PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phước Vĩnh Đông, ngày 06 tháng 4 năm 2016
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh học tốt
dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5”
A) SƠ LƯỢC LÝ LỊCH:
- Ông (bà): Võ Thị Phương Diễm
- Năm sinh: 1987
- Nơi thường trú: Tổ 8 – ấp I – xã Phước Vĩnh Tây – huyện Cần Giuộc –
tỉnh Long An
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Vĩnh Đông
- Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn 5
- Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp 5A1
B) NỘI DUNG:
1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học nền tảng. Mỗi
môn học ở Tiểu học đều góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát
triển những cơ sở ban đầu về nhân cách con người Việt Nam. Trong đó, môn
Toán giữ vị trí rất quan trọng trong thực tiễn cuộc sống. Đó là công cụ cần
thiết để học các môn học khác, để nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt
khó, đa dạng và phức tạp như loại toán chuyển động đều mà thời lượng dành
cho ít như vậy nên học sinh không được củng cố và rèn luyện kĩ năng nhiều
chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài.
* Trong hơn bốn năm giảng dạy ở lớp 5, tôi nhận thấy khi học về
phần giải toán chuyển động đều học sinh thường bộc lộ một số hạn chế
sau:
a) Trình độ học sinh không đồng đều, nhất là kĩ năng giải toán, khả
năng tư duy, suy luận của một số học sinh còn rất hạn chế.
b) Không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ về dữ kiện, điều
kiện đưa ra trong bài toán.
Ví dụ: Quãng đường AB dài 25km. Trên đường đi từ A đến B, một
người đi bộ 5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B. Tính vận tốc
của ô tô. (Bài tập 3/140 SGK Toán 5)
Gần 1/3 số học sinh tìm vận tốc bằng phép tính: v = 25 : 0,5 = 50
(km/giờ). Còn đa số học sinh đều nhận ra được:
- Quãng đường người đó đi được bằng ô tô là: 25 – 5 = 20 (km)
- Vận tốc của ô tô là: 20 : 0,5 = 40 (km/giờ)
c) Chưa nắm rõ ý nghĩa vật lí của các đại lượng một cách trọn vẹn.
Cho nên khi giải các bài toán về chuyển động đều các em còn lúng túng ở
khâu chọn phép tính giải, chọn đơn vị đo.
Ví dụ: Một ô tô đi được quãng đường 135km hết 3 giờ. Một xe máy
cũng đi quãng đường đó hết 4 giờ 30 phút. Hỏi mỗi giờ ô tô đi nhiều hơn xe
máy bao nhiêu km? (Bài tập 1/144 SGK Toán 5)
Thật ra, đây chỉ là bài toán yêu cầu học sinh so sánh vận tốc của hai xe
nhưng rất ít và hầu như không học sinh nào nhận ra dù đây là bài toán nằm ở
tiết Luyện tập chung.
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Trang 2
chuyển động đều. Cụ thể là:
+ Phải nhớ và nắm được cách giải từng dạng toán ở dạng tường minh
nhất.
+ Phải nắm được các thao tác, từ đó có thể vận dụng một cách linh
hoạt vào việc giải những bài toán có chất lượng phức tạp hơn.
- Phát huy khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh.
- Bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê học Toán.
- Bản thân nâng cao chất lượng dạy – học mảng kiến thức này.
- Khẳng định lại tính hiệu quả và tính khả thi của giải pháp mà cách
đây hai năm tôi đã áp dụng có hiệu quả ở lớp mình phụ trách.
