Pháp luật cộng đồng ASEAN: Bình luận hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN trong lĩnh vực du lịch - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Tự do hoa hiện là một xu thế chung của thế giới và các nước trong khối
ASEAN cũng đang từng bước thực hiện. Tự do hóa thương mại dịch vụ là một
trong những bước cần thiết để tiến đến tự do hóa toàn khu vực. Tại Diễn đàn
thương mại dịch vụ ASEAN “Hướng tới khu vực tự do ASEAN” Ông Ong Keng
Yong - Tổng thư ký ASEAN đã tuyên bố du lịch là một trong bốn lính vực được ưu
tiên tự do hóa. Vậy các nước ASEAN đã và đang làm được những gì trên tiến trình
tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch? Để tìm hiểu về vấn đề này, nhóm chúng em
đã đi vào giải quyết đề bai: “ Bình luận hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ
của ASEAN trong lĩnh vực du lịch”.
NỘI DUNG
1.
1.1

Khái quát về tự do hóa thương mại dịch vụ trong cộng đồng ASEAN
Khái niệm và bản chất của tự do hóa thương mại dịch vụ

Tự do thương mại là sự nới lỏng của nhà nước hay chính phủ trong lĩnh vực
trao đổi, buôn bán quốc tế.
Đến nay, ngay cả Hiệp định GATS cũng chưa đưa ra một khái niệm dịch vụ
chính thống mà chỉ liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác
nhau nằm trong phạm vi điều chỉnh của hiệp định.
Nội dung của tự do thương mại hoá dịch vụ là việc Nhà nước áp dụng các biện
pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế
quan trong quan hệ với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của cá choạt động thương mại dịch vụ quốc tế cả bề rộng và bề sâu. Các biện pháp
ở đây là điều chỉnh theo hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên
cơ sở các thoảt huận song phương và đa phương với các quốc gia.
Mở cửa thị trường dịch vụ sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nền kinh tế, bao gồm
cả các nước đang phát triển, với điều kiện được thực hiện một cách thận trọng. Tuy
1

thị trường hiện tại giữa các quốc gia thành viên
Cấm các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường

-

mới hoặc có tính chất hạn chế, phân biệt đối xử hơn
ĐỒng thời các quốc gia sẽ tiến hành đàm phán về các biện pháp gây ảnh
hưởng đến thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể.

Qua các vòng đàm phán, đến nay, ASEAN đã đạt được những thỏa thuận đáng
kể trong việc xóa bỏ các rào cản đối với tự do hóa thương mại dịch vụ. Hơn thế
nữa, để phù hợp với Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC, ASEAN đã và đang tiếp
tục xóa bỏ những rào cản đối với tự do hóa thương mại dịch vụ trên cơ sở các
vòng đàm phán tiếp theo.
2


1.2.2

Công nhận lẫn nhau

Nhằm đảm bảo sự tự do của thương mại dịch vụ trong khu vực, các nhà lãnh
đạo ASEAN đã tiến hành ký kết Hiệp định khung ASEAN về dịch Vụ (AFAS) vào
ngày 15/12/1995. AFAS đã trở thành cơ sở pháp lý nền tảng cho việc thực hiện tự
do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN trong đó quy định về công nhận lẫn nhau
giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Tại Điều 5 Hiệp định khung ASEAN về
dịch vụ có quy định: “ Mỗi quốc gia thành viên có thể công nhận trình độ giáo dục
hoặc kinh nghiệm nhận được, các yêu cầu đã được thỏa mãn, hoặc các giấy chứng
nhận hoặc giấy phép đã được cấp tại một quốc gia thành viên khác, để sử dụng
cho mục đích cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ…trên cơ sở

