Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết hổng vùng cẳng bàn chân - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108

NGÔ THÁI HƯNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU VÀ ỨNG DỤNG
VẠT ĐÙI TRƯỚC NGOÀI TRONG ĐIỀU TRỊ
KHUYẾT HỔNG VÙNG CẲNG - BÀN CHÂN

Chuyên ngành: Chấn thương chỉnh hình và tạo hình
Mã số: 62 72 01 29

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2015


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Văn Đoàn
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Huy

Phản biện 1: PGS.TS. Trần Đình Chiến
Phản biện 2: GS.TS. Lê Gia Vinh
Phản biện 3: GS. TS. Trần Thiết Sơn

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường tại
Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108

dụng như một biện pháp để chuẩn bị cho phẫu thuật tạo hình cơ
bản tiếp theo.
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, nhờ sự phát triển của vi
giải phẫu học và vi phẫu thuật, nhiều vạt tổ chức có trục mạch nuôi
được phát hiện và sử dụng dưới dạng cuống mạch liền hoặc dạng tự
do. Mỗi vạt đều có những ưu nhược điểm riêng của chúng. Vạt tự do
cũng chính là thành tựu đỉnh cao của phẫu thuật tạo hình hiện đại.
Vạt đùi trước ngoài (ĐTN) được Song Y. G. phát hiện vào
năm 1984, tác giả cho thấy vạt được cấp máu bởi nhánh mạch xuất
phát từ động mạch mũ đùi ngoài (ĐM – MĐN), xuyên vách giữa cơ
thẳng đùi và cơ rộng ngoài ra da. Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này
chỉ ra rằng ngoài các mạch xuyên vách, vạt ĐTN còn được cấp máu
bởi các mạch xuyên qua cơ rộng ngoài, hình thái và tỷ lệ phân bố của
các mạch xuyên còn thay đổi giữa các tác giả. Vạt ĐTN đã được các
tác giả như Koshima, Wei, Yildirim, Wong, … nghiên cứu về giải


2
phẫu và ứng dụng lâm sàng đều xác nhận: Vạt rất linh hoạt được sử
dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như vạt da mỡ, da cân, da cơ,
vạt siêu mỏng và đáp ứng được nhiều dạng tổn khuyết phức tạp và
đa dạng ở vùng cẳng - bàn chân. Bên cạnh đó, vạt còn có ưu điểm
như: cuống mạch dài, khá hằng định, đường kính lớn; vị trí cho vạt
thuận lợi, dễ lấy; vạt có thể lấy được kích thước lớn; vạt có thần kinh
cảm giác là nhánh thần kinh đùi bì ngoài; nơi lấy vạt ít ảnh hưởng
đến chức năng và thẩm mỹ.
Ở Việt Nam, vạt ĐTN được sử dụng từ năm 1998 tại Bệnh
viện TƯQĐ 108, đã có nghiên cứu về giải phẫu động mạch mũ đùi
ngoài và một số nghiên cứu sử dụng vạt ĐTN trong tạo hình vùng
cổ, mặt. Tuy nhiên, trong Chấn thương Chỉnh hình, việc sử dụng vạt

- Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 24 trang
- Chương 3. Kết quả: 35 trang
- Chương 4. Bàn luận: 30 trang
- Kết luận: 2 trang
- Kiến nghị: 1 trang
- Luận án có 21 bảng, 17 hình, 55 ảnh
- Tham khảo 131 tài liệu (20 tiếng Việt, 111 tiếng Anh)
- Ba bài báo có liên quan trực tiếp đề tài đã được công bố.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.2. Giải phẫu vạt đùi trước ngoài
Vạt ĐTN là một vạt mạch xuyên được Song và cộng sự phát
hiện, mô tả đầu tiên vào năm 1984. Vạt được cấp máu bởi nhánh
mạch tách ra từ nhánh xuống của ĐM - MĐN, xuyên qua vách liên
cơ giữa rộng ngoài và cơ thẳng đùi tại điểm tiếp giáp 1/3 trên và 1/3
giữa của đùi, nơi giao nhau giữa cơ thẳng đùi, cơ rộng ngoài và cơ
căng cân đùi. ĐM vạt có đường kính > 2 mm và thường có 1 hoặc 2
TM đi kèm, cuống mạch vạt > 8 cm. Vạt có thể lấy từ dưới mấu
chuyển lớn đến trên xương bánh chè 3 cm, bao gồm toàn bộ mặt
trước và mặt ngoài đùi, diện tích vạt đến 800 cm2.
1.2.1. Nguyên uỷ mạch máu của vạt
Mạch xuyên cấp máu cho vạt phần lớn xuất phát từ nhánh
xuống của ĐM – MĐN. Bên cạnh đó, còn tỷ lệ nhất định mạch cấp