3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Sau đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện để giúp học sinh học
tốt phần giải toán chuyển động đều:
3.1. Giúp học sinh nắm được các kiến thức có liên quan:
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Trang 3
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016
Đây là một giải pháp mới mà tôi vừa bổ sung và áp dụng trong năm
học này. Để thực hiện tốt việc giải toán về chuyển động đều, học sinh cần
nắm và vận dụng thành thạo các kiến thức sau:
a. Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài:
- Học sinh phải ghi nhớ được thứ tự, mối quan hệ giữa các đơn vị đo
=0,1hm
1m
= 10dm
=
0,1dam
1dm
= 10cm
= 0,1m
cm
(xăng-ti-
mm
(mi-li-
mét)
mét)
1cm
= 10mm
= 0,1dm
1mm
= 0,1cm
- Khi chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, giáo viên cần lưu ý học sinh:
+ Chữ số hàng đơn vị chính là số đo của đơn vị mà đề bài cho đi kèm.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016
chơi học tập đơn giản như “Tìm nhà cho thỏ”, “Gà mẹ tìm con”, “Đoàn kết”,
“Tìm kho báu”, … để lôi cuốn học sinh hứng thú tham gia vào bài.
3.2. Giúp học sinh nắm vững các ý nghĩa vật lí, công thức tính từng đại
lượng liên quan:
Để làm được điều này thì ngay trên lớp, khi dạy bài mới, tôi đã chú trọng
giúp học sinh hiểu rõ bản chất, ý nghĩa vật lí hoặc hình thành những biểu tượng
đơn giản về từng loại đại lượng; hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới
dựa trên vốn kinh nghiệm của các em thông qua những gợi ý, rồi tôi mới chốt
kiến thức.
a. Vận tốc:
- Vận tốc của một chuyển động cho biết mức độ chuyển động nhanh hay
chậm của chuyển động đó trong một đơn vị thời gian.
Ví dụ: Vận tốc của ô tô là 42,5 km/giờ nghĩa là trung bình mỗi giờ ô tô đi
được 42,5km. Và giáo viên phải giúp học sinh hiểu được theo chiều ngược lại
rằng nếu đề bài hỏi: “Trung bình mỗi giờ ô tô đi được bao nhiêu km?” thì tức là
hỏi vận tốc của ô tô.
- Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian đi (v = s : t)
- Giáo viên cần phải nhấn mạnh với học sinh:
+ Cần sử dụng thời gian đi quãng đường đó vì một số trường hợp đề bài
không cho thời gian đi mà cho thời điểm đến và thời điểm khởi hành thì bắt buộc
học sinh phải tìm thời gian đi trước khi tính vận tốc.
+ Đơn vị của vận tốc phụ thuộc vào đơn vị của quãng đường và thời gian.
học sinh:
- Nếu quãng đường là km, thời gian đi là giờ thì vận tốc là km/giờ.
- Nếu quãng đường là m, thời gian đi là phút (hoặc giây) thì vận tốc là
m/phút (hoặc m/giây).
- Với cùng một vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian đi.
- Trong cùng một thời gian đi thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc.
- Trên cùng một quãng đường thì vận tốc và thời gian đi là hai đại lượng
tỉ lệ nghịch.
3.3. Hình thành thói quen giải toán tích cực cho học sinh trong các giờ
học toán:
Trong quá trình hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi
được đến bước dùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh phải
phân tích, suy luận từ những dữ kiện của bài toán, vận dụng những kiến thức có
sẵn, tháo gỡ mâu thuẫn và các tình huống đặt ra trong bài toán để cuối cùng đưa
bài toán về dạng cơ bản, điển hình. Ở mỗi bài lại có các bước phân tích, tìm tòi
lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phải có khả năng phân tích, suy
luận, xử lí linh hoạt, chính xác các dữ kiện, tình huống bài toán đưa ra. Do đó,
việc hình thành cho học sinh thói quen giải toán tích cực sẽ giúp học sinh lựa
chọn được lời giải, phép tính giải đúng, không giải toán một cách máy móc, rập
khuôn.
Để thực hiện điều này, tôi đã tiến hành theo 5 bước:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán:
Giáo viên đọc kĩ đề trước lớp; học sinh đọc thầm lại đề bài để nắm được
nội dung, ý nghĩa của bài toán. Từ đó, rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề
toán thì chưa tìm được cách giải.
trên, học sinh sẽ suy luận, tính toán để tìm ra con đường đi từ những điều đã cho
đến đáp số của bài toán.