Viêng Chăn (Lào) đã đưa ra những cam kết thúc đẩy tự do hóa thương mại,
giảm đói nghèo và cùng hợp tác chống lại đà tăng giá dầu kỷ lục trong thời gian
qua. Các nước ASEAN đã cam kết mở cửa hoàn toàn ngành dịch vụ vào năm
2015 để tiến tới thực hiện mục tiêu thành lập "Cộng đồng kinh tế ASEAN" có
thị trường và cơ sở sản xuất chung vào năm 2020. Như vậy, du lịch là một trong
những lĩnh vực được ưu tiên tự do hóa trong khu vực ASEAN bởi những lợi thế
mà du lịch mang lại cho các quốc gia trong khối ASEAN. Cụ thể đó là:
Thứ nhất: Các nước tham gia vào ASEAN mang những lợi thế riêng nhưng
một trong những lợi thế mà các quốc gia đều có sẵn là danh lam thắng cảnh,
văn hóa, phong tục tập quán…Đây là tiền đề cho các nước trong khối ASEAN
phát triển lĩnh vực du lịch.Qua đó có thể nói ngành du lịch của các quốc gia đều
có tiền năng phát triển trong hiện tại và tương lai.
Thứ hai, Trong khi nhu cầu về du lịch nước ngoài ngày càng tăng thì việc
hợp tác tự do hóa về du lịch giúp mở rộng thị trường và phát triển những loại
hình du lịch mới. Ngành du lịch là một ngành mang lại GDP cao hơn cho các
quốc gia qua đó phần nào giúp cho các nước ASEAN giảm khoảng cách giàu
nghèo giữa các quốc gia. Ví dụ như Việt Nam về Tổng thu trực tiếp từ khách
du lịch năm 2013 đạt 200 nghìn tỷ đồng (tương đương 9,7 tỷ USD), chiếm
khoảng 6% GDP.
Thứ ba: Theo Phó Thư ký thường trực Bộ Ngoại giao Thái Lan Vitavas
Srivihok có nhấn mạnh mạnh ASEAN có lẽ là tổ chức khu vực đa dạng nhất thế
giới xét về mặt phát triển kinh tế, nền tảng chính trị, sắc tộc, tôn giáo và văn
4


hóa song điều này chưa bao giờ là trở ngại để khu vực đưa ra những sáng kiến
và ý tưởng mới. Để có được điều này thì không thể phủ nhận được sự phát triển
ngành du lịch. Thông qua du lịch thì các quốc gia trong khối ASEAN sẽ có thể
giao lưu văn hóa với nhau và quảng bá hình ảnh của quốc gia mình qua đó tạo
nên một ASEAN nhiều sắc màu.

2.2 Các hoạt động tiến hành tự do hóa thương mại dịch vụ trong lĩnh vực du
lịch của ASEAN
Nhắc đến cơ sơ pháp lý của du lịch ASEAN không thể không nhắc tới Hiệp
Định du lịch ASEAN được ký kết tại Hội nghị Thưởng ĐỈnh ASEAN lần thứ 7,
ngày 04 tháng 11 năm 2011. Văn bản pháp lý này đã có nhiều quy định quan trọng
và thiết yếu và cũng được xem như là một bước đi lớn trong tiến trình tự do hóa
thương mại dịch vụ du lịch. Việc ký kết hiệp định này đã giúp cho các thành viên
thấy rõ hơn được vị trí của dịch vụ du lịch và các bước để đi dần đến sự tự do hóa
loại dịch vụ này. Tuy nhiên không phải một hiệp định nào được đưa ra dù đã được
sự thỏa thuận và nhất trí mà có thể ngay lập tức thực hiện được ngay, nó cần có
quá trình và di từng bước. Hiện nay, ASEAN trong tiến trình tự do hóa thương mại
dịch vụ du lịch đã có những hoạt động nổi bật, tuy nhiên cần nhìn nhận đa chiều về
các hoạt động đó.
2.2.1 Hạn chế, xóa bỏ rào cản thương mại dịch vụ du lịch

