LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám đốc Viện Nghiên cứu
Khoa học Y Dược lâm sàng 108, Phòng Sau đại học, Bộ môn Chấn thương
Chỉnh hình cùng tập thể thầy thuốc Viện Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện
Trung ương Quân đội 108 đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Viện, đặc biệt là cho phép tôi sử dụng
tư liệu nghiên cứu trên lâm sàng để phục vụ đề tài luận án.
Chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám đốc, Khoa Ngoại Chấn thương
Chỉnh hình và Bỏng Bệnh viện 19-8 Bộ Công an nơi tôi làm việc đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và hoàn thành công trình nghiên
cứu này.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Giải phẫu Trường Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Gây mê thuộc Bệnh viện Trung ương Quân
đội 108 và 33 bệnh nhân cùng 20 xác tử thi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn
Việt Tiến và PGS.TS. Lê Văn Đoàn - những thầy đã hết lòng giúp đỡ tôi
trong những năm tháng qua, ngay từ khi làm luận văn cao học và suốt quá
trình thực hiện đề tài luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy trong Hội đồng chấm luận án các
cấp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để luận án của tôi được hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn những người bạn, đồng nghiệp luôn chia sẻ,
động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, vợ con và những
người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ cả về vật chất và
tinh thần, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
để hoàn thành luận án.
Tác giả
Vũ Hải Nam
19
1.2.1. Giải phẫu cẳng chân, bàn chân liên quan đến khuyết hổng và điều trị
19
1.2.2. Điều trị khuyết hổng ở vùng cẳng chân, bàn chân
21
1.3. Sử dụng vạt cơ, da cơ thon điều trị khuyết hổng ở cẳng chân, bàn chân
28
1.3.1. Điều trị khuyết hổng ở cẳng chân
28
1.3.2. Điều trị khuyết hổng vùng bàn chân
30
1.3.3. Biến chứng và di chứng tại nơi cho vạt cơ, da cơ thon
32
1.3.4. Những yếu tố liên quan đến kết quả chuyển cơ, da cơ thon tự do
34
2.2.2. Nghiên cứu trên lâm sàng
45
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
57
3.1. Nghiên cứu giải phẫu
57
3.1.1. Đặc điểm giải phẫu cuống mạch chính
57
3.1.2. Đặc điểm giải phẫu cuống mạch phụ
63
3.1.3. Thần kinh chi phối
63
3.2. Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng
63
3.2.1. Đặc điểm đối tượng
4.2.2. Chỉ định sử dụng cơ, da cơ thon trong phục hồi ở cẳng - bàn chân
93
4.2.3. Kết quả chuyển vạt cơ, da cơ thon điều trị khuyết hổng ở cẳng - bàn chân 97
4.2.4. Biến chứng, thất bại và xử trí
101
4.2.5. Những yếu tố liên quan đến kết quả
103
4.2.6. Vai trò của liệu pháp chân không
104
4.3. Biến chứng sớm và di chứng tại nơi cho vạt
105
KẾT LUẬN
106
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Bảng 3.4. Vị trí mạch xuyên tách từ cuống ĐM chính
61
Bảng 3.5. Diện da ngấm thuốc màu
62
Bảng 3.6. Số lượng, vị trí cuống mạch phụ
63
Bảng 3.7. Liên quan giữa nguyên nhân và kết quả chuyển vạt
66
Bảng 3.8. Liên quan giữa vị trí khuyết hổng và kết quả chuyển vạt
67
Bảng 3.9. Liên quan giữa tổn thương giải phẫu và kết quả chuyển vạt
67
Bảng 3.10. Liên quan giữa mạch nuôi tại vùng nhận và kết quả chuyển vạt
68
Bảng 3.11. Liên quan giữa nhiễm khuẩn tại khuyết hổng và kết quả chuyển vạt
Bảng 3.19. Loét vạt và liên quan với vị trí tổn thương
72
Bảng 3.20. Kết quả thẩm mỹ và liên quan với vị trí tổn thương
73
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Giải phẫu định khu cơ thon.
3
Hình 1.2. Phân loại cấp máu cho cơ của Mathes và Nahai.