4
máu cho vạt xuất phát trực tiếp từ ĐM đùi chung hoặc đùi sâu.
- Lakhiani (2012) khi nghiên cứu về giải phẫu mạch máu của
vạt ĐTN, bằng tổng quan y văn, trên 44 bài báo tác giả thấy: nhánh
xuống tách từ ĐM đùi sâu ở 6,25 - 13% trường hợp, tách từ ĐM đùi
chung ở 1-6% trường hợp, còn lại chủ yếu là xuất phát từ ĐM MĐN.

bắt đầu chia các nhánh bên vào cơ từ 7 - 8 cm, chiều dài đoạn mạch
xuyên trong cơ không vượt quá 12 cm.
1.2.3. Mạch xuyên da
Dạng mạch xuyên: Vạt ĐTN được Song mô tả đầu tiên vào
năm 1984, tác giả nhận thấy 100% các trường hợp mạch xuyên da
cấp máu cho vạt ĐTN là dạng xuyên vách liên cơ ra da (hay còn gọi
là dạng mạch xuyên vách). Các nghiên cứu sau này chỉ ra rằng ngoài
mạch xuyên vách còn có mạch xuyên cơ: nghiên cứu của Kuo mạch
xuyên cơ 86,4%, mạch xuyên vách 13,6%, Wei mạch xuyên cơ
87,1%, mạch xuyên vách 12,9% trong các trường hợp, Trần Thiết
Sơn và Trần Đăng Khoa có tỷ lệ mạch xuyên cơ là 78%, mạch
xuyên vách 15%, nhánh da trực tiếp 7% trong tổng số mạch xuyên.
Về số lượng mạch xuyên: theo nghiên cứu của Choi số
lượng mạch xuyên trên một đùi là 4,2 mạch, Tansatit là 2,8 mạch,
Trần Đăng Khoa là 6,7 mạch. Tỷ lệ vạt ĐTN không tìm thấy mạch
xuyên có kích thước đủ lớn. Theo Kimata, khi nghiên cứu 74 vạt
ĐTN, có tới 4/74 (5,4%) vạt không có mạch xuyên, nhưng theo
Chen, thì có dưới 2% trường hợp không thấy mạch xuyên. Trong
nghiên cứu tổng quan y văn của Lakhiani, tỷ lệ không gặp mạch
xuyên là 1,8% (trong tổng số 2895 vạt).
Phân bố mạch xuyên trên da: có hai phương pháp được
nhiều tác giả sử dụng, đó là:
- Phân bố theo đường tròn: có tâm là trung điểm của đường
nối gai chậu trước trên với cực trên bờ ngoài xương bánh chè với các
bàn kính là 3, 4 hoặc 5 cm tùy theo tác giả.


6
- Phân bố theo khoảng: một số tác giả thường chia đường
chuẩn nối từ gai chậu trước trên với cực trên bờ ngoài xương bánh