Lưu ý: Việc giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách giải cho các bài toán
là vô cùng quan trọng. Vì nó không chỉ dạy học sinh nắm phương pháp giải, giúp
học sinh tích cực tìm tòi, khám phá ra cách giải cho các bài toán, mà mục đích
quan trọng nhất là dạy học sinh cách học. Cho nên cần phải xác định giáo viên
chỉ là người tổ chức hướng dẫn, định hướng, gợi mở cho học sinh chứ tuyệt đối
không được làm thay học sinh.
Bước 4: Học sinh viết bài giải:
Học sinh có thể trình bày từng phép tính riêng biệt hoặc trình bày dưới
dạng biểu thức gồm vài phép tính.
Bước 5: Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả:
Khi giải xong, học sinh cần thử lại xem đáp số tìm được có phù hợp với
điều kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp, nên thử xem có cách giải
khác gọn hơn, hay hơn không? Việc làm này sẽ giúp rèn cho học sinh tính cẩn
thận, chu đáo, ý thức trách nhiệm trong công việc và phát huy được khả năng tư
duy, sáng tạo của các em.
3.4. Nhận dạng bài toán và vận dụng cách giải tương ứng:
Sau mỗi bài học, tôi đều củng cố bài bằng cách hướng dẫn các em sắp xếp
các bài toán có cách giải tương tự nhau vào cùng một nhóm để các em dễ dàng
thống kê và ôn tập.
Phần giải toán chuyển động đều trong chương trình lớp 5 hiện nay có
những dạng bài chủ yếu sau:
- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?
- Muốn tìm yếu tố đó ta làm thế nào?
- Đơn vị của yếu tố cần tìm là gì?
Ví dụ: Một ca nô đi với vận tốc 15,2 km/giờ. Tính quãng đường đi được
của ca nô trong 3 giờ. (Bài tập 1/141 SGK Toán 5)
HS dễ dàng tìm được quãng đường bằng phép tính: 15,2 x 3 = 45,6 (km)
Ví dụ: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12,6 km/giờ. Tính
quãng đường đi được của người đó. (Bài tập 2/141 SGK Toán 5)
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề toán:
s = ?km
t = 15 phút
v = 12,6 km/giờ
- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?
- Muốn tính quãng đường đi được của người đó ta làm thế nào?
- Nhìn vào đơn vị vận tốc, theo em, quãng đường và thời gian phải đo
bằng đơn vị gì?
- Trước khi tính quãng đường ta phải làm gì?
Từ những định hướng đó, giúp hình thành cho học sinh kĩ năng giải toán
cần thiết và cần chú ý đến đơn vị của các đại lượng.
* Tìm đại lượng thời gian cũng có thể tiến hành tương tự.
Mức độ 2: Tìm một đại lượng có liên quan trước khi thực hiện
theo yêu cầu đề bài (Giải bài toán hợp có 2 bước tính):
Ở dạng này, đề bài thường cho thời điểm khởi hành, thời điểm đến, vận tốc
(hoặc quãng đường) và yêu cầu tính quãng đường (hoặc vận tốc), học sinh chỉ
cần thực hiện theo 2 bước:
Thời gian ô tô đi từ A đến B là:
12 giờ 15 phút - 7 giờ 30 phút = 4 giờ 45 phút = 4,75 giờ
Độ dài quãng đường AB là:
46 x 4,75 = 218,5 (km)
Đáp số: 218,5km
b) DẠNG 2: Hai chuyển động ngược chiều gặp nhau, khởi hành cùng
lúc:
Ví dụ: Quãng đường AB dài 180km. Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc
54km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ. Hỏi kể từ
lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy? (Bài tập 1(a)/144 SGK Toán 5)
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:
t gặp nhau = ?giờ
A
180km
v ô tô = 54 km/giờ
B
v xe máy = 36 km/giờ
* Học sinh quan sát sơ đồ và trả lời câu hỏi:
+ Khoảng cách ban đầu giữa 2 xe khi chúng xuất phát cùng lúc là bao
nhiêu km? (180km)
+ Ôtô đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ A đến B, với
vận tốc 54km/giờ)
+ Xe máy đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ B đến A,
với vận tốc 36km/giờ)
+ Trên quãng đường AB có mấy xe cùng chuyển động và chuyển động như
48km
v xe máy = 36 km/giờ
B
C
v xe đạp = 12 km/giờ
* Học sinh nhìn vào sơ đồ và tìm cách giải:
- Khoảng cách ban đầu giữa hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc là bao
nhiêu km? (48km)
- Người đi xe đạp đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ B
đến C, vận tốc là 12 km/giờ)
- Người đi xe máy đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ
A đến C, vận tốc là 36 km/giờ).