4
Hình 1.3. Cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép.
6
Hình 1.4. Cuống ĐM chính tách từ ĐM mũ đùi trong.
7
Hình 1.5. Cuống đôi, tách từ ĐM cơ khép, mũ đùi trong.
7
40
Hình 2.3. Phẫu tích nguyên ủy cuống ĐM chính.
40
Hình 2.4. Phẫu tích mạch xuyên tách từ cuống chính.
41
Hình 2.5. Đo khoảng cách từ nơi cuống chính đi vào cơ tới củ mu.
42
Hình 2.6. Đo chiều dài cuống chính.
42
Hình 2.7. A, B, C, D: Đo đường kính ngoài của ĐM, TM.
43
Hình 2.8. A, B: Phẫu tích các mạch xuyên, đo khoảng cách từ nơi đi vào
cơ của cuống chính tới nơi đi vào da của mạch xuyên.
43
Hình 2.9. Khảo sát cuống mạch phụ
Hinh 3.1. Cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép.
57
Hình 3.2. Cuống ĐM chính tách từ ĐM đùi sâu.
57
Hình 3.3. Cuống ĐM chính tách từ ĐM mũ đùi trong
58
Hình 3.4. Cuống đôi tách từ ĐM đùi sâu.
58
Hình 3.5. Phân bố 55 mạch xuyên quanh rốn mạch
62
Hình 3.6. BN Vũ Thị D., bị KHPM và viêm ổ gãy 1/3D xương chày
trái do di chứng chấn thương.
75
Hình 3.7. BN Hoàng Văn Tr., VXTX đường máu 1/3D xương chày
76
vết thương và di chứng vết thương hoả khí, viêm xương tủy xương…
Với những khuyết hổng phần mềm sâu rộng gây lộ xương viêm, ổ viêm
khuyết ở 1/3D xương chày hoặc xương gót, khuyết hổng phức hợp phần mềm
- xương ở 1/3 dưới cẳng chân, bàn chân có nhiễm khuẩn thì việc điều trị
không dễ dàng. Trong những trường hợp này, phương pháp điều trị kinh điển
như sử dụng vạt da tại chỗ hoặc từ xa hiếm khi có chỉ định vì yêu cầu điều trị
là ngoài việc che phủ còn cần tăng cường nuôi dưỡng nhằm góp phần giải
quyết nhiễm khuẩn và nhất là khi cần trám ổ viêm khuyết xương sao cho
không để lại khoang chết nên vạt cơ hoặc da cơ luôn được ưu tiên lựa chọn.
Việc sử dụng vạt cơ chéo chân hiện ít được áp dụng vì phải phẫu thuật nhiều
lần, tư thế bất động sau mổ gò bó...
Phương pháp sử dụng vạt cuống mạch liền đã khắc phục những nhược
điểm nêu trên của phương pháp điều trị kinh điển, đảm bảo giải quyết thành
công những khuyết hổng phức tạp ở vùng cẳng chân, bàn chân. Tuy vậy,
không ít trường hợp không có chỉ định sử dụng vạt cuống mạch liền với lý do
có thể là: Cuống vạt bị tổn thương, vạt không với tới khuyết hổng… Khi đó,
chuyển vạt tự do được chỉ định và đây là bậc cuối của bậc thang điều trị.
Trong nhiều nghiên cứu, khi đã chỉ định chuyển vạt cơ tự do thì cơ
lưng rộng, cơ thẳng bụng và cơ thon thường được cân nhắc lựa chọn. Đã có
nhiều báo cáo về chuyển cơ, da cơ thon trong điều trị khuyết hổng ở cẳng
chân, bàn chân với những đánh giá kết quả và nhận xét khoa học tin cậy.
Về giải phẫu cơ thon, đã có nhiều nghiên cứu cơ bản được thực hiện ở
nhiều nước. Nhìn chung, những đặc điểm về hình thể của cơ, đặc điểm cuống
2
mạch chính và phụ, mạch xuyên tách từ cuống động mạch chính, thần kinh
của cơ thon… cũng như những biến đổi của chúng đã được sáng tỏ.