7
hoặc vạt siêu mỏng, để tạo hình che phủ các KHPM đa dạng ở cẳng bàn chân. Tiêu biểu như: Wei, Yildirim, Hsieh, Ozkan, Park, Wong,
Lee và Yun, Liu và có sự so sánh với các vạt khác như Tamimy,
Demirtas cũng như khả năng sử dụng ở trẻ em EL-Gammal. Các tác
giả đều xác nhận: Vạt rất linh hoạt được sử dụng dưới nhiều hình
thức khác nhau như vạt da mỡ, da cân, da cơ, vạt siêu mỏng và đáp
ứng được nhiều dạng tổn khuyết phức tạp và đa dạng ở vùng cẳng bàn chân. Bên cạnh đó, vạt còn có ưu điểm như: cuống mạch dài,
khá hằng định, đường kính lớn; vị trí cho vạt thuận lợi, dễ lấy; vạt có
thể lấy được kích thước lớn; vạt có thần kinh cảm giác là nhánh thần
kinh đùi bì ngoài; nơi lấy vạt ít bị ảnh hưởng.
1.4.1.5. Biến chứng nơi lấy vạt đùi trước ngoài
Một trong những vấn đề quan trọng mà các tác giả phải đề
cập khi sử dụng bất kỳ một vạt nào là các biến chứng nơi cho vạt.
Năm 2012, trong một báo cáo tổng quan của Collins và cộng
sự, tác giả tổng hợp qua 42 bài báo có thông báo về các biến chứng
nơi cho của vạt ĐTN từ năm 1984 đến năm 2010. Với 2324 vạt ĐTN
được phẫu tích, tác giả nhận thấy có các biến chứng tại nơi cho vạt
như sau: số trường hợp có hội chứng chèn ép khoang là 0,09%, hoại
tử một phần cơ là 0,09%, máu tụ là 0,7%, nhiễm trùng vết mổ là
2,2%, sêroma là 2,4%, đau tại nơi cho vạt là 3,3%, sẹo lồi và phì đại
là 4,8%, thoát vị cơ tứ đầu là 4,8% và giảm cảm giác ở mặt ngoài đùi
là 24,0%.
1.4.2. Tại Việt Nam
Ca phẫu thuật sử dụng vạt ĐTN đầu tiên tại Việt Nam được
thực hiện vào tháng 4/1998 do phẫu thuật viên người Mỹ kết hợp với
Bác sỹ Viện Chấn thương Chỉnh hình - Bệnh viện Trung ương Quân
đội 108 để tạo hình che phủ cho KHPM ở bàn tay. Từ đó đến nay,
vạt ĐTN bước đầu đã được ứng dụng khá rộng rãi trong lâm sàng tại
nhiều trung tâm tạo hình ở Việt Nam như: Khoa Phẫu thuật Tạo hình

2.1.2. Nghiên cứu trên lâm sàng
Gồm 64 BN có KHPM vùng cẳng - bàn chân được điều trị
tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội
108, từ tháng 01/2008 đến tháng 6/2014.
Tiêu chuẩn lựa chọn


9
Tất cả các BN này đều được chúng tôi thăm khám xác định
có chỉ định sử dụng vạt tự do, do các khuyết hổng này có tính chất:
- Có kích thước lớn vượt quá khả năng của vạt có cuống
mạch liền hay tại vị trí mà vạt cuống mạch liền không vươn tới.
- Các trường hợp có KHPM kèm theo tổn thương xương
khớp phức tạp, các phương pháp kinh điển hay vạt cuống mạch liền
không đáp ứng được.
- Trường hợp đã sử dụng cuống mạch liền bị thất bại.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Các BN có bệnh lý về tổn thương máu mạch ngoại vi như:
viêm tắc động mạch, vữa xơ động mạch gây chít hẹp lòng mạch, hội
chứng Raynaud.
- Các BN già yếu mắc các bệnh lý mãn tính như tim mạch,
hô hấp không chịu được cuộc phẫu thuật kéo dài.
- Các BN không đồng ý hợp tác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu giải phẫu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.1.1. Quy trình thực hiện phẫu tích.
- Xác định các mốc trên da gai chậu trước trên, cực trên bờ
ngoài xương bánh chè, đường chuẩn đùi, chia đường chuẩn đùi thành
10 khoảng, vòng tròn có tâm là điểm giữa đường chuẩn đùi và có

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trên lâm sàng
Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả lâm sàng, theo
dõi dọc, không đối chứng.
Hồi cứu
- Gồm 28 BN từ tháng 01/2008 đến tháng 6/2011.
Tiến cứu
- Gồm 36 BN từ tháng 7/2011 đến tháng 6/2014.
2.2.2.1. Quy trình phẫu thuật trên lâm sàng
Chuẩn bị bệnh nhân
Chuẩn bị dụng cụ phẫu thuật
Tiến hành phẫu thuật
- Cắt lọc tổn thương


11
- Cố định ổ gãy và các khớp vùng nhận
- Bóc vạt
Thiết kế và bóc vạt dựa theo Mardini và Wei.
- Ghép vạt vào nơi nhận
- Nối mạch
Kỹ thuật nối mạch: khâu nối mạch máu tận - tận, mũi rời
được sử dụng, tùy từng trường hợp, chúng tôi sử dụng kỹ thuật khâu
2 mũi chuẩn của Chen Zong Wei hoặc 3 mũi chuẩn của Cobbert.
- Khâu đóng các vết mổ
2.2.2.2. Theo dõi sau phẫu thuật
2.2.2.3. Điều trị sau phẫu thuật
2.2.2.4. Đánh giá định kỳ sau phẫu thuật
2.2.2.5. Đánh giá kết quả
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, chúng tôi căn cứ vào:
- Tại nơi nhận vạt: Tình trạng của vạt; Tình trạng nhiễm

