sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp nhằm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ 5 6 tuổi trong trường mầm non - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CHÂU THÀNH
TRƯỜNG MẪU GIÁO AN LỤC LONG
***&&&***

Đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIẢM TỈ LỆ SUY
DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO TRONG
TRƯỜNG MẦM NON

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Thảo
Đối tượng: Lớp Lá 4

Naêm hoïc: 2015-2016


hiệu đề

NỘI DUNG
1

Trang


mục
I/1
1.1
1.2
2
2.1
2.2

Thuận lợi
Khó khăn
Kết quả khảo sát
Nhận xét kết quả
Nguyên nhân, những hạn chế
Nội dung cần giải quyết
Biện pháp giải quyết
Kết quả chuyển biến của đối tượng
Kết luận
Tóm lược giải pháp
Phạm vi đối tượng
Kiến nghị

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
1.1 Lý do khách quan:
2

3
3
4
5
5
6
6
7
7
8
9
9

phồn vinh của đất nước. Do đó, cần giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ 5-6 tuổi trong
trường mầm non là việc làm vô cùng quan trọng không thể thiếu được, là trách
nhiệm của gia đình, mổi cộng đồng và toàn xã hội.
Từ đó, tôi nhận định được vấn đề làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ em
nói chung và trẻ em trong trường mầm non nói riêng là hết sức cần thiết. Nên tôi
mạnh dạng đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nhằm giảm tỉ lệ suy dinh
dưỡng cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non” này.
1.2 Lý do chủ quan:
Trường mầm non là nơi thuận lợi nhất tạo tiền đề cho sự phát triển thể chất
của trẻ, giúp trẻ hoàn thiện và phát triển về mọi mặt. Ở trường mầm non ngoài
3


nhiệm vụ giáo dục thì nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và nuôi dưỡng là khâu then
chốt. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế như ngày nay, ăn uống không chỉ để giảm
cảm giác đói mà ăn uống phải là yếu tố quan trọng giúp cơ thể trẻ phát triển cân
đối, hài hòa. Trẻ ở lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh về thể lực, về trí tuệ, nếu
được chăm sóc, được nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau, bệnh tật.
Phòng chống suy dinh dưỡng là yêu cầu cấp thiết mà trong đó dinh dưỡng có vai
trò rất quan trọng trong sức khỏe của trẻ mầm non. Nếu được nuôi dưỡng tốt trẻ em
sẽ chóng lớn khỏe mạnh, vui tươi, có sức khỏe chống lại mọi bệnh tật và phát triển
trí thông minh. Ngược lại nhu cầu dinh dưỡng đối với trẻ không được đảm bảo, trẻ
sẽ bị suy dinh dưỡng, giảm sức đề kháng đối với các bệnh tật, làm ảnh hưởng đến
sức khỏe và sự phát triển trí tuệ của trẻ sau này.
Theo quan điểm của Đảng ta, mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là
vì con người, do con người. Chăm lo cho con người được xem là thước đo phát
triển, tính nhân văn của mỗi quốc gia. Trước hết phải làm cho con người có thể lực
tốt, đây là tiêu chí đầu tiên của chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những đòi
hỏi ngày càng cao của xã hội, là tiền đề sinh học để phát triển trí tuệ, trí thông minh
và nhân cách nói chung của mỗi người. Trong việc chăm lo cho con người việc

cho trẻ sau này. Vì vậy, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng thì hậu quả để lại sau này rất lớn.
Như chúng ta đã biết nếu trẻ khỏe mạnh thì sẽ tích cực tham gia vào các hoạt
động vui chơi, học tập, lao động. Tham gia các hoạt động hàng ngày giúp trẻ phát
triển được tính tò mò ham hiểu biết, óc sáng tạo đó là điều kiện để phát triển toàn
diện 5 mặt giáo dục ở trẻ. Và nếu không chú trọng đến dinh dưỡng trẻ sẽ bị thiệt
thòi về khả năng phát triển trí não, thể lực, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe và cả
kinh tế của gia đình làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội, là nguyên nhân lớn ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng dân số.
Trong nhiều năm qua Ngành học mầm non đã tổ chức chỉ đạo từng bước
thực hiện trong các năm học nhằm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo bằng
nhiều biện pháp. Và việc phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ là việc làm thường
xuyên, liên tục trải qua nhiều khó khăn. Đối với tôi giáo viên dạy mẫu giáo tôi phải
5


