BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
VŨ HẢI NAM
NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
VẠT CƠ, DA CƠ THON TRONG ĐIỀU TRỊ
KHUYẾT HỔNG Ở VÙNG CẲNG CHÂN - BÀN CHÂN
CHUYÊN NGÀNH: CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ TẠO HÌNH
MÃ SỐ: 62 72 0129
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN VIỆT TIẾN
PGS.TS. LÊ VĂN ĐOÀN
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, nội dung nghiên cứu về giải phẫu trong nghiên cứu
này được chính tôi thực hiện. Về nghiên cứu trên lâm sàng, tôi được phân
công phụ mổ, phẫu thuật viên chính là các thày và đồng nghiệp công tác tại
Viện Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện TƯQĐ 108. Tuy nhiên, việc thu
thập số liệu, tổng hợp và phân tích kết quả phẫu thuật là do tôi thực hiện với
sự đồng ý của các thày và đồng nghiệp nói trên. Kết quả nghiên cứu được
trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng sử dụng để bảo
vệ ở bất kỳ cấp học nào.
cấp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để luận án của tôi được hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn những người bạn, đồng nghiệp luôn chia sẻ,
động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, vợ con và những
người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ cả về vật chất và
tinh thần, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
để hoàn thành luận án.
Tác giả
Vũ Hải Nam
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Giải phẫu cơ thon
3
30
1.3.3. Biến chứng và di chứng tại nơi cho vạt cơ, da cơ thon
32
1.3.4. Những yếu tố liên quan đến kết quả chuyển cơ, da cơ thon tự do
34
1.3.5. Nghiên cứu sử dụng vạt cơ, da cơ thon trong điều trị khuyết hổng
ở chi thể tại Việt Nam
35
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
37
2.1. Đối tượng nghiên cứu
37
2.1.1. Nghiên cứu giải phẫu
37
2.1.2. Nghiên cứu trên lâm sàng
3.1.3. Thần kinh chi phối
63
3.2. Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng
63
3.2.1. Đặc điểm đối tượng
63
3.2.2. Kết quả phẫu thuật
65
Chương 4. BÀN LUẬN
83
4.1. Đặc điểm giải phẫu mạch máu, thần kinh cơ thon
83
4.1.1. Cấp máu cho cơ, da cơ thon
83
4.1.2. Thần kinh vận động
105
KẾT LUẬN
106
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BN: Bệnh nhân
ĐM: Động mạch
TM: Tĩnh mạch
TK: Thần kinh
KHX: Khuyết hổng xương
KHPM: Khuyết hổng phần mềm
KHPH: Khuyết hổng phức hợp
KTVP: Kỹ thuật vi phẫu
TNGT: Tai nạn giao thông
TNLĐ: Tai nạn lao động
VTHK: Vết thương hỏa khí
VXTX: Viêm xương tủy xương
1/3T: 1/3 trên
1/3G: 1/3 giữa
1/3D: 1/3 dưới
DANH MỤC BẢNG
67
Bảng 3.9. Liên quan giữa tổn thương giải phẫu và kết quả chuyển vạt
67
Bảng 3.10. Liên quan giữa mạch nuôi tại vùng nhận và kết quả chuyển vạt
68
Bảng 3.11. Liên quan giữa nhiễm khuẩn tại khuyết hổng và kết quả chuyển vạt
68
Bảng 3.12. Liên quan giữa chủng vi khuẩn và kết quả chuyển vạt
69
Bảng 3.13. Tình trạng nhiễm khuẩn và thời gian điều trị nội trú
69
Bảng 3.14. Thời gian theo dõi để đánh giá kết quả cuối cùng
70
Bảng 3.15. Liên quan giữa kết quả điều trị và nguyên nhân
71
Hình 1.3. Cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép.
6
Hình 1.4. Cuống ĐM chính tách từ ĐM mũ đùi trong.
7
Hình 1.5. Cuống đôi, tách từ ĐM cơ khép, mũ đùi trong.
7
Hình 1.6. Hình thái cấp máu của các cuống mạch cơ thon.
11
Hình 1.7. Phân vùng cấp máu cho da phủ trên cơ thon.
12
Hình 1.8. Phân bố ĐM xuyên quanh rốn mạch cơ thon.