Ở Việt Nam, việc điều trị những khuyết hổng vùng cẳng chân, bàn chân
bằng chuyển vạt tự do phát triển mạnh từ những năm cuối thập niên 1990. Đã
1.1.1. Đại cương
Cơ thon nằm ở mặt trong đùi, ngay dưới cân sâu, nguyên uỷ bám vào
ngành ngồi mu và một phần ụ ngồi. Gân của cơ dài, hình oval, có thể sờ thấy,
nằm ngay trước cơ bán gân và bán mạc, nơi bám tận là phía trong lồi củ trước
xương chày. Cơ thon thuộc nhóm cơ khép đùi, thân cơ nằm sau cơ khép dài
và cơ may, nằm trên cơ khép ngắn, có chức năng tăng cường lực khép đùi,
gấp háng và gấp cẳng chân (hình 1.1).
Hình 1.1:
1. Cơ thon
2. Cơ may
3. Cơ khép lớn
4. Cơ thẳng đùi
5. Cơ lược
6. ĐM đùi
Hình 1.1. Giải phẫu định khu cơ thon, (nguồn từ [126]).
Các nghiên cứu về giải phẫu cơ thon đều cho thấy cơ này được cấp
máu bởi nhiều cuống mạch nhưng luôn có một cuống với đường kính động
mạch (ĐM) lớn hơn những cuống mạch khác, cấp máu cho phần lớn cơ phía
trung tâm, nó được gọi là cuống chính (main pedicle, major pedicle) hoặc
cuống trội (dominant pedicle). Những cuống khác có ĐM nhỏ hơn, đa số ở
phía ngoại vi so với cuống chính, cấp máu cho phần cơ còn lại và được gọi là
cuống phụ (accessory pedicle, minor pedicle) [44],[77],[90],[134],[137]...
Theo phân loại cấp máu cho cơ dạng mạch trục của Mathes và Nahai
[97],[98], giải phẫu cấp máu cho cơ thon thuộc type II (hình 1.2).
4
Type I
ngay phía trên cuống ĐM chính. Dây TK có từ 2 - 7 bó sợi, thường là 3 bó.
5
Trong phẫu thuật, có thể tách những bó sợi TK này thành hai để chi phối cho
mỗi phần cơ riêng biệt. Theo cách đó, cơ thon thường được tách dọc thành hai
phần, có TK vận động chi phối. Mẫu tách cơ chức phận phổ biến nhất là lấy
25 - 50% phần cơ ở phía trước với một bó sợi riêng biệt. Phần cơ còn lại ở
phía sau (50 - 75%) chịu sự chi phối của những bó sợi còn lại. Thường có một
phần cơ nhỏ ở giữa hai phần nêu trên cũng được chi phối của bó sợi nên có
thể tách dọc thành 3 phần cơ chức năng.
Ở đoạn 3/5 thân cơ phía trung tâm, các sợi cơ chạy song song với nhau.
Ở đoạn 2/5 phía ngoại vi, các sợi cơ đi vào gân nằm dọc theo bờ sau của cơ.
Những sợi cơ ở phần sau thân cơ là ngắn nhất và bám vào gân ở phía trên;
những sợi cơ ở phần trước dài hơn và bám vào phần gân ở phía dưới. Thân cơ
rộng 5 - 6 cm, dài 32 cm và dày 1 cm.
1.1.2. Những nghiên cứu về giải phẫu cơ thon
1.1.2.1. Trên thế giới
Giải phẫu cơ thon được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố kết quả từ
những năm 1970 như Orticochea (1972) [107], Harii (1976) [67], McCraw
(1976) [101] và vẫn tiếp tục trong 3 thập kỷ qua. Những nghiên cứu đó tuy có
khác nhau về đặc điểm đối tượng và phương pháp nhưng đều tập trung tìm
hiểu sự hiện diện của cuống chính; nguyên ủy, vị trí, kích thước ĐM trong
cuống chính và phụ; số lượng, vị trí ĐM xuyên tách từ cuống chính; diện tích
da được cấp máu bởi cuống ĐM chính, nguyên ủy và đường đi của thần kinh
chi phối cơ… Dưới dây là tóm tắt kết quả của một số nghiên cứu.
