Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp duy trì tỉ lệ chuyên cần tại nhóm trẻ 25 – 36 tháng Sáy San II- trường Mầm non Nùng Nàng - Pdf 26

PHẦN MỘT
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
“Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước…”.
Đó là sự khẳng định của Đảng, nhà nước ta được thể hiện trong Pháp Lệnh về
bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Xuất phát từ quan điểm trên, hiện nay trẻ em đang được xã hội quan tâm
đặc biệt về chất lượng chăm sóc và giáo dục. Như vậy muốn công tác chăm sóc
giáo dục đạt hiệu quả thì trước hết phải chú ý đến tỷ lệ chuyên cần của trẻ vì trẻ
có ra lớp đều thì việc tiếp thu bài mới tốt, mới hệ thống được kiến thức liền
mạch. Xong thực tế giáo dục ở các bậc học vùng cao nói chung đặc biệt là giáo
dục mầm non nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì sĩ số.
Đơn vị trường Mầm non Nùng Nàng nơi tôi công tác với đặc điểm là một
xã vùng cao đặc biệt khó khăn, 100% đồng bào là người dân tộc H’Mông. Việc
nhận thức cho con em đến trường Mầm non còn có hạn, đặc biệt các cháu trong
độ tuổi nhà trẻ năm đầu ra lớp còn hay quấy khóc, chưa quen với nề nếp thói
quen ở lớp nên một số phụ huynh thường cho con nghỉ học để lên nương cùng
bố mẹ. Mặt khác một số phụ huynh kinh tế khó khăn không muốn cho con trong
độ tuổi nhà trẻ đến lớp để đỡ phần tốn kém. Chính vì vậy tỉ lệ chuyên cần của trẻ
nhà trẻ ở một số nhóm/lớp còn chưa cao, số trẻ nghỉ học không xin phép còn
nhiều….
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu trong độ tuổi nhà trẻ tôi
luôn suy nghĩ phải làm thế nào để duy trì tỉ lệ chuyên cần và đảm bảo chất
lượng giáo dục của trẻ trong lớp?
Từ thực tế trên, tôi đã mạnh dạn xây dựng đề tài: “Một số biện pháp duy
trì tỉ lệ chuyên cần tại nhóm trẻ 25 – 36 tháng Sáy San II- trường Mầm non
Nùng Nàng”
II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: 13/13 trẻ ở nhóm trẻ 25- 36 tháng Sáy San II.
1
Đối tượng: Một số biện pháp duy trì tỉ lệ chuyên cần cho trẻ nhà trẻ 25-

II. Thực trạng của vấn đề:
1. Thực trạng:
Lớp nhà trẻ Sáy San II nằm cách trung tâm xã Nùng Nàng 01km, lớp học
là điểm trường tập trung cho trẻ ra lớp của 3 điểm bản: Nùng Nàng, Sáy San II,
Sáy San III, có địa hình phức tạp, dân cư phân bố không đồng đều, giao thông đi
lại khó khăn nhất là về mùa mưa.
Phong trào giáo dục xã Nùng Nàng nói chung và điểm bản Sáy San II nói
riêng mặc dù đã phát triển tương đối tốt, song vẫn còn nhiều khó khăn về các
mặt như:
Lớp học là nhà tạm chưa đảm bảo diện tích, ánh sáng cho trẻ chơi tập theo
chương trình Giáo dục mầm non. Chính vì vậy việc xây dựng môi trường lớp
học còn hạn chế, phần khác giáo viên trong lớp chưa thường xuyên sưu tầm đồ
dùng, đồ chơi, tranh ảnh…. để thu hút trẻ đến lớp. Khuôn viên lớp học chưa có
tường rào, nên vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng một số em học sinh tiểu học
chui vào lớp nghịch, phá đồ dùng, đồ chơi trong lớp. Mặt khác trâu bò của một
số hộ gia đình gần lớp học thường vào dẫm phá rất khó khăn cho việc trồng cây
xanh ảnh hưởng không nhỏ đến việc thi đua xây dựng phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện- học sinh tích cực”.
Cùng với việc mở rộng mạng lưới lớp học của nhà trường, đầu năm học
2011-2012 tôi được nhà trường phân công dạy lớp Nhà trẻ 25-36 tháng Sáy San
II với sĩ số 13 cháu (06 nữ), trong đó:
Bản Nùng Nàng: 4 cháu.
Bản Sáy San II: 5 cháu.
Bản Sáy San III: 4 cháu.
Nhìn chung người dân ở đây còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi các phong tục
tập quán lạc hậu của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn thấp
3
hầu hết chỉ sống dựa vào nông nghiệp, nương rẫy nên kinh tế khá hạn hẹp.
Chính vì vậy các bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến ngành học Mầm
non gây nhiều trở ngại cho giáo viên trong công tác vận động đưa trẻ đến trường