5


Hạn chế, xóa bỏ rào cản thương mại dịch vụ du lịch cũng như việc hạn chế,
xóa bỏ rào cản thương mại dịch vụ nói chung nó sẽ bao gồm biện pháp nhằm xóa
bỏ hạn chế tiếp cận thị trường và các biện pháp xóa bỏ phân biệt đối xử.
Một trong những bước đầu của việc thực hiện bước đi tự do hóa thương mại
dịch vụ du lịch đó là mở rộng thỏa thuận miễn thị thực nhập cảnh (visa) cho công
dân các nước thành viên – điều này được ghi nhận tại Điều 2.1 Hiệp định du lịch
ASEAN, bên cạnh đó còn được cụ thể trong các hiệp định miễn thị thực song
phương. Ví dụ như Xin-ga-po miễn thị thực cho công dân Việt Nam từ ngày
10/11/2003, Myanmar chính thức miễn visa cho công dân Việt Nam kể từ ngày
26/10/2013….Hiện nay giữa 10 nước ASEAN đã có các hiệp ước song phương về
miễn visa cho công dân các nước thành viên trên cơ sở ban đầu là Hiệp định du
lịch ASEAN. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy trong những năm gần đây số

ASEAN có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch để từ đó tiến đến tự do hóa du
lịch nhưng chỉ vì một phần nhỏ này tác động kìm hám nên tại Hội nghị cấp cao
Đông Á về Du lịch, Thương mại là Lữ hành” có những vẫn đề được nêu ra và đang
dần được thực hiện:
Cấp thị thực Senghen ASEAN trong vòng năm năm, thị thực “du lịch
ASEAN bằng một thị thực” đối với du khách ngoài khu vực. Một thị thực du lịch
vào các nước ASEAN được thực hiện thống nhất, du khách các nước có thể thực
hiện “du lịch vòng quanh ASEAN bằng một thị thực”.
Một số nước trong ASEAN đã nâng cấp hệ thống thị thực thông qua việc mở
rộng hợp tác, gắn kết giữa các đơn vị du lịch và nâng cao trình độ công nghệ.
Tháng 2/2012, Thái Lan và Campuchia đã bắt đầu cấp thị thực du lịch nhóm và dự
kiến này đã được triển khai rộng rãi sang các nước (Việt Nam, Lào cuối năm
2012…)
Bên cạnh đó, các hoạt động khác nhằm hạn chế hạn chế, xóa bỏ rào cản
thương mại dịch vụ du lịch cũng được các nước ASEAN thực hiện. Đặc biệt là
thông qua các diễn đàn du lịch ASEAN các kế hoạch mới lại được xây dựng và
7


tùng bước được hiện thực hóa. Đơn cử như việc xây dựng cùng phát triển sản
phẩm du lịch đường sông và Dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển du lịch đường sông
khu vực sông Mê Kông do UNWTO hỗ trợ ASEAN, điều phối triển khai Dự án
xây dựng Hướng dẫn xây dựng và vận hành loại hình Boutique Hotel; nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ ASEAN thông qua việc phối hợp cùng các quốc gia
thành viên phát triển và áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung trong ASEAN như tiêu
chuẩn khách sạn xanh ASEAN, cơ sở lưu trú nhà dân ASEAN, nhà vệ sinh công
cộng ASEAN, dịch vụ Spa ASEAN, tiêu chuẩn thành phố du lịch sạch ASEAN,
tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, hướng dẫn an ninh và an toàn du lịch ASEAN cho
các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và lộ trình du lịch ASEAN ứng phó với biến đổi
khí hậu...

vụ trong khuân khổ các quốc gia ASEAN. Cũng giống như các dịch vu khác để
được công nhận dịch vụ du lịch phải thảo mãn các điều kiện và tuân theo trình tự
thủ tục nhất định. Khi được công nhận, người hoặc tổ chức được công nhận có thể
tự do hành nghề và cung cấp dịch vụ du lịch tại nước đã công nhận trong khuân
khổ các nước ASEAN theo quy định của AFAS.
Một trong những hoạt động đáng kể trong việc công nhận các chứng chỉ hoạt
động du lịch của các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động du lịch của các nước
trong khu vực để cho phép sang nước bạn xây dựng phát triển hoạt động du lịch.
Hay như việc công nhận chứng chỉ hành nghề hưỡng dẫn viên du lịch của các công
dân nước bạn có nhu cầu sang các nước khác trong khu vực thực hiện công viêc.
Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, các cá nhận có khả năng và có như cầu
tiến xa có thể có cơ hội sang các nước thành viên khác để phát triển, mở rộng. Nếu
thực hiện tốt và phát triển được thì sẽ tạo động lực để tự hóa dịch vụ du lịch được
thự hiện.
Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động liên quan đến công nhận lẫn nhau trong tiến
trình tự do hóa dịch vụ du lịch ở ASEAN chưa thực sự nổi bật, về cơ bản có thể
thấy nguyên nhân chính là do việc các tiêu chí công nhận ở mỗi nước là còn khác
nhau và có sự chênh lệch. Ví dụ cơ bản như đối với hưỡng dẫn viên du lịch tại Việt
Nam thì chỉ cần có chứng chỉ học do bộ giáo dục cấp kèm thêm yêu cầu về ngôn
ngữa nếu làm trong công ty du lịch hướng ngoại (đón tiếp du khách nước ngoài),
9