13
Hình 1.9. Mạch xuyên cơ da tách từ cuống ĐM chính.
13
Hình 1.10. Phân bố mạch xuyên quanh rốn mạch cơ thon.
Hình 2.7. A, B, C, D: Đo đường kính ngoài của ĐM, TM.
43
Hình 2.8. A, B: Phẫu tích các mạch xuyên, đo khoảng cách từ nơi đi vào
cơ của cuống chính tới nơi đi vào da của mạch xuyên.
43
Hình 2.9. Khảo sát cuống mạch phụ
44
Hình 2.10. Xác định diện da ngấm thuốc khi bơm vào cuống ĐM chính.
45
Hình 2.11. Đường rạch da bóc tách vạt cơ thon.
49
Hình 2.12. Bóc tách cuống mạch cơ thon.
49
Hình 2.13. Đường rạch da bóc tách toàn bộ cơ thon.
50
Hình 2.14. Vạt cơ thon được cô lập hoàn toàn.
62
Hình 3.6. BN Vũ Thị D., bị KHPM và viêm ổ gãy 1/3D xương chày
trái do di chứng chấn thương.
75
Hình 3.7. BN Hoàng Văn Tr., VXTX đường máu 1/3D xương chày
76
Hình 3.8. BN Ngô Văn Th., 28 tuổi, KHPM gây lộ ổ gãy xương chày phải
78
Hình 3.9. BN Hà Văn N., bị viêm rò ổ gãy xương 1/3G xương chày phải
80
Hình 3.10. BN Nguyễn Văn Q., bị KHPM lộ ổ gãy phức tạp xương chày
81
Hình 3.11. BN Nguyễn Văn T., bị KHPM, viêm thối xương gót
82
Hình 4.1 A, B, C. Trường hợp không có chỉ định dùng cơ sinh đôi, cơ dép
93
nhiều báo cáo về chuyển cơ, da cơ thon trong điều trị khuyết hổng ở cẳng
chân, bàn chân với những đánh giá kết quả và nhận xét khoa học tin cậy.
Về giải phẫu cơ thon, đã có nhiều nghiên cứu cơ bản được thực hiện ở
nhiều nước. Nhìn chung, những đặc điểm về hình thể của cơ, đặc điểm cuống
2
mạch chính và phụ, mạch xuyên tách từ cuống động mạch chính, thần kinh
của cơ thon… cũng như những biến đổi của chúng đã được sáng tỏ.
Ở Việt Nam, việc điều trị những khuyết hổng vùng cẳng chân, bàn chân
bằng chuyển vạt tự do phát triển mạnh từ những năm cuối thập niên 1990. Đã
có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả và nhận xét về sử dụng vạt cơ hoặc da
cơ lưng rộng, vạt cơ thẳng bụng, vạt da cân hoặc da cơ vùng bả vai, vạt da
cân vùng đùi trước ngoài… để điều trị khuyết hổng ở vùng này. Ngoài ra, một
số báo cáo có đề cập tới sử dụng vạt cơ, da cơ thon để điều trị những khuyết
hổng nói trên nhưng được phân tích, đánh giá trong điều trị khuyết hổng ở chi
thể nói chung, hiện chưa có nghiên cứu nào chuyên về sử dụng vạt cơ, da cơ
thon trong điều trị khuyết hổng ở cẳng chân, bàn chân.
Về giải phẫu cơ thon, đã có 1 công trình thuộc chuyên ngành Giải phẫu
nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thể, mạch máu, thần kinh; 1 công trình khác
tập trung nghiên cứu về đặc điểm cuống mạch chính và thần kinh của cơ thon
để phục vụ ứng dụng lâm sàng. Giữa 2 nghiên cứu này, đặc điểm nguyên ủy
của cuống ĐM chính có sự khác biệt và chưa thấy đề cập tới mạch xuyên tách
từ cuống động mạch chính.