(nhánh xuống ngoài) của ĐM - MĐN (9/40 tiêu bản, chiếm 22,5%).
- Dạng 3: mạch máu vạt là mạch xuyên tách từ nhánh ngang
của ĐM - MĐN (2/40 tiêu bản, chiếm 5%).
- Dạng 4: mạch máu vạt là mạch xuyên tách trực tiếp từ ĐM
đùi sâu (2/40 tiêu bản, chiếm 5%)
- Dạng 5: mạch máu vạt là mạch xuyên tách trực tiếp từ ĐM
đùi chung (1/40 tiêu bản, chiếm 2,5%)
3.1.1.2. Thành phần, độ dài, đường kính mạch máu của cuống
vạt
Thành phần mạch máu của cuống vạt: Mạch máu của
cuống vạt ĐTN thường có 1 ĐM và 2 TM đi kèm chiếm 30/40 tiêu
bản (75%). Tỷ lệ cuống mạch vạt có 1 ĐM và 1 TM tùy hành chiếm
10/40 tiêu bản (25%). Chúng tôi không gặp bất thường nào về thành
phần cuống mạch vạt.
Độ dài cuống mạch của vạt: Cuống mạch của vạt có độ dài
là 11,6 ± 2,4 cm (với mẫu n=40). Trong đó, cuống mạch vạt dài nhất
là 16,5 cm và ngắn nhất là 5,7cm.
Đường kính ngoài ĐM và TM của cuống vạt.


13
Bảng 3.1. Đường kính ngoài của ĐM và TM
Số liệu
Nhỏ nhất
Lớn nhất
X ± SD
Động mạch (n=40)
1,8
3,7
2,51 ± 0,52

17,3%
Tần suất bắt gặp mạch xuyên trên các tiêu bản
Bảng 3.3. Tần xuất bắt gặp mạch xuyên (n=40).
1
2
3
4
5
6
Số
Mạch Mạch Mạch Mạch Mạch Mạch TB
Đùi P
0
2
5
5
4
4
20
Đùi T
1
1
6
5
5
2
20
Cộng
1
3

13
18
31
Đùi trái
Cộng

14

16

30

27 (45,3%)

34 (55,7%)

61

Nhận xét: 39 tiêu bản (97,5%) chứa ít nhất một mạch xuyên
trong vòng tròn trung tâm. Có 1 tiêu bản (2,5%) trong vòng tròn
không chứa mạch xuyên nào.
3.1.3. Diện cấp máu của vạt
Bảng 3.5. Kích thước diện da ngấm xanh Methylen
Kích thước
Lớn nhất Nhỏ nhất
X ± SD
Vị trí
(cm)
(cm)
(cm)

Vạt da mỡ
9
3
0
12
Vạt da cân
21
7
0
28
Vạt da cơ
0
13
11
24
Cộng
30
23
11
64
3.2.4.2. Kết quả bóc vạt
Chiều dài vạt từ 8 - 35 cm, chiều rộng vạt 6 - 18 cm.
Vạt có kích thước lớn nhất 26 x 18cm, nhỏ nhất 8 x 6 cm
Chiều dài cuống mạch vạt trên lâm sàng từ 6 -15 cm.
Tính chất mạch xuyên: xuyên vách là 12/64 BN, xuyên cơ là
51/64 BN, không có mạch xuyên là 1/64 BN.
3.2.4.3. Kết quả khâu nối mạch máu
Bảng 3.11. Kết quả khâu nối mạch máu (n=177)
Vị trí
Mối nối

1
34
Ghép da
1
10
19
30
Cộng
22
22
20
46


16
3.2.5. Kết quả gần
3.2.5.1. Diễn biến tại vạt
Bảng 3.13. Diễn biến tại vạt (n=64)
60/64 vạt sống hoàn toàn, chiếm (93,8%). 3/64 vạt bị hoại tử
mép đầu xa của vạt (4,7%). 1/64 vạt bị hoại tử toàn bộ (1,5%).
3.2.5.2. Diễn biến tại vết thương nơi cho vạt
Bảng 3.14. Tình trạng nơi cho vạt (n=64)
Liền kỳ đầu: 58 trường hợp (90,6%); Nhiễm khuẩn nông liền
kỳ hai: 3 trường hợp (4,7%); Trợt loét, hoại tử một phần da ghép: 2
trường hợp (3,2%); 1 trường hợp hoại tử một phần cơ tứ đầu (1,5%).
3.2.5.3. Diễn biến tại vết thương nơi nhận vạt
52/64 (81,3%) trường hợp nơi nhận liền da kỳ đầu. 8/64
(12,5%) trường hợp nơi nhận nhiễm khuẩn nông. 3/64 (4,7%) trường
hợp bị viêm rò kéo dài, phải can thiệp phẫu thuật bổ sung. Có 2
trường hợp liền vết thương, 1 trường hợp phải cắt cụt chi thể. 1/64