- Cuống chính:
+ Sự hiện diện:
Cơ thon được cấp máu bởi nhiều cuống mạch, trong đó luôn có một
cuống với đường kính ĐM lớn hơn cả, cấp máu cho phần lớn cơ phía trung
Hình 1.3. Cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép, (nguồn từ [77])
Hình 1.3a: Dạng 1 ĐM (27/38). Hình 1.3b: 2 ĐM tách từ nơi phân nhánh sớm của
ĐM cơ khép (2/38). Hình 1.3c: 1 ĐM chính tách từ ĐM cơ khép và 1 nhánh nhỏ từ ĐM đùi
chung hoặc từ ĐM bịt (8/38). Hình 1.3d: 2 ĐM tách từ 2 ĐM cơ khép.
7
Hình 1.4. Cuống ĐM chính tách từ ĐM mũ đùi trong, (nguồn từ [77])
Hình 1.4a: 1 ĐM (7/10). Hình 1.4b: 2 ĐM tách từ nơi phân nhánh của ĐM mũ đùi
trong (3/10).
a
b
Hình 1.5. Cuống đôi, tách từ ĐM cơ khép, mũ đùi trong, (nguồn từ [77])
Hình 1.5a: ĐM cơ khép là cuống trội (3/4). Hình 1.5b: 2 ĐM có đường kính như
nhau (1/4).
Nghiên cứu của Kappler (2005) [80] ở 23 xác đùi cho thấy: Tỷ lệ cuống
ĐM chính của cơ thon tách từ ĐM mũ đùi trong là 95,6% (22/23). Ở 1/23
(4,4%) trường hợp còn lại, cuống chính tách đôi tại nguyên ủy của nó là ĐM
đùi sâu (cuống đôi) và cả hai đi song song tới cơ.
. Nghiên cứu của Coquerel-Beghin (2006) [44] ở 32 đùi của 18 xác tươi
cho thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép là 81,25%, từ ĐM mũ
đùi trong là 12,5% và từ ĐM đùi sâu là 6,25% số trường hợp.
. Trong nghiên cứu của Vigato (2007) [134] ở 40 bệnh nhân (BN)
được chụp CT angiography ở cả hai chân cho thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính
tách từ ĐM cơ khép là 46%, tách trực tiếp từ ĐM đùi sâu là 45% và tách từ
Một số nghiên cứu có đề cập tới cuống mạch chính có 2 ĐM (cuống đôi)
nhưng không thấy nêu số lượng TM, cụ thể như sau:
9
Trong nghiên cứu của Peek [109], tỷ lệ có cuống đôi là 21% (9/43 cơ),
tác giả không đề cập đến nguyên ủy của chúng. Tỷ lệ này là 11,11% (3/27 cơ)
trong nghiên cứu của Whitaker [137], cả 2 ĐM đều tách từ ĐM đùi sâu và có
đường kính như nhau. Nghiên cứu của Juricic [77] cho thấy tỷ lệ cuống đôi là
7,7% (4/52 cơ), chúng tách từ ĐM cơ khép và ĐM mũ đùi trong. Trong
nghiên cứu của Kappler [80], tỷ lệ có cuống đôi là 4,4% (1/23 cơ), cuống ĐM
này tách đôi tại nguyên ủy của nó là ĐM đùi sâu.
+ Chiều dài cuống mạch, đường kính ĐM và TM:
Có nhiều nghiên cứu đề cập đến chiều dài, đường kính ĐM và TM
cuống chính. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu không nêu rõ mốc đo chiều dài, vị trí
đo đường kính ĐM và TM, có nghiên cứu đo đường kính ngoài nhưng có
nghiên cứu đo đường kính trong của mạch, có nghiên cứu đo trên xác tươi
nhưng có nghiên cứu đo trên xác bảo quản. Sau đây là kết quả nghiên cứu về
nội dung này trong một số công trình (xếp theo thứ tự thời gian công bố):
. Nghiên cứu của Giordano [63], (32 đùi của 15 xác tươi), cho thấy
đường kính ĐM là 1 - 2 mm. (Tác giả không nêu vị trí đo và không rõ đây là
đường kính ngoài hay đường kính trong).