tán thành
%
Số phụ
huynh
chưa tán
thành
%
Con còn nhỏ không cho
đi học
9 69.3 4 30.7
4
Khi có sự thay đổi về
thời tiết cho con nghỉ
học
10 77 3 23
Chưa có điều kiện đóng
góp
12 92.1 1 0.9
Trước thực trạng trên tôi thấy phải kết hợp sử dụng các hình thức để nâng
cao tỉ lệ chuyên cần cho trẻ: Thực hiện đầy đủ các hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ trong ngày. Thường xuyên gần gũi trò chuyện với trẻ, nắm bắt được cá tính,
đặc điểm tâm lý của từng trẻ trong lớp để có biện pháp động viên khích lệ kịp
thời. Làm đồ dùng đồ chơi tự tạo phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để thu hút trẻ đến
lớp. Làm tốt công tác tuyên truyền vận động phụ huynh cho con ăn bán trú tại
lớp với các hình thức: ăn nấu, ăn cơm cặp lồng, tuyên truyền về nội quy lớp học,
thời gian đưa- đón con. Thăm hỏi một số phụ huynh để tìm hiểu nguyên nhân
dẫn đến việc trẻ đi học không đều. Thái độ ứng xử đúng mực, thân thiện trong
giao tiếp với phụ huynh và nhân dân tại địa phương.
Qua nghiên cứu điều tra thực trạng tôi thấy số trẻ nghỉ nhiều một phần do
ốm, thời tiết chuyển mùa. Sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương còn

động giáo dục tôi chuẩn bị rất nhiều đồ chơi phong phú như: đồ chơi rau củ,
quả, các viên gạch nhỏ, quả bóng, bông hoa nhiều màu sắc và tranh ảnh, mô
hình theo chủ đề và hướng trẻ “Học mà chơi- chơi mà học” với những đồ chơi
đó. Để trẻ tiếp thu kiến thức phù hợp với vùng miền tôi luôn chú trọng công tác
tăng cường tiếng Việt cho trẻ qua hình thức kết hợp song ngữ: tiếng dân tộc-
tiếng Việt bằng cách sử dụng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để khuyến khích
trẻ trả lời được các câu hỏi của cô.
Khi trẻ tiếp thu được các kiến thức cơ bản, tôi sử dụng hình thức tích hợp
tuyên truyền tới các bậc phụ huynh qua chính con em của mình bằng cách trước
khi trẻ đi học về tôi dặn dò trẻ về nhà phải múa hát, đọc thơ…. cho ông bà, bố
mẹ cùng nghe. Qua việc làm đơn giản trên tôi thấy phụ huynh rất vui vẻ và yên
tâm với công tác chăm sóc giáo dục của tôi, thường xuyên cho con đi học.
3. Làm tốt công tác tuyên truyền, tham mưu phối kết hợp:
6
Bên cạnh công tác giáo dục trẻ thì công tác tổ chức cho trẻ ăn bán trú là
một hình thức tương đối có hiệu quả để đảm bảo tỉ lệ chuyên cần của trẻ tại
nhóm lớp. Nắm bắt được hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình các cháu tôi tiến
hành tuyên truyền tới các bậc phụ huynh cho con ăn cơm trưa theo các hình thức
ăn cơm nấu tại trường - mang cơm cặp lồng đến nay tỉ lệ học sinh ăn bán trú tại
lớp tương đối cao. Ngoài ra tôi kết hợp tuyên truyền tới các bậc phụ huynh qua
các buổi họp phụ huynh, buổi họp điểm bản về các nội dung: nội quy lớp học,
giờ quy định đón- trả trẻ đồng thời tuyên truyền về tầm quan trọng của việc cho
con em ra lớp đều, đúng độ tuổi. Thường xuyên trao đổi thông tin với các bậc
phụ huynh về tình hình sức khoẻ của trẻ hàng ngày qua giờ đón, trả trẻ để có
biện pháp chăm sóc phù hợp.
Với những hộ gia đình chưa cho con đi học thường xuyên, các cháu còn
hay nghỉ để đi nương cùng bố mẹ tôi thường xuyên tới tận gia đình để vận động
cho cháu về học. Mặt khác tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường báo cáo với
chính quyền xã danh sách tên trẻ, tên bố hoặc mẹ, điểm bản của những trẻ đi học
chưa đều đề nghị UBND xã có biện pháp chỉ đạo kịp thời.