nhận định được tầm quan trọng của việc giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ là việc làm
cấp bách dài lâu đòi hỏi người giáo viên phải chú ý và kiên trì thực hiện.
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Để có sức khỏe tốt đầu tiên là vấn đề chăm sóc sức khỏe, sức khỏe tốt thì
mới học tốt. Dựa trên thực tế trẻ nào suy dinh dưỡng thì trẻ đó mệt mỏi, không
nhanh nhẹn, thông minh bằng trẻ khác. Và vấn đề chăm sóc giáo dục dinh dưỡng
trẻ em ở trường mầm non là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ.
Việc nuôi dạy trẻ ở trường mới chỉ dừng lại ở ăn bán trú với mức đóng góp
của phụ huynh. Nhiều phụ huynh chỉ nghỉ đến việc làm sao cho con mình ăn được
nhiều thịt, cá, tôm... là tốt chứ chưa chú trọng đến việc cho con ăn đầy đủ các chất
với nhóm thực phẩm có đủ rau, củ, quả vitamin và muối khoáng. Ngoài ra, một yếu
tố không thể thiếu được là khâu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với trẻ 5-6 tuổi trong giai đoạn này thì cơ thể trẻ cần nhiều năng lượng
để học tập, vui chơi trong thời gian cả ở nhà và ở trường. Các bữa ăn của trẻ dù có
đầy đủ nhưng không hợp lý, không đủ nhóm chất cũng sẽ là nguyên nhân dẫn đến

nhất để trẻ có một thân thể khỏe mạnh, trí não phát triển bình thường. Có như vậy,
các cháu mới có đủ khả năng tham gia vui chơi, học tập và bước vào lớp 1.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Dùng phương pháp điều tra: bản thân cô giáo chủ động tìm hiểu ở phụ huynh
về tình hình ăn uống của trẻ ở nhà như thế nào, những thói quen khi ăn của trẻ,
những món ăn trẻ thích, lượng ăn cũng như giờ giấc ăn uống của trẻ. Từ đó, giáo
viên thiết lập kế hoạch cụ thể tổ chức cho trẻ.
Phương pháp thống kê: Tôi thường xuyên theo dõi trẻ và cập nhật cân nặng
chiều cao hàng tháng, tính theo quý để kịp thời ngăn ngừa sự suy dinh dưỡng xảy
ra ở trẻ, bên cạnh đó đề ra biện pháp phòng tránh suy dinh dưỡng một cách nhanh
nhất.
Phương pháp dùng hình ảnh trực quan: cô cho trẻ xem tranh ảnh về bé suy
dinh dưỡng và hình ảnh bé khỏe mạnh. Đồng thời, trò chuyện giải thích lý do bé bị

7


suy dinh dưỡng và làm gì để bé được khỏe mạnh, kèm theo cho trẻ xem hình ảnh
các thực phẩm dinh dưỡng theo 4 nhóm chất quy định cơ bản.
Phương pháp quan sát: qua thực tế khi trẻ ăn ở trường, tôi luôn luôn quan sát
và theo dõi xem trẻ ăn như thế, ăn hết phần ăn hay không, ăn nhanh hay chậm, và
khẩu vị của trẻ ăn ra sao? Có thích ăn thịt, cá, rau củ hay thích ăn canh không? Từ
đó, tôi sẽ giúp đỡ trẻ ăn được tốt hơn.
Phương pháp tuyên truyền: tôi luôn chủ động trò chuyện cùng cha mẹ học
sinh về tình hình sức khỏe ăn uống của trẻ. Qua đó, kết hợp cùng gia đình tạo cho
trẻ một thói quen ăn uống hợp lý, đúng cách không xảy ra suy dinh dưỡng ở trẻ.
Tham khảo sách “dinh dưỡng cho trẻ em”
Tham khảo tạp chí “sức khỏe trẻ em”
Các tài liệu liên quan dinh dưỡng cho trẻ mầm non
6. Phạm vi đề tài:

dưỡng vệ sinh an tồn thực phẩm.
Bản thân tơi cũng tìm tòi tham gia học hỏi các chun đề giáo dục dinh
dưỡng vệ sinh an tồn thực phẩm trên tạp chí, mạng truyền thơng, qua các đồng
nghiệp để nắm bắt và thực hiện tốt giúp giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ.
1.2 Khó khăn:
Mặc dù vậy trong việc giảng dạy và giáo dục trẻ tơi vẫn còn gặp một số
khó khăn như sau:
Các hoạt động giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an tồn thực phẩm khơng được
phân trong từng hoạt động học mà đa số cung cấp cho trẻ dưới hình thức tích hợp
qua các mơn học khác.
Nhà trường chưa có đủ cơ sở vật chất để tổ chức hết cho trẻ ăn bán trú sớm
từ đầu năm nên chưa có chế độ dinh dưỡng hợp lí cho trẻ đặc biệt là trẻ suy dinh
dưỡng, mà chỉ tổ chức vào 2 tháng cuối năm học.
Phụ huynh chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng thu nhập thấp nên đời sống
còn rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng đến vệc chăm sóc giáo dục trẻ.
1.3 Kết quả khảo sát:
9


Đầu năm học tôi chú ý đến việc giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực
phẩm nên tôi cân đo trẻ ngay từ đầu năm.
Với kết quả cân đo và khảo sát giai đoạn đầu năm học 2015-2016:
Tổng số
trẻ
23

Cân nặng cao

Cân nặng bình


Một là, do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn do làm ăn vất vả nên
phụ huynh ít có điều kiện chăm sóc con cái chu đáo, chế độ ăn phụ thuộc vào thu
nhập của cha mẹ.
Hai là, một số gia đình khá giả hơn lại cưng chiều con cái, cho con ăn uống
tùy thích không khoa học nên trẻ biếng ăn, do chế độ ăn chưa hợp lý, chế độ sinh
hoạt thất thường nên trẻ thường mệt mỏi ngày càng nặng thêm.
Ba là, khi thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực
phẩm thì bản thân tôi khi lên các kế hoạch moät soá noäi dung chöa cụ thể. Trong
10


giảng dạy đôi lúc còn lúng túng, chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc giáo dục
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm, cho nên công tác này chưa đạt kết quả cao.
2. Nội dung cần giải quyết
Có kế hoạch giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm cụ thể, phù hợp.
Giáo dục ý thức chăm sóc sức khỏe ở trẻ, xây dựng chế độ ăn cho trẻ suy
dinh dưỡng.
Giáo viên phải gương mẫu, có ý thức cao, có lòng quyết tâm, kiên trì.
Cung cấp kiến thức về dinh dưỡng bằng nhiều hình thức.
Giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các hoạt động
trong ngày.
Công tác tuyên truyền phối hợp với phụ huynh học sinh.
3. Biện pháp giải quyết:
3.1. Bản thân giáo viên có kế hoạch giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn
thực phẩm thật cụ thể và phải phù hợp; giáo viên tìm nguyên nhân trẻ bị suy
dinh dưỡng.
3.1.1/ Bản thân giáo viên có kế hoạch giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn
thực phẩm thật cụ thể và phải phù hợp:
Một trong những nội dung giáo dục quan trọng ở lứa tuổi Mầm non là giúp
cho trẻ phát triển một cách toàn diện mà trong đó chuyên đề giáo dục dinh dưỡng

thể cần có những chất dinh dưỡng để nuôi sống cho cơ thể.
Thấy rõ tầm quan trọng đó nên tôi đã sưu tầm những tranh ảnh minh họa về
cách sinh hoạt của một em bé khỏe mạnh và tranh về một em bé không có những
hành vi đúng trong sinh hoạt để bảo vệ sức khỏe. Qua đó để nhằm giáo dục và giúp
trẻ thấy rõ hơn về những thói quen sinh hoạt cũng ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
Ví dụ: Khi dạy cháu về chủ điểm “Bản thân” tôi sưu tầm tranh ảnh về sinh
hoạt như: Ăn uống, vệ sinh cá nhân của trẻ và đàm thoại với trẻ về những lợi ích
hay tác hại của những thói quen sinh hoạt đó đối với sức khỏe.
Tôi còn cho trẻ tham gia tập thể dục buổi sáng mỗi ngày để giúp cho da hấp thụ ánh
sáng mặt trời để tạo thành Vitamin D giúp hạn chế bệnh còi xương cho trẻ.
12