. Trong nghiên cứu của Morris [104], với 14 xác được bơm vào ĐM đùi
dung dịch oxyde chì + gelatin + nước được làm nóng 800C với liều 200 ml/1
kg cân nặng, sau đó xác được làm lạnh ở 40C, sau 24 giờ thì phẫu tích, kết quả
phẫu tích ở 23 cơ thon (5 cơ thon bị hỏng do oxyde chì chảy ra ngoài) cho
thấy: Cuống ĐM chính dài 7 - 10 cm. Đường kính ĐM là 1,5 - 2,5 mm. (Tác
giả không nêu các mốc đo chiều dài cuống mạch, không nêu vị trí đo đường
kính và không rõ đây là đường kính ngoài hay đường kính trong của ĐM).
. Trong nghiên cứu của Shatari [123] ở 52 đùi của 26 xác bảo quản
máu của cuống mạch cơ thon thành 3 dạng (type) dưới đây (hình 1.6):
11
I
II
III
Hình 1.6. Hình thái cấp máu của các cuống mạch cơ thon, (nguồn từ [68])
Type I: ĐM cấp máu cho một mình cơ thon. Type II: ĐM cấp máu cho cơ thon và tổ
chức cân, da xung quanh. Type III: ĐM cấp máu cho cơ thon, cân, da xung quanh và cơ may.
Theo cách phân loại hình thái này, với mẫu là 30 cơ thon của 15 xác
tươi, số trường hợp cuống ĐM chính thuộc type I là 73,33% và thuộc type II
là 26,64%. Những cuống phụ ở vùng giữa và ngoại vi cơ thon có hình thái của
cả 3 type với những tỷ lệ khác nhau. Như vậy, tỷ lệ cuống ĐM chính tách
những nhánh xuyên cân da là 26,64% (8/30).
Nghiên cứu cũng cho thấy các ĐM xuyên cơ da nằm ở mặt trong của
cơ (tách từ các cuống mạch chính và phụ), tập trung ở 2/3 phía trung tâm và
ĐM xuyên có đường kính lớn nhất nằm ở 1/3 phía trung tâm của cơ. Ở 10/30
cơ được bơm thuốc xanh methylen vào cuống ĐM chính, diện da ngấm thuốc
màu có kích thước trung bình là 16,5 x 11 cm. Giới hạn trên của da ngấm
thuốc màu trùng với nguyên ủy của cơ. Da phủ trên 40% của cơ ở phía ngoại
vi đều không ngấm thuốc ở tất cả 10 mẫu.
Từ kết quả trên, Giordano nhận xét rằng giải phẫu mạch máu cơ thon
liên quan mật thiết đến việc thiết kế vạt da cơ, đó là: ĐM xuyên cơ da tách từ
cuống ĐM chính là đáng tin cậy nhất; khoảng 30% các trường hợp, những
Hình 1.8. Phân bố ĐM xuyên quanh rốn mạch cơ thon, (nguồn từ [85]).
Nghiên cứu của Coquerel-Beghin (2006) [44] về nội dung này được
thực hiện ở 32 đùi của 18 xác tươi. Tác giả bộc lộ cuống ĐM chính, bơm
xanh methylen trộn latex, sau 48 giờ thì bóc tách. Kết quả cho thấy mỗi cơ
thon có ít nhất 1 ĐM xuyên, trung bình là 3,78 mạch/1 cơ (1 - 6 mạch/1 cơ),
tách từ cuống ĐM chính (hình 1.9). Những mạch này hoặc là ĐM xuyên cơ
da hoặc đi trực tiếp tới da, nhưng ĐM xuyên cơ da là đa số với tỷ lệ 93,4%,
đường kính trung bình là 0,7 mm (0,4 - 1,1 mm). Trên 80% số ĐM xuyên này
phân bố trong vùng 6 cm dọc theo cơ mà tâm là rốn mạch cơ thon (+ 3 cm
đến - 3 cm), hình 1.10. Ở 28 tiêu bản có ngấm thuốc màu sau bơm xanh
methylen vào cuống ĐM chính, diện da ngấm thuốc có chiều dài trung bình là
11 cm (7,2 - 15,8 cm), chiều rộng trung bình là 9,14 cm (6,5 - 14,4 cm).