nhưng nếu ở Sigapore thì chứng chỉ do bộ giáo dục Việt Nam cấp không được
công nhận và ngoại ngữ (Tiếng Anh) là yêu cầu bắt buộc. Hay về cung cấp dịch vụ
du lịch khách sạn, nhà nghỉ cũng tương tự ở mỗi nước sẽ có một cơ chế công nhận
khác nhau. Điều này khiến cho các doanh nghiệp hay cá nhân còn e ngại trong việc
tiến sang nước bạn để cung cấp dịch vụ du lịch và đây cũng trở thành một bước lùi
cho việc tự do hóa dịch vụ du lịch.
2.3. Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề – Công nhận lẫn nhau về lao

chứng chỉ.
Theo thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN, người làm việc
trong ngành du lịch có thể làm việc tại bất kỳ quốc gia trong khối ASEAN khi đáp
ứng đầy đủ những tiêu chuẩn về nghề nghiệp. Cụ thể là ngoài những bằng cấp về
du lịch, nhà hàng, khách sạn, người làm việc trong ngành du lịch cần có chứng chỉ
VTOS (Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam) được công nhận qua việc đồng
bộ trình độ kỹ năng của họ với Tiêu chuẩn nghề chung ASEAN đối với nghề du
lịch (ACCSTP).
Ngành Du lịch các nước đã lựa chọn và đề cử nhân sự phù hợp tham gia các
chương trình đào tạo do ASEAN tổ chức để phát triển đội ngũ Đào tạo viên
ASEAN và Đánh giá viên ASEAN đối với các nghề Buồng, Chế biến món ăn, Lễ
tân và Phục vụ Nhà hàng; tham gia xây dựng và phổ biến các tài liệu hướng dẫn
đào tạo và đánh giá lao động du lịch theo các tiêu chuẩn nghề và giáo trình đào tạo
du lịch chung trong ASEAN; xây dựng và phát triển hệ thống các tiêu chuẩn nghề
du lịch quốc gia để có đủ các bộ tiêu chuẩn phục vụ cho việc so sánh và công
nhận tương đương với các tiêu chuẩn nghề chung trong ASEAN và gián tiếp là với
các nước khác trong khu vực; tổ chức phổ biến thông tin, nội dung chuyên môn
nhằm nâng cao nhận thức về việc triển khai MRA-TP; Hoàn thiện đề án Tăng
cường hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN trong lĩnh vực Du lịch để phổ biến cho
các đối tượng liên quan trong ngành du lịch.
Việc xây dựng và triển khai MRA-TP được nhận định là một bước ngoặt mới
trong tiến trình tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch khu vực. Tuy nhiên, nhận
thấy bên cạnh những cơ hội thì nó cũng sẽ có những thách thức đối với các nước
thành viên (đặc biệt với các nước ASEAN 4 trong đó có Việt Nam)

11


Việc triển khai MRA-TP giúp cho ngành du lịch Việt Nam và các nước ASEAN
có thêm nhiều cơ hội tuyển lao động tay nghề cao, giúp nâng cao được chất lượng

quyết tâm của Việt Nam trong việc mở cửa thị trường dịch vụ cho các nước trong
khu vực.
Với cam kết cụ thể, về phạm vi cam kết, trong khuôn khổ AFAS 8, Việt
Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ với 11/12 ngành và tính theo phân ngành
là khoảng 111 phân ngành. So với cam kết GATS, Việt Nam mở cửa nhiều phân
nghành hơn trong đó có du lịch.
Phạm vi cam kết dịch vụ của Việt Nam trong AFAS 8 cụ thể như sau:
STT

