộ bộ 4500C, nung ở 8000C trong 3 giờ.
Với các mẫu La0,9Li0,1MO3 ( M: Fe, Mn, Co) có thể nung sơ bộ bộ 450 0C
và nung 6500C trong 4 giờ.
2. Các mẫu vật liệu kích thước hạt khoảng 30-50nm, độ xốp cao, diện tích
bề mặt tính theo BET tương đối lớn.
3. Đối với phản ứng oxi hóa hoàn toàn toluen, các mẫu hệ La 1-xLixMnO3 có
hoạt tính xúc tác cao hơn hai hệ vật liệu còn lại, đặc biệt mẫu
La0,8Li0,2MnO3 chuyển hóa đến 91-92% tại nhiệt độ 200 0C. Mẫu
La0,9Li0,1MnO3 ở nhiệt độ 2500C độ chuyển hóa đạt 93%. Khả năng xúc tác
ở nhiệt độ thấp La1-xLixFeO3>La1-xLixCoO3 và nhiệt độ cao thì ngược lại.
4. Cùng nhiệt độ và cùng hệ vật liệu khi tăng tỉ lệ pha tạp, thì khả năng xúc
tác tăng lên đáng kể.
KIẾN NGHỊ
1. Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để đưa các hệ vào ứng dụng xử lí khí thải.