Hình 1.9. Mạch xuyên cơ da tách từ cuống ĐM chính, (nguồn từ [44])
G: cơ thon (Gracilis). GPP: cuống ĐM chính (Gracilis principal pedicle).
Perf: mạch xuyên (Perforator vessels). SCT: tổ chức dưới da (Sub-cutaneous tissue)
14
Hình 1.10. Phân bố mạch xuyên quanh rốn mạch cơ thon, (nguồn từ [44])
Nghiên cứu của Peek [109] cũng cho thấy: 100% số tiêu bản (43/43 cơ
thon của 24 xác tươi) đều có ĐM xuyên tách từ cuống ĐM chính, trung bình là
5 ĐM/1 cơ, số mạch có đường kính >0,5 mm chiếm 48% các ĐM xuyên.
Theo tác giả, kích thước này đảm bảo cho chuyển vạt da dựa trên ĐM xuyên.
. Gần đây, nghiên cứu của Whitaker (2012) [137] ở 27 đùi, trong đó có
25 đùi được bơm thuốc cản quang rồi chụp CT, kết quả cho thấy:
Động mạch xuyên có ở tất cả 27 đùi, trung bình là 7,5 mạch/1 cơ. Số
ĐM xuyên cơ da nhiều hơn ĐM xuyên cân da (85 so với 27), chúng tập trung
phụ, 3/30 cơ (10%) có 1 cuống phụ, chúng đều ở ngoại vi so với cuống chính,
tỷ lệ tách từ ĐM đùi nông, ĐM kheo lần lượt là 56% và 44% số trường hợp.
Nghiên cứu của Juricic [77], n = 84 đùi, cho thấy luôn thấy có ít nhất 1
cuống phụ ở phía ngoại vi cuống chính.
Trong nghiên cứu của Morris [104], n = 28 đùi của 14 xác, có 1 - 3
cuống ĐM phụ/1 cơ, ở phía ngoại vi cuống chính, tách từ ĐM đùi nông.
Nghiên cứu của Coquerel-Beghin [44] ở 32 đùi của 18 xác ướp cho
thấy, có 2,66 cuống phụ/1 cơ (1 - 5 cuống/1 cơ). Đa số cuống phụ (68/85 =
80%) nằm ở ngoại vi so với cuống chính, trong đó có 40/68 (58%) cuống này
đi vào cơ ở vùng 1/3 giữa và số còn lại đi vào vùng 1/3 phía ngoại vi. Tỷ lệ
cuống phụ phía ngoại vi tách từ ĐM đùi nông là 85% (58/68), từ ĐM kheo là
16
15% (10/68). Có 17/85 (20%) cuống phụ nằm ở phía trung tâm so với cuống
chính, đường kính của ĐM tại nguyên ủy là 1,1 mm (0,5 - 1,8 mm).
Trong nghiên cứu của Magden [90], n = 30 cơ thon của 15 xác, kết quả
nghiên cứu về cuống phụ được mô tả như sau: Cuống ĐM trung tâm của tất
cả 30 cơ đều là ngành sâu của ĐM mũ đùi trong, đi vào cơ cách dưới củ mu 6
cm và đường kính trung bình là 0,9 mm. Cuống thứ 2 là ĐM mũ đùi trong,
đây là cuống chính ở 13% các trường hợp, đường kính trung bình là 1,2 mm
và đi vào cơ cách dưới củ mu 9,8 cm. Cuống ĐM thứ 3 tách từ ĐM đùi sâu,
đây là cuống chính ở 87% cách trường hợp, đường kính trung bình là 1,6 mm
và dài 5,4 cm. Tất cả cuống ĐM phía ngoại vi đều tách từ ĐM đùi nông,
chúng hiện diện ở 100% trường hợp và có 2 cuống như thế ở 77% trường
hợp, đường kính là 1,4 mm và dài 5,2 cm, đi vào cơ cách dưới củ mu 26,6 cm.