Sau khi trẻ tìm hiểu về những ảnh hưởng và thói quen sinh hoạt không tốt có
ảnh hưởng đến sức khỏe của mình, và biết được điều đó nên cháu Trường An, Phúc
Duy, Dương đã có những thói quen tốt để bảo vệ sức khỏe như: cháu không còn ăn
quà vặt, cắt móng tay, móng chân sạch sẽ hơn để giữ vệ sinh trong ăn uống.
Sau khi xác định được kế hoạch cụ thể tôi cũng thấy tự tin hơn khi dạy lồng
ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm đến trẻ và nhờ có kế
hoạch cụ thể phù hợp với từng chủ đề nên tôi đã đưa ra những nội dung giáo dục
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các hoạt động giáo dục một cách
nhẹ nhàng nhưng vẫn đầy đủ trọng tâm cần cung cấp cho trẻ.
3.1.2/ Tìm ra nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng:
Sau khi khai giảng năm học mới xong tôi đã cân đo theo dõi sức khỏe bằng
cách chấm biểu đồ tăng trưởng để nắm được số liệu trẻ suy dinh dưỡng của lớp tôi.
Tôi đã lập ra mẫu theo dõi trẻ suy dinh dưỡng như sau:
STT
Nguyên nhân
Số trẻ cụ thể của lớp
1

cùng là bị suy dinh dưỡng. Và nhờ có sự trao đổi phối hợp với phụ huynh mà tôi đã
tìm ra nguyên nhân giúp các cháu có thói quen ăn uống đúng cách và xóa suy dinh
dưỡng kịp thời.
3.2. Giáo dục ý thức tự chăm sóc sức khỏe ở trẻ; xây dựng chế độ ăn cho
trẻ suy dinh dưỡng:
3.2.1/ Giáo dục ý thức tự chăm sóc:
Giáo dục ý thức tự chăm sóc và thói quen rửa tay bằng xà phòng trước và sau
khi ăn, không nói chuyện trong giờ ăn. Giáo dục trẻ ý thức tự chăm sóc sức khỏe
cho trẻ. Tuyên dương động viên trẻ kịp thời. Sau những lần cân đo cho trẻ. Tôi
thường cho trẻ biết trẻ tăng hay sụt cân và trò chuyện với trẻ để trẻ biết vì sao cháu
sụt cân hay tăng cân? Qua những lần như thế tôi giải thích giúp trẻ có ý thức chăm
sóc sức khỏe, ăn đúng bữa, ngủ đủ giấc và biết cách phòng một số dịch bệnh. Từ đó
trẻ sẽ có ý thức hơn trong việc tự chăm sóc mình.
Ngoài ra Ban giám hiệu nhà trường còn phối hợp y tế khám sức khỏe định kỳ
cho cháu 2 lần/ 1 năm học, phân loại tình trạng sức khỏe trẻ. Những cháu suy dinh
dưỡng tôi còn cùng gia đình xây dựng chế độ chăm sóc riêng và theo dõi tăng cân
hàng tháng của trẻ.
3.2.2/ Xây dựng chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng:
Đối với những cháu suy dinh dưỡng tôi đến tận nhà trao đổi và tuyên truyền
với phụ huynh về chế độ ăn của trẻ. Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng cho
trẻ. Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng làm trẻ bị thiếu năng lượng và
14


chất dinh dưỡng nên không tăng cân, chiều cao và trí thông minh. Tôi hướng dẫn
cho phụ huynh chế độ ăn của trẻ suy dinh dưỡng có nguyên tắc chung là làm tăng
năng lượng và tăng chất dinh dưỡng. “Trẻ em ăn uống thế nào là đủ chất?” Bên
cạnh đó tôi còn hướng dẫn phụ huynh những cách làm tăng năng lượng và tăng
chất dinh dưỡng cho trẻ như:
Tăng lượng dầu mỡ: Vì dầu mỡ sẽ giúp cung cấp năng lượng gấp đôi chất