- Trên quãng đường AC có mấy xe cùng chuyển động và chuyển động như
thế nào? (có 2 xe xuất phát cùng lúc, cùng chiều).
- Vận tốc của người đi xe đạp là 12 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung
bình mỗi giờ người đi xe đạp đi được 12km).
- Vận tốc của người đi xe máy là 36 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung
bình mỗi giờ người đi xe máy đi được 36km).
- Sau mỗi giờ, xe máy gần xe đạp bao nhiêu km? (36 – 12 = 24 (km))
- Tìm thời gian đi để xe máy đuổi kịp xe đạp, ta làm thế nào? (48 : 24 = 2
(giờ))
- Học sinh trình bày bài giải và kiểm tra đáp số.
Tóm lại: Sau khi hướng dẫn ví dụ mẫu trong SGK (bài tập 1(a)/144
– dạng 2; bài tập 1(a)/145 – dạng 3), tôi đã hướng dẫn học sinh rút ra các bước để
v2 − v1
d) DẠNG 4: Hai chuyển động cùng chiều, đuổi kịp nhau, lệch thời điểm
xuất phát:
Đây thực ra cũng là một dạng “biến thể” của dạng 3 (hai chuyển động cùng
chiều đuổi kịp nhau, khởi hành cùng lúc). Nếu học sinh nắm được cách giải của
các dạng bài cơ bản ở trên và có khả năng tư duy, suy luận tốt sẽ thì sẽ dễ dàng
giải được dạng toán này.
Ví dụ 1: Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ. Sau 3 giờ,
một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ. Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi,
sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp? (Bài tập 1(b)/146 SGK Toán 5)
* Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán:
v xe đạp = 12 km/giờ
t đuổi kịp =
v xe đạp = 12 km/giờ
t = 3 giờ
A
B
v xe máy = 36 km/giờ
C
t đuổi kịp = ? giờ
+ Học sinh nhìn vào sơ đồ và dễ dàng xác định đây là bài toán dạng 3 (hai
chuyển động cùng chiều, khởi hành cùng lúc).
t2 = 7 giờ 30 phút
B
A
v ô tô = 60 km/giờ
C
t2 = 7 giờ 30 phút
t đuổi kịp = ? giờ
+ Nhìn vào sơ đồ, học sinh cũng sẽ xác định được đây là bài toán có dạng
giống dạng 3.
+ Nếu tìm các điều kiện để giải bài toán dạng này thì cũng thấy còn thiếu
khoảng cách ban đầu của hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc. Khoảng cách đó
chính là độ dài quãng đường AC do xe máy đi được trong khoảng thời gian từ 7
giờ đến 7 giờ 30 phút.
+ Từ định hướng đó, học sinh lớp tôi đã giải được bài toán này khá tốt như
sau:
Thời gian xe máy đi từ A đến C là:
7 giờ 30 phút – 7 giờ = 30 phút = 0,5 giờ
Khoảng cách ban đầu của hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc là:
40 x 0,5 = 20 (km)
Hiệu vận tốc của hai xe là:
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Trang 12
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
* Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán:
t = 1 giờ 15 phút
s = ?km
A
B
v dòng nước = 2,2 km/giờ
v thuyền máy = 22,6 km/giờ
* Dựa vào tóm tắt, học tìm cách giải:
- Đề bài yêu cầu tính gì? (Độ dài quãng sông AB)
- Muốn tính độ dài quãng sông AB ta phải biết gì? (vận tốc thuyền máy khi
xuôi dòng và thời gian thuyền máy đi từ bến A đến bến B)
- Vận tốc thuyền máy khi xuôi dòng biết chưa? (Chưa)
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Trang 13
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016
- Dựa vào lưu ý: “Nếu vật chuyển động xuôi dòng thì có thêm vận tốc của
dòng nước”. Muốn tìm vận tốc thuyền máy khi xuôi dòng nước ta làm thế nào?