không thể đi lại được. Trường hợp này phải cắt cụt cẳng chân.
3.2.6.2. Tình trạng nơi cho vạt
Trong số 52 BN được kiểm tra kết quả xa, có 48 BN được
đánh giá kết quả chức năng đùi hai bên để so sánh.
Bảng 3.18. Chu vi vòng đùi
Vạt sử dụng
Đùi cho vạt
Đùi đối diện
Giá
% đạt
được
X ± SD (cm)
X ± SD (cm) trị p
Vạt da mỡ và
da cân
Vạt da cơ
Vạt sử dụng

44,93 ± 5,03

45,83 ± 5,01

0,007

98%

42,47 ± 3,04
44,78 ± 2,7
Bảng 3.19. Lực cơ tứ đầu đùi
Đùi cho vạt

Kết quả
Số bệnh nhân
Tỷ lệ
Tốt
42
80,9%
Trung bình
6
11,5%
Kém
3
5,7%
Thất bại
1
1,9%
3.2.7. Tai biến, biến chứng, thất bại và cách xử trí


18
Bảng 3.21. Tai biến và biến chứng (n=64)
Tai biến và biến chứng
Số lượng
Không gặp mạch xuyên có kích thước đủ lớn
1
Khi phẫu tích làm tổn thương mạch xuyên
2
Trong mổ
1
Tắc mạch nối
Sau mổ

vạt xuất phát từ ĐM - MĐN là 92,5%, ĐM đùi sâu là 5%, ĐM đùi
chung là 2,5% số trường hợp. Theo Kimata [65] thì nguyên ủy mạch
máu của vạt xuất phát từ ĐM - MĐN là 97,2% số trường hợp, còn lại
1,4% xuất phát từ ĐM đùi sâu và 1,4% xuất phát từ ĐM đùi chung.
Hình thái mạch máu của vạt
Theo Shieh gặp hai dạng hình thái mạch máu của vạt là:
dạng 1, mạch máu của vạt xuất phát từ nhánh xuống là 67,6% (mạch


19
xuyên cơ là 56,8%, xuyên vách 10,8%) và dạng 2, mạch máu của vạt
xuất phát từ nhánh ngang 32,4% (mạch xuyên cơ là 27%, xuyên
vách 5,4%). Trong nghiên cứu chúng tôi gặp 5 dạng như nghiên cứu
của Wong.
4.1.2. Thành phần, chiều dài, đường kính mạch máu của cuống
vạt
Cuống mạch vạt gồm có hai thành phần là ĐM và TM.
Trong nghiên cứu trên xác của chúng tôi, cuống mạch vạt có 1 ĐM
và 2 TM là 75%, 1 ĐM và 1 TM là 25%. Theo Chen, tỷ lệ cuống
mạch bất thường này chiếm khoảng 2%.
Về chiều dài của cuống mạch vạt: cuống mạch vạt có độ dài
là 11,6 ± 2,4 cm (từ 5,7 - 16 cm). Khi so sánh với các tác giả trong
nước: theo Lê Diệp Linh với 28 tiêu bản thì cuống mạch vạt dài
trung bình là 13,43 cm (trước cơ là 6,86 ± 1,87 và sau cơ là 6,57 ±
1,68). Như vây, chiều dài của cuống mạch vạt của chúng tôi so với
đa số tác giả trong và ngoài nước thì không có sự thay đổi nhiều.
Về đường kính mạch máu của vạt: Trong nghiên cứu của
chúng tôi ĐM vạt có đường kính là 2,51 ± 0,52 mm (từ 1,9 - 3,7
mm) tương đồng với kết quả Molhotra là 2,39 mm, của Tansatit là
3,4 mm.