3.3. Giáo viên phải là người gương mẫu; có ý thức cao; có lòng quyết
tâm và kiên trì:
3.3.1/ Giáo viên phải là người gương mẫu, có ý thức cao:
Để góp phần hình thành ở trẻ thói quen bảo vệ sức khỏe và để giúp cơ thể
khỏe mạnh thì không phải là việc làm dễ. Để thực hiện được chuyên đề này giáo
viên cần phải có sự quyết tâm và lòng kiên trì cao.
Theo thực tế ở lớp tôi đầu năm học các cháu hay mang quà bánh đến lớp
phần lớn là kẹo, snack, bánh ngọt,….. Mặt khác phụ huynh trao đổi với tôi ở nhà
cháu rất lười ăn, thời gian ăn thường kéo dài từ 1 giờ - 2 giờ / bữa. Nắm được tình
hình này tôi đã trao đổi với phụ huynh không cho cháu mang quà bánh vào lớp.
Ví dụ: Tôi đưa tận tay từng phụ huynh có con lười ăn chế độ sinh hoạt một
ngày của trẻ đặc biệt nhấn mạnh giờ ăn các buổi cho phụ huynh rõ. Đồng thời tôi
cung cấp cho phụ huynh những tài liệu về thực đơn của hoa quả đối với bữa ăn của
trẻ như thế nào và thời điểm nào cho cháu ăn hoa quả là hợp lý nhất.
Bằng nhiều hình thức trên tôi đã được phụ huynh phản ánh là nhờ sự giúp
đỡ, hướng dẫn của tôi mà kết quả các bữa ăn của con chúng tôi ở nhà có tiến bộ rõ
rệt là trong bữa ăn trẻ được ăn nhiều hơn.
Ví dụ: Cháu Duy, Trân.. là những trẻ thường xuyên thích ăn những quà vặt,
không thích mang sữa để uống giữa buổi. Mỗi khi thấy trẻ mang quà vặt theo đến
lớp tôi thường đến bên trẻ để trò chuyện: Tại sao con không mang sữa để uống?
Cháu thấy bánh này có nhiều màu sắc không? Các loại bánh nhiều màu vì có chứa
nhiều phẩm màu có tốt cho cơ thể không? Tại sao?... Tôi thường trò chuyện để giáo
dục cháu và cùng cả lớp động viên nếu thấy cháu có sự thay đổi vì như thế là cháu
16


vừa bảo vệ được bản thân mình không bị bệnh, vừa vâng lời cô sẽ được cô khen và
các bạn yêu mến.
3.3.2/ Giáo viên có ý thức cao:
Để góp phần xây dựng lớp học với nhiều bé khỏe và nhằm giúp giảm tỉ lệ trẻ

Huy, ... thực hiện rất tốt thói quen này.
3.4. Cung cấp kiến thức về dinh dưỡng bằng nhiều hình thức:
3.4.1/ Hàng ngày cho trẻ trải nghiệm thực tế ở trong nhà trường:
Trẻ mầm non rất hứng thú khi được quan sát về môi trường sống xung
quanh. Tôi luôn lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
mọi lúc, mọi nơi và trong các hoạt động bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Tôi luôn giúp trẻ hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ: Lớp, trường,
gia đình, làng xóm.
Hằng ngày khi đến lớp tôi thường cho cháu uống nước mỗi khi cho cháu
tham gia các hoạt động xong. Tôi thường cho cháu quan sát cơ thể của mình hay
tiết mồ hôi mỗi khi tham gia xong các hoạt động. Từ quan sát thực tế mà tôi đã giải
thích cho cháu biết được cơ thể thoát mồ hôi nên tôi thường giáo dục các cháu phải
uống nhiều nước để bù lại lượng nước đã mất.
Ngoài ra khi cho trẻ tập thể dục buổi sáng tôi thường trò chuyện để giúp cháu
biết được khi tắm ánh sáng mặt trời rất tốt cho sức khỏe giúp cho da hấp thụ ánh
sáng mặt trời và tạo thành vitamin D giúp chống bệnh còi xương mà từ đó các cháu
của lớp tôi không còn sợ những chỗ đứng có ánh ánh mặt trời nữa.
Ví dụ: Khi dạy chủ điểm “Bản thân” tôi thường giải thích cho cháu biết một
số thói quen giữ vệ sinh cơ thể, một số thói quen giúp cơ thể khỏe mạnh và biết các
chất dinh dưỡng cần thiết để giúp cơ thể luôn khỏe mạnh.
Qua quan sát trải nghiệm từ thực tế mà cháu biết được cơ thể mình cần
những gì để lớn. Qua đó giáo dục cháu để có đủ sức khỏe học tập, vui chơi cháu
cần ăn uống đủ chất và biết giữ vệ sinh trong ăn uống để cơ thể phát triển cân đối
hài hòa. Từ đó mà các cháu biết được mỗi nhóm chất đều có một lợi ích riêng đối
với cơ thể mà cháu Tài, Phượng,… đã tập ăn rau trong những bữa ăn của mình.
18