(ta lấy: 22,6 + 2,2 = 24,8 (km/giờ)
- Thời gian thuyền máy đi từ bến A đến bến B biết chưa? (1 giờ 15 phút)
tăng dần yêu cầu về kĩ năng vận dụng.
Việc kiểm tra bài làm của học sinh được tôi thực hiện đều đặn trong các tiết
dạy (dù quỹ thời gian cho một tiết dạy có hạn). Bởi vì theo tôi, việc làm này sẽ
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Trang 14
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016
giúp giáo viên nắm được mức độ tiếp thu bài, mức độ vận dụng của các em để kịp
thời điều chỉnh phương pháp dạy - học, giúp các em dễ hiểu bài hơn. Nếu những
bài tập tôi giao vẫn còn có nhiều học sinh làm sai sót thì tôi sẽ sửa bài, hướng dẫn
lại để học sinh nắm và vận dụng được ở những bài học sau.
* Việc ghi lời nhận xét (theo Thông tư 30 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) vào
bài làm của học sinh thật cẩn thận, cụ thể, những lời khen ngợi, động viên, khích
lệ tinh thần kịp thời cũng là cách giúp học sinh tự tin, tự hào, trân trọng bài làm
đúng của mình, giúp những em làm sai không cảm thấy mất tự tin, mặc cảm và
bản thân tự rút kinh nghiệm trong những bài giải sau, cũng như giúp phụ huynh
đánh giá đúng thực chất năng lực học tập của con em mình ở lớp. Qua đó, phụ
huynh sẽ có biện pháp phối hợp với giáo viên nhằm giúp các em đạt được kết quả
tốt nhất khi học giải toán chuyển động đều.
* Bên cạnh đánh giá của thầy đối với trò, giáo viên cũng cần hướng dẫn,
khuyến khích học sinh tham gia đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn
một cách khách quan, trung thực.
3.6. Trò chơi học tập:
Năm học: 2015 - 2016
Trong thời gian một bài hát, đội nào có nhiều đôi bạn kết hợp đúng sẽ là đội chiến
thắng. Những ai chưa tìm được người bạn phù hợp với mình sẽ phải thực hiện
theo một “yêu cầu nho nhỏ” của lớp đặt ra.
- “Ai nhanh, ai đúng?”, “Tiếp sức”, “Truyền điện”, …
* Ngoài ra, trong năm học này, tôi đã tổ chức thêm một số hình thức trò
chơi mới lạ để thu hút học sinh hứng thú tham gia vào ngay trong từng hoạt động
học tập. Đó là:
a)
“Tôi là ai?”: Học sinh cũng chơi theo đội. Một học sinh được chọn
của một đội sẽ đọc bất kì một công thức, quy tắc tính hoặc mối quan hệ giữa hai
đại lượng bất kì, chẳng hạn như: “Muốn tìm tôi, bạn phải lấy quãng đường chia
cho vận tốc. Đố bạn biết, tôi là ai?” thì một học sinh được chỉ định của đội bạn
phải trả lời là:”Bạn là thời gian đi.”. Nếu đội bạn trả lời đúng thì được ghi nhận
bằng 1 bông hoa, nếu sai mà đội nhà trả lời được thì bông hoa đó dành cho đội
nhà.
b) Đố vui toán học bằng truyện: Tôi đã thay những động tử của các bài
toán trong SGK bằng những con vật dễ thương như bác Kiến, chú Ong, cô Bướm,
bác Rùa đi dự tiệc bằng ô tô, … đặt trong những tình huống truyện cực kì dễ
thương và ngộ nghĩnh kèm những số liệu đơn giản (học sinh có thể nhẩm tính
được). Mục đích là để rèn cho học sinh khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén, kĩ
năng