công cao là cuống mạch vạt phải dài, đường kính mạch lớn. Vạt
ĐTN có kích thước mạch máu khá lớn với đường kính ĐM là 2,51 ±
0,52 mm, đường kính TM lớn 2,95 ± 0,56 mm, đường kính TM nhỏ
2,18 ± 0,46 mm. Đây cũng là vạt có cuống mạch dài 11,6 ± 2,4 cm.
(so với vạt cơ lưng to trong nghiên cứu của Lê Văn Đoàn cuống
mạch dài là 7,73 cm, đường kính ĐM là 2,38 mm, TM là 3,32 mm;
vạt bả vai bên bả trong nghiên cứu của Lê Hồng Hải cuống mạch dài
6,52 cm, đường kính ĐM là 1,98 mm, đường kính TM là 2,48 mm).
Bên cạnh đó vạt có tính linh hoạt cao, sử dụng dưới nhiều dạng da
mỡ, da cân, da cơ nên rất thích hợp cho việc lựa chọn tạo hình che
phủ các KHPM vùng cẳng - bàn chân.
4.2.2. Dạng vạt được sử dụng và khả năng làm mỏng vạt
Trong 12 vạt (kích thước từ 9,5 x 6,5 cm đến 28 x 14 cm)
chúng tôi gặp 3 trường hợp bị hoại tử đỉnh vạt, vùng vạt bị hoại tử


21
thường nằm cách xa rốn vạt trên 10 cm. Theo Wei, khi sử dụng vạt
được làm mỏng thì không nên làm mỏng vạt rộng quá 9 cm xung
quanh cuống mạch xuyên để bảo đảm an toàn sự cấp máu cho đỉnh
mép vạt. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Rajacic tác giả sử dụng 12
vạt ĐTN được làm mỏng đến 4 - 5 mm, cách rốn vạt từ 3 - 4 cm,
trong đó có 5 vạt có chiều dài 30 cm. Kết quả là chỉ có một trường
hợp bị hoại tử đỉnh vạt 1 cm. Yang sử dụng 7 vạt ĐTN làm mỏng để
che phủ vùng cổ cằm, vạt có kích thước từ 11 x 5 cm đến 26 x 8 cm
(trung bình 21,3 x 6,5 cm), có 3 vạt chiều dài từ 22 - 26 cm. Kết quả
có một vạt bị hoại tử đỉnh vạt
Như vậy, vạt da mỡ ĐTN làm mỏng là một chất liệu tốt cho
phục hồi phần mềm vùng cổ, bàn chân. Để an toàn cho vạt không
nên lấy vạt rộng quá 9 cm xung quanh cuống mạch xuyên.

quá căng và nhiễm khuẩn vết mổ.
Năm 2012, Collins và cộng sự, tổng hợp 42 bài báo có thông
báo về các biến chứng nơi cho của vạt ĐTN từ năm 1984 đến năm
2010. Với 2324 vạt ĐTN được phẫu tích, tác giả nhận thấy có các
biến chứng tại nơi cho vạt như sau: Hội chứng chèn ép khoang là
0,09%, hoại tử một phần cơ là 0,09%, máu tụ là 0,7%, nhiễm trùng
vết mổ là 2,2%, sêroma là 2,4%, đau tại nơi cho vạt là 3,3%, sẹo lồi
và phì đại là 4,8%, thoát vị cơ tứ đầu là 4,8% và giảm cảm giác ở
mặt ngoài đùi là 24,0%.
4.2.6. Thất bại và nguyên nhân
Vạt tắc mạch hoại tử toàn bộ: nguyên nhân mối nối ĐM bị
chùng, bất động khớp cổ - bàn chân không tốt (nẹp bột khi thay băng
thì bỏ nẹp) dẫn đến gập góc tắc mối nối ĐM vạt, do mổ vào ngày
cuối tuần nên việc chăm sóc và phát hiện các biến chứng muộn do đó
dẫn đến tắc vi tuần hoàn trong vạt và hậu quả không cứu được vạt.
Vạt viêm rò trợt loét xơ chai: do vạt không có cảm giác, dư
thừa vạt nên khi đi lại bàn chân không vững, vạt dễ bị phì đại rồi trợt
loét. BN không đến kiểm tra lại, điều trị không tốt dẫn đến nhiễm
khuẩn sâu, viêm tiêu xương gót. BN được cắt cụt 1/3G cẳng chân.


23
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu giải phẫu vạt ĐTN trên 40 tiêu bản xác và
ứng dụng lâm sàng trên 64 trường hợp có KHPM ở vùng cẳng - bàn
chân, chúng tôi có kết luận sau:
1. Giải phẫu vạt đùi trước ngoài
- Giải phẫu mạch máu vạt:
Nguyên uỷ mạch máu của vạt tách từ ĐM - MĐN là 92,5%, ĐM đùi
sâu là 5%, ĐM đùi chung là 2,5% các trường hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status