3.4.2/ Tìm kiếm tranh ảnh để cho trẻ xem:
Trẻ mầm non chủ yếu ghi nhớ các nội dung giáo dục qua tranh ảnh trực quan

Mời cô mời bạn
Cùng bé xơi cơm
Nhớ có hắt hơi
Bé ơi nhớ nhé
Quay ra đằng sau
Tay che miệng mũi
Nếu không như thế
Sẽ mất vệ sinh
Bạn bè cười chê
Chẳng đẹp tí nào
Bé ơi nhớ nhé.
Nguyễn Thị Hiền.
Vì trẻ ở lứa tuổi mầm non thường mau quên nhưng lại thích đọc những câu
thơ có vần, có nhịp. Các bài thơ thường lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ
sinh an toàn thực phẩm qua các câu thơ nên cháu hình dung ra từng việc làm cụ thể
phù hợp với lứa tuổi của cháu. Vì vậy mà cháu dễ ghi nhớ và thực hiện rửa tay sạch
trước khi ăn để ăn cơm cho sạch, ngon miệng hơn và có một số thói quen thật tốt
trong ăn uống như che miệng khi hắt hơi, ngồi ăn ngay ngắn. Dựa vào đặc điểm
này mà tôi còn sưu tầm thêm các bài hát để giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn
thực phẩm dạy cho cháu một số bài hát: Vì sao con mèo rửa mặt, khám tay..
Bài hát: Thật đáng chê.
“Có con chim là chim chích chòe trưa nắng hè mà đi đến trường ấy thế mà
không chịu đội mũ. Tối đến mới về nhà nằm rên. Ôi, ôi đau quá nhức cả đầu chích
chòe ta nằm liền mấy hôm. Đứng bên sông kìa trông chú cò. Chân bước dài cò ta đi
mò vớ cái gì ăn liền vội vã. Uống nước lã rồi lại quả xanh. Ăn tham nên tối đến về
nhà đau bụng rên hừ hừ suốt ba ngày đêm. Ê, ê, ê cái con cò kia thật đáng chê”

20




3.5.2/ Hoạt động ngoài trời:
Khi cho cháu thực hiện các hoạt động ở giờ hoạt động ngoài trời tôi cũng
giáo dục cháu về ý thức bảo vệ sức khỏe bản thân như: Khi dạy chủ điểm “Hiện
tượng tự nhiên” tôi thường cho trẻ quan sát các cảnh vật mùa hè như thế nào? Thời
tiết mùa hè ra sao? Mùa hè nóng nực các cháu phải ăn mặc, giữ vệ sinh thế nào?
Mùa hè nắng rất gay gắt nên khi chơi hoạt động ngoài trời cháu thường chơi ở đâu?
Tại sao phải chơi trong bóng mát? Khi đi dưới trời nắng trưa cháu phải làm sao? Từ
đó mà tôi giáo dục cháu nếu chúng ta không biết tự bảo vệ bản thân thì chúng ta sẽ
bệnh làm cơ thể mệt mỏi. Nếu bệnh kéo dài làm cháu sụt cân và không đủ sức khỏe
để tham gia học, chơi cùng các bạn.
Tôi còn thường xuyên kể cho cháu nghe về những câu chuyện mà tôi đã
được nhìn thấy như: “Vào một lần tôi có đi đến chơi nhà một người bạn. Trong gia
đình bạn của tôi có được một bé trai rất dễ thương và tôi đến chơi cũng vào đúng
dịp gia đình cho cháu ăn. Qua trò chuyện tôi biết được vì là con đầu lòng nên bé
được cả hai bên nội, bên ngoại rất thương và cưng chiều theo ý của bé. Mỗi khi cho
cháu ăn rất là khó và cháu thường không chịu ăn những thức ăn đã được nấu dành
cho cháu. Mỗi lần cháu không ăn cháu thường được cho quà bánh. Dần dần điều đó
đã trở thành thói quen ở cháu. Cháu rất lười ăn nên cháu ngày càng ốm đi và cậu bé
Bo tròn trĩnh ngày nào không còn nữa mà thay vào đó là cậu bé chỉ thích những
quà bánh kẹo thay vào khẩu phần ăn của mình”.
Qua câu chuyện đó mà tôi giúp cháu biết được ăn quà vặt trước hoặc thay thế
cho bữa ăn chính của mình đó là thói quen xấu không biết bảo vệ sức khỏe.
3.5.3/ Hoạt động chơi:
Ngoài ra đối với trẻ Mầm non hoạt động chơi thường chiếm nhiều thời gian.
Trước khi cho trẻ chơi tôi thường cho cháu nêu ra cháu sẽ chơi gì ở các góc. Hoạt
động chơi là thời gian giúp cháu mô phỏng lại công việc của người lớn đặc biệt khi
cho cháu được chơi ở góc phân vai rất thích vì tự tay cháu sẽ chế biến những món
ăn theo sở thích của mình. Hiểu được tâm lí thích bắt chước theo người lớn ở cháu
22