Từ thực tiễn trong nước nêu trên, với mong muốn tìm hiểu giải phẫu
mạch máu cơ thon ở người Việt liệu có gì khác biệt so với những nghiên cứu
đã có, đồng thời muốn đánh giá khả năng ứng dụng vạt này trong điều trị khuyết
hổng ở vùng cẳng chân và bàn chân, chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu
giải phẫu và ứng dụng lâm sàng vạt cơ, da cơ thon trong điều trị khuyết
hổng ở vùng cẳng chân - bàn chân" với 2 mục tiêu sau:
trung tâm, nó được gọi là cuống chính (main pedicle, major pedicle) hoặc
cuống trội (dominant pedicle). Những cuống khác có ĐM nhỏ hơn, đa số ở
phía ngoại vi so với cuống chính, cấp máu cho phần cơ còn lại và được gọi là
cuống phụ (accessory pedicle, minor pedicle) [44],[77],[90],[134],[137]...
Theo phân loại cấp máu cho cơ dạng mạch trục của Mathes và Nahai
[97],[98], giải phẫu cấp máu cho cơ thon thuộc type II (hình 1.2).
4
Type I
Type II
Type III
Type IV
Type V
Hình 1.2. Phân loại cấp máu cho cơ của Mathes và Nahai, (nguồn từ [97]).
Type I: Cơ có 1 cuống ĐM, ví dụ: cơ căng cân đùi. Type II: Cơ có cuống ĐM chính
và cuống ĐM phu, ví dụ: cơ thon. Type III: Cơ có 2 cuống ĐM chính, ví dụ: cơ mông to.
Type IV: Cơ có nhiều cuống ĐM theo từng đoạn, ví dụ: cơ may. Type V: Cơ có 1 cuống
ĐM chính và nhiều cuống ĐM phụ theo từng phần, ví dụ: cơ lưng to.
Năm 1986, Manktelow [93] mô tả khái quát giải phẫu mạch máu và thần
kinh (TK) của cơ thon như sau:
Cuống ĐM chính đi vào cơ ở mặt sâu và lệch về bờ trước, tại nơi cách
củ mu khoảng 9 cm (6 - 12 cm). Đường kính ngoài của ĐM là 1 - 2 mm, nếu
những năm 1970 như Orticochea (1972) [107], Harii (1976) [67], McCraw
(1976) [101] và vẫn tiếp tục trong 3 thập kỷ qua. Những nghiên cứu đó tuy có
khác nhau về đặc điểm đối tượng và phương pháp nhưng đều tập trung tìm
hiểu sự hiện diện của cuống chính; nguyên ủy, vị trí, kích thước ĐM trong
cuống chính và phụ; số lượng, vị trí ĐM xuyên tách từ cuống chính; diện tích
da được cấp máu bởi cuống ĐM chính, nguyên ủy và đường đi của thần kinh
chi phối cơ… Dưới dây là tóm tắt kết quả của một số nghiên cứu.
- Cuống chính:
+ Sự hiện diện:
Cơ thon được cấp máu bởi nhiều cuống mạch, trong đó luôn có một
cuống với đường kính ĐM lớn hơn cả, cấp máu cho phần lớn cơ phía trung
tâm nên được gọi là cuống chính [44],[63],[77],[80],[90],[109],[134],[137].
6
+ Nguyên ủy của ĐM:
Những nghiên cứu về giải phẫu mạch máu cơ thon đều đề cập đến
nguyên ủy của cuống ĐM chính. Kết quả cho thấy nó có thể tách từ ĐM cơ
khép, hoặc từ ĐM đùi sâu, hoặc từ ĐM mũ đùi trong. Tỷ lệ tách từ những
ĐM này trong một số nghiên cứu như sau (theo trình tự thời gian công bố):
. Nghiên cứu của Giordano (1990) [63] ở 30 đùi của 15 xác tươi cho
thấy, cuống ĐM chính cơ thon ở tất cả 30 đùi này đều tách từ ĐM mũ đùi
trong.
. Trong nghiên cứu của Juricic (1993) [77] với cỡ mẫu là 84 đùi của 42
xác, trong đó có 52 đùi được nghiên cứu về nguyên ủy của cuống ĐM chính,
kết quả cho thấy: Tỷ lệ tách từ ĐM cơ khép là 73% (38/52), hình thái nguyên
ủy thuộc nhóm này gồm 4 dạng (hình 1.3); tách từ ĐM mũ đùi trong là 19,2%
(10/52), hình thái nguyên ủy thuộc nhóm này gồm 2 dạng (hình 1.4); 4/52
(7,7%) trường hợp còn lại là cuống đôi, chúng tách từ ĐM cơ khép và ĐM
mũ đùi trong, hình thái nguyên ủy thuộc nhóm này gồm 2 dạng (hình 1.5).