Ngành

Số lượng phân
ngành theo quy
định
của
4
GATS/WTO

1

Dịch vụ du 4
lịch

Số
lượng
phân nghành
Việt
Nam
cam
kết

tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan. Ngày 13/9/2013, Chính phủ đã ban
13


hành Quyết đinh 1625/QĐ-TTg về việc phê duyệt và ký Nghị định thư thực hiện
gói cam kết dịch vụ AFAS 9. Ngày 19/9/2013, Văn phòng chính phủ cũng đã có
Quyết định số 7846/VPCP-QHQT về việc Giao cho Bộ kế hoạch và Đầu tư chủ trì
trong việc tổ chức các cuộc họp liên ngành để tiến hành đề xuất, thống nhất xây
dựng Bản chào đáp ứng yêu cầu của gói AFAS 9. Dịch vụ du lịch là một trong 05
ngành dịch vụ ưu tiên hội nhập của ASEAN. Cụ thể:
Việt Nam đã ký kết Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN cũng
như đã tham gia tích cực, toàn diện và có những đóng góp quan trọng đối với du
lịch ASEAN. Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, Việt Nam
đã chủ trì xây dựng Sách hướng dẫn thực hiện Thỏa thuận công nhận lẫn nhau đối
với các nghề du lịch ASEAN. Từ năm 2013, Việt Nam đã đảm nhiệm vai trò
Trưởng nhóm công tác Marketing và Thông, phát huy vai trò chủ động, tích cực
trong hợp tác du lịch ASEAN, được các nước đánh giá cao. Bên cạnh đó, Việt
Nam đang chủ trì nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch đường sông ASEAN với
sự hỗ trợ và hợp tác của Tổ chức Du lịch thế giới, Malaysia và các nước ASEAN.
Việt Nam đã hợp tác với Lào, Campuchia, Myanmar cùng sản xuất phim phóng sự
“ Bốn quốc gia – Một điểm đến” nhằm quảng bá du lịch bốn nước. Tháng 1/2014,
Việt Nam đã tích cực tham gia Diễn đàn Du lịch ASEAN tại Malaysia.
Từ khi trở thành thành viên của ASEAN, du lịch Việt Nam đã coi trọng đẩy
mạnh hợp tác đa phương với các nước bạn và đạt được kết quản đáng khích lệ.thu
hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến từ khi vực ASEAN vào Việt Nam có tốc độ
tăng trưởng khá cao. Số lượt khách du lịch ASEAN đến Việt Nam Chỉ đạt khoảng
8,5% năm 2009 thì đến năm 2012 đã tăng lên gần 20%. Theo Tổ chức Du lịch thế
giới ( UNWTO), Việt Nam nằm trong khu vực có tỷ lệ tăng trưởng du lịch cao
nhất thế giới. Năm 2013, tăng trưởng du lịch thế giới bình quân ở mức 3% thì khu
vực Đông Nam Á – Nam Á có mức tăng trưởng trên 8% và Việt Nam đạt mức



3.

4.

5.

6.

/>%BFn+tr%C3%ACnh+t%E1%BB%B1+do+h%C3%B3a+th
%C6%B0%C6%A1ng+m%
/>%BFn+tr%C3%ACnh+t%E1%BB%B1+do+h%C3%B3a+th
%C6%B0%C6%A1ng+m
Lê Tuấn Anh, 2014. Việt Nam tham dự Diễn Đàn du lịch ASEAN 2014 tại
Malaysia.
Http://Vietnamtourism.gov
Mỹ Hạnh, 2014. Việt Nam – điểm tăng trưởng nóng nghành du lịch.

Http://www.sggp.org
7.
8.

Thanh Giang, 2011. 20% lượng khách du lịch quốc tế đến từ ASEAN.
Vietnamplus, Thông tấn xã Việt Nam
tnamconsulate
guangzhou.org/vnemb.vn/tin_hddn/ns051010104455

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status