23


đối với sự phát triển sau này của đứa trẻ, vì giai đọan này cơ thể và bộ não phát
triển mạnh nhất. Qua buổi họp tôi cũng thông qua lịch sinh hoạt của các cháu ở
trường, cũng như một số qui định riêng của lớp.
Ví dụ: Phụ huynh chỉ được mang sữa không mang quà bánh cho cháu vào
lớp để tránh tình trạng ngộ độc thực phẩm. Hàng tuần nhắc nhở phụ huynh cắt
móng tay, đầu tóc, quần áo luôn phải gọn gàng sạch sẽ cho cháu. Khi cháu bị mắc
các bệnh truyền nhiễm phụ huynh phải thông báo cho giáo viên được biết và cho
cháu nghỉ ở nhà để tránh dịch bệnh lây lan.
Việc giáo dục trẻ không phải chỉ dừng lại ở một phía nhà trường mà phải có
sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường thì kết quả mới khả quan. Nhận thức được
điều này tôi luôn tìm cách để nhắc nhở cha mẹ các cháu về nội dung giáo dục dinh
dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm qua góc bố mẹ cần biết, qua trò chuyện trực tiếp
với phụ huynh trong giờ đón trả trẻ để phụ huynh giáo dục thêm cho cháu ở nhà.
Qua các cuộc họp phụ huynh, lúc đón trẻ, kết hợp lấy ý kiến phụ huynh về
việc giáo dục nề nếp vệ sinh ăn, ngủ khi trẻ ở nhà, tìm hiểu sở thích của trẻ.
Từ những thông tin đó tôi biết được cá tính của mỗi trẻ có biện pháp chăm
sóc phù hợp, biết được cách chăm sóc, nuôi dưỡng của phụ huynh là đúng hay sai,
đã phù hợp với cháu chưa? Tôi lựa chọn nội dung tuyên truyền thiết thực hơn, bổ
ích hơn.
Với 10 lời khuyên vàng trong ăn uống và trên bảng bố mẹ cần biết thông báo
tình hình sức khỏe của trẻ, phòng tránh một số bệnh theo mùa. Trao đổi kinh
nghiệm chăm sóc sức khỏe cho trẻ để phụ huynh có thêm thông tin, biết cách chăm
sóc phù hợp khoa học.
Ví dụ: Đối với các loại thịt động vật không nên cho trẻ ăn thịt miếng, thịt
rang khô sẽ làm giảm chất dinh dưỡng và khó hấp thụ. Khi cho trẻ ăn nên cho ăn cả
phần thịt và nước hầm xương. Tăng cường các loại tôm, cua, tép giả nhỏ nấu canh
để có nhiều chất đạm và canxi. Tăng cường cho trẻ ăn các loại rau, củ, quả, kết hợp

khen cháu, khi cháu có sự tiến bộ hoặc có biện pháp điều chỉnh sao cho phù hợp
hơn.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status