Những cuống ĐM ngoại vi này đủ lớn để nuôi tới 1/3 giữa cơ.
Nghiên cứu của Vigato [134] cho thấy: So với cuống chính, 8% các
trường hợp có 1 cuống phụ ở phía trung tâm và 100% các trường hợp có ít
nhất 1 cuống phụ ở phía ngoại vi, trung bình là 1,8 cuống phụ/1 cơ (1 - 4
Khoảng cách
từ củ mu
(cm)
15-28
Đường kính
(mm)
Độ dài
(cm)
0,8-1,5
3-9
25-35
0,7-1,0
2-5
30-36
0,5-1,0
2-5
0,5-1,0
4,5-11
(56,67%) và thêm cuống thứ 4 chỉ gặp ở 2/30 cơ thon (6,67%).
Cuống mạch thứ nhất: Đây là cuống có ĐM lớn nhất, hằng định ở tất
cả 30/30 cơ. Ở 25 cơ được nghiên cứu về đặc điểm cuống mạch này, kết quả
cho thấy nó tách từ ĐM mũ đùi trong, hoặc thân ĐM mũ, hoặc trực tiếp từ
ĐM đùi sâu với tỷ lệ lần lượt là 44%, 12%, 24%. Số còn lại (20%) tách từ
18
ĐM xuyên, có chiều dài 5,86 cm (3 - 8 cm), đi vào cơ cách dưới củ mu 9,5
cm (6 - 12 cm). Đường kính tại nơi tách từ ĐM đùi sâu là 1,35 mm (0,7 - 3
mm). Luôn có 2 TM tùy hành với đường kính lớn hơn ĐM. Ở 17/36 cơ được
bơm thuốc màu vào cuống ĐM này, diện da ngấm thuốc là 18,2 x 6,05 cm (9
x 3 cm - 20,1 x 10 cm).
Cuống mạch thứ 2: Tất cả 30/30 cơ đều có cuống thứ 2, chúng đều tách
từ ĐM đùi nông (100%), dài 6,8 cm (3 - 8 cm), đường kính tại nguyên ủy là
0,76 mm (0,5 - 1,5 mm). Đi vào cơ cách trên lồi cầu trong xương đùi 11,36 cm.
Cuống mạch thứ 3 và thứ 4: Trong số 17/30 cơ có cuống thứ 3 thì cuống
ĐM này tách trực tiếp từ ĐM đùi nông gặp ở 9/17 cơ, từ ĐM gối xuống ở 6/17
và từ ĐM cơ may gặp ở 2/17 cơ. Ở 2 cơ có cuống thứ 4 thì cuống này tách trực
tiếp từ ĐM đùi nông (1 cơ) hoặc từ ĐM gối xuống (1 cơ).
+ Thần kinh: Tách từ nhánh trước TK bịt (30/30 cơ = 100%), đi vào cơ
cùng với cuống chính, khi tới cơ thì tách thành những nhánh nhỏ (2 - 4 nhánh)
cách nhau 0,3 - 0,5 cm để vào cơ.
- Nghiên cứu của Nguyễn Tài Sơn (2003) [20] ở 18 cơ thon trên xác và
53 cơ thon trên BN cho thấy: Cuống chính hiện diện ở 18/18 cơ thon trên xác,
gồm 1 ĐM và 2 TM, nguyên ủy của ĐM đều là ĐM đùi sâu (18/18 ), dài 6,72
cm (4 - 7 cm), đi vào cơ cách dưới củ mu 9,13 cm (6 - 12 cm), đường kính
ĐM tại nguyên ủy là 1,35 mm (0,8 - 1,8 mm), đường kính TM là 1,52 mm
(0,8 - 2,8 mm), da ngấm thuốc xanh dọc theo cơ và có chiều dài 19,23 cm (16
- 22 cm). Thần kinh vận động tách từ nhánh trước của TK bịt (18/18), trước