Nghiên cứu của Kappler (2005) [80] ở 23 xác đùi cho thấy: Tỷ lệ cuống
ĐM chính của cơ thon tách từ ĐM mũ đùi trong là 95,6% (22/23). Ở 1/23
(4,4%) trường hợp còn lại, cuống chính tách đôi tại nguyên ủy của nó là ĐM
đùi sâu (cuống đôi) và cả hai đi song song tới cơ.
. Nghiên cứu của Coquerel-Beghin (2006) [44] ở 32 đùi của 18 xác tươi
cho thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính tách từ ĐM cơ khép là 81,25%, từ ĐM mũ
đùi trong là 12,5% và từ ĐM đùi sâu là 6,25% số trường hợp.
. Trong nghiên cứu của Vigato (2007) [134] ở 40 bệnh nhân (BN)
được chụp CT angiography ở cả hai chân cho thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính
tách từ ĐM cơ khép là 46%, tách trực tiếp từ ĐM đùi sâu là 45% và tách từ
ĐM mũ đùi trong là 9% số trường hợp.
8
. Nghiên cứu của Magden (2010) [90] ở 30 cơ thon của 15 xác cho
thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính tách từ ĐM đùi sâu là 87%, từ ĐM mũ đùi trong
là 13% số trường hợp.
. Trong công trình của Whitaker (2012) [137], với mẫu nghiên cứu là
27 đùi, kết quả cho thấy: Tỷ lệ cuống ĐM chính tách từ ĐM đùi sâu là 92,6%,
từ ĐM mũ đùi trong là 7,4% số trường hợp.
Như vậy, cuống ĐM chính có thể tách từ ĐM cơ khép, ĐM đùi sâu
hoặc ĐM mũ đùi trong với tỷ lệ khác nhau giữa các nghiên cứu trên, đó là:
Từ ĐM cơ khép: 81,25% [44], 73% [77], 46% [134] số trường hợp.
Từ ĐM đùi sâu: 92,6% [137], 87% [90], 45% [134], 6,25% [44], 4,4%
[80] số trường hợp.
Từ ĐM mũ đùi trong: 100% [63], 95,6% [80], 19,2% [77], 13% [90],
12,5% [44], 9% [134], 7,4% [137] số trường hợp.
+ Vị trí cuống chính đi vào cơ thon (rốn mạch):
Vị trí cuống chính đi vào cơ thon hay còn gọi là rốn mạch (helium)
. Nghiên cứu của Giordano [63], (32 đùi của 15 xác tươi), cho thấy
đường kính ĐM là 1 - 2 mm. (Tác giả không nêu vị trí đo và không rõ đây là
đường kính ngoài hay đường kính trong).
. Trong nghiên cứu của Morris [104], với 14 xác được bơm vào ĐM đùi
dung dịch oxyde chì + gelatin + nước được làm nóng 800C với liều 200 ml/1
kg cân nặng, sau đó xác được làm lạnh ở 40C, sau 24 giờ thì phẫu tích, kết quả
phẫu tích ở 23 cơ thon (5 cơ thon bị hỏng do oxyde chì chảy ra ngoài) cho
thấy: Cuống ĐM chính dài 7 - 10 cm. Đường kính ĐM là 1,5 - 2,5 mm. (Tác
giả không nêu các mốc đo chiều dài cuống mạch, không nêu vị trí đo đường
kính và không rõ đây là đường kính ngoài hay đường kính trong của ĐM).
. Trong nghiên cứu của Shatari [123] ở 52 đùi của 26 xác bảo quản
bằng formalin, tác giả đo đường kính trong tại nơi cắt của cuống chính (không
nêu vị trí cắt) bằng kính hiển vi Nikon Optiphot-2. Kết quả cho thấy đường
kính trong của ĐM là 1,08 ± 0,24 mm, TM lớn là 1,52 ± 0,43 mm.
10
. Trong nghiên cứu của Coquerel-Beghin [44], với 32 đùi của 18 xác
tươi, chiều dài trung bình của cuống mạch chính là 7,61 cm (5,6 - 11,4 cm);
đường kính ngoài đo tại nguyên ủy sát ĐM đùi sâu trung bình là 2,5 mm (0,9
- 5 mm), đường kính trung bình của TM là 1,4 mm (0,6 - 2,7 mm). (Tác giả
không nêu mốc đo chiều dài cuống mạch).