72.1
Tháng 12/2011
13 0 0
65.7
Tháng 01/2012
13 0 0
69.2
Tháng 02/2012
13 0 0
75.1
Tháng 3/2012
13 0 0
90.3
Qua kết quả kiểm tra trên tôi nhận thấy tỉ lệ chuyên cần của trẻ tăng lên
đáng kể so với thời điểm khảo sát, đặc biệt nhận thức của phụ huynh đã thay đổi
rõ rệt, cụ thể:
- Tỉ lệ chuyên cần so với thời điểm tháng 9/2011 tăng 30.1%.
- Số trẻ ra lớp: 13/13 đạt 100%.
PHẦN BA
PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm:
Qua nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm trên bản thân tôi đã đúc kết ra một
số kinh nghiệm sau:
1. Làm tốt công tác dân vận, xã hội hoá giáo dục.
2. Yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề và gắn bó với sự nghiệp giáo
dục vùng cao.
3. Tích cực học tiếng địa phương và tích cực tìm hiểu những phong tục
tập quán của dân tộc ở địa phương nơi công tác. Mặt khác không ngừng học tập
để nâng cao trình độ chuyên môn
4. Tham mưu phối kết hợp với Ban giám hiệu nhà trường, cấp uỷ chính

pháp duy trì tỉ lệ chuyên cần tại nhóm trẻ 25 – 36 tháng Sáy San II- trường
Mầm non Nùng Nàng”.
9
Kính mong hội đồng thi đua khen thưởng các cấp xét duyệt và ghi nhận.
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Nùng Nàng, ngày 20 tháng 3 năm 2011.
Người viết

Trần Thị Lịch
TÀI LIỆU THAM KHẢỎ
1. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ 3- 36 tháng.
2. Bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 2.
3. Cẩm nang nhà trẻ- mẫu giáo.
10
4. Tổ chức các hoạt động phát triển cho trẻ mầm non theo hướng đổi
mới.
MỤC LỤC
Phần một
PHẦN MỞ ĐẦU
11
Trang
I. Lý do chọn đề tài…………………….……………………….…….…………………….1
II.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu … …………………………… ……… …….1-2
III. Mục đích nghiên cứu……………………………………… ………………… …….2
Phần hai
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận……………………………………………………………… …… …….2
II. Thực trạng của vấn đề… ….…………………………………………… …………3-5
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết…………………………… …… …5-6
IV. Hiệu quả của SKKN…………………………………… ………………….……… 7

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status