. Trong nghiên cứu của Vigato (2007) [134] ở 40 BN được chụp CT
angiography ở hai chân, đường kính trong của ĐM cuống chính trung bình là
2,5 mm. Có sự liên quan giữa đường kính ĐM và nguyên ủy của nó (p =
0,0056), đó là: khi tách trực tiếp từ ĐM đùi sâu thì có đường kính là 2,7 mm,
lớn hơn so với 2,3 mm khi tách từ ĐM cơ khép. (Tác giả không nêu vị trí đo).
. Trong nghiên cứu của Magden (2010) [90], n = 30 cơ của 15 xác bảo
quản bằng formalin, trường hợp cuống ĐM chính tách từ ĐM đùi sâu (87% số
trường hợp) thì nó có chiều dài trung bình là 5,4 cm và đường kính trung bình
những nhánh xuyên cân da là 26,64% (8/30).
Nghiên cứu cũng cho thấy các ĐM xuyên cơ da nằm ở mặt trong của
cơ (tách từ các cuống mạch chính và phụ), tập trung ở 2/3 phía trung tâm và
ĐM xuyên có đường kính lớn nhất nằm ở 1/3 phía trung tâm của cơ. Ở 10/30
cơ được bơm thuốc xanh methylen vào cuống ĐM chính, diện da ngấm thuốc
màu có kích thước trung bình là 16,5 x 11 cm. Giới hạn trên của da ngấm
thuốc màu trùng với nguyên ủy của cơ. Da phủ trên 40% của cơ ở phía ngoại
vi đều không ngấm thuốc ở tất cả 10 mẫu.
Từ kết quả trên, Giordano nhận xét rằng giải phẫu mạch máu cơ thon
liên quan mật thiết đến việc thiết kế vạt da cơ, đó là: ĐM xuyên cơ da tách từ
cuống ĐM chính là đáng tin cậy nhất; khoảng 30% các trường hợp, những
ĐM cân da đi kèm (type II) là nguồn cấp máu bổ sung cho da mặt trong đùi
phía trung tâm. Nếu chia vùng cấp máu cho da mặt trong đùi nằm trên cơ thon
thành 3 phần dài bằng nhau thì vùng 1 (1/3 phía trung tâm) là đáng tin cậy
nhất, nếu lấy rộng tới vùng 2 (1/3G) thì cũng an toàn. Ở vùng 3 (1/3 phía
12
ngoại vi), cấp máu cho da phụ thuộc vào ĐM nuôi cơ may nên không đảm
bảo an toàn (hình 1.7).
Hình 1.7. Phân vùng cấp máu cho da phủ trên cơ thon, (nguồn từ [68]).
. Trong nghiên cứu của Kappler (2005) [80], tác giả phẫu tích 23 xác
đùi được bảo quản theo phương pháp của Walter Thiel (cách bảo quản này
giữ cho xác có màu tương tự xác tươi, đương kính mạch không thay đổi). Kết
quả phẫu tích sau khi bơm silicon màu đỏ vào ĐM mũ đùi trong 24 giờ cho
thấy (ĐM này là nguyên ủy của cuống ĐM chính ở 22/23 tiêu bản như đã nêu
trên): Có 44 mạch xuyên cơ da tách từ cuống ĐM chính/23 cơ thon. Tỷ lệ cơ
có 1 mạch xuyên là 34,8% (8/23), có 2 mạch xuyên là 43,5% (10/23), có 3
mạch xuyên là 17,4% (4/23), có 4 mạch xuyên là 4,3% (1/23). Các ĐM xuyên
14
Hình 1.10. Phân bố mạch xuyên quanh rốn mạch cơ thon, (nguồn từ [44])
Nghiên cứu của Peek [109] cũng cho thấy: 100% số tiêu bản (43/43 cơ
thon của 24 xác tươi) đều có ĐM xuyên tách từ cuống ĐM chính, trung bình là
5 ĐM/1 cơ, số mạch có đường kính >0,5 mm chiếm 48% các ĐM xuyên.
Theo tác giả, kích thước này đảm bảo cho chuyển vạt da dựa trên ĐM xuyên.
. Gần đây, nghiên cứu của Whitaker (2012) [137] ở 27 đùi, trong đó có
25 đùi được bơm thuốc cản quang rồi chụp CT, kết quả cho thấy:
Động mạch xuyên có ở tất cả 27 đùi, trung bình là 7,5 mạch/1 cơ. Số
ĐM xuyên cơ da nhiều hơn ĐM xuyên cân da (85 so với 27), chúng tập trung
ở 1/3 trên và gần cuống chính. Đa số ĐM xuyên cân da (20/27) có đường kính
1 mm trong khi các ĐM xuyên cơ da đều có đường kính nhỏ hơn (0,8 mm).
Cấp máu cho da: Trong 25 mẫu được tiêm thuốc cản quang, chỉ có 12
mẫu thành công được dùng để phân tích, kết quả như sau:
Với thuốc cản quang được bơm vào cuống ĐM chính: vùng da ngấm
thuốc hình oval với kích thước 15 x 13 cm (195 cm2) - 35 x 19 cm (665 cm2).
Với thuốc cản quang được bơm vào cuống ĐM phụ thứ nhất: vùng da
ngấm thuốc có hình oval với kích thước 15 x 9 cm - 34 x 10 cm.
Những nhánh của ĐM xuyên tách từ cuống chính nối với những nhánh
lên của cuống ĐM phụ thứ nhất tại vùng thắt 1 (choke zone 1), vùng này cách
15
nếp gấp bẹn 8,5 - 29 cm (trung bình là 15,4 cm). Ở những mẫu có cuống phụ
thứ hai thì nhánh xuống của cuống ĐM phụ thứ nhất nối với nhánh lên của
cuống ĐM phụ thứ hai tại vùng thắt 2 (choke zone 2), vùng này cách nếp bẹn
20,5 - 22 cm (trung bình là 21 cm). Ở những mẫu có cuống phụ thứ ba thì
cuống này không cấp máu cho da vì nằm ở vùng tiếp nối cơ - gân. Tất cả các
ĐM xuyên phía trung tâm đều nằm trong vùng 7 x 6 cm mà tâm là điểm đi vào
cm và đường kính trung bình là 0,9 mm. Cuống thứ 2 là ĐM mũ đùi trong,
đây là cuống chính ở 13% các trường hợp, đường kính trung bình là 1,2 mm
và đi vào cơ cách dưới củ mu 9,8 cm. Cuống ĐM thứ 3 tách từ ĐM đùi sâu,
đây là cuống chính ở 87% cách trường hợp, đường kính trung bình là 1,6 mm
và dài 5,4 cm. Tất cả cuống ĐM phía ngoại vi đều tách từ ĐM đùi nông,
chúng hiện diện ở 100% trường hợp và có 2 cuống như thế ở 77% trường
hợp, đường kính là 1,4 mm và dài 5,2 cm, đi vào cơ cách dưới củ mu 26,6 cm.
Những cuống ĐM ngoại vi này đủ lớn để nuôi tới 1/3 giữa cơ.
Nghiên cứu của Vigato [134] cho thấy: So với cuống chính, 8% các
trường hợp có 1 cuống phụ ở phía trung tâm và 100% các trường hợp có ít
nhất 1 cuống phụ ở phía ngoại vi, trung bình là 1,8 cuống phụ/1 cơ (1 - 4
cuống phụ), chúng tách từ ĐM đùi nông hoặc ĐM kheo, đường kính trung
bình là 2 mm.
Trong nghiên cứu Whitaker [137], n = 27 đùi, tất cả các cơ đều có
cuống phụ với những đặc điểm như sau:
Cuống mạch
Vị trí đi vào
cơ
Phụ thứ nhất 1/3G
Nguyên ủy
SFA
SFA: 10 cơ
Phụ thứ 2
1/3G - 1/3D
PA: 2 cơ
Phụ thứ 3
2-5
30-36
0,5-1,0
2-5
0,5-1,0
4,5-11
PF (profunda femoris): động mạch đùi sâu, MCFA (medial circumflex femoral artery):
động mạch mũ đùi trong, SFA (superficial femoral artery): động mạch đùi nông, PA (popliteal
artery): động mạch kheo, OA (obturator artery): động mạch bịt, AB (ascending branch of main
pedicle): ngành lên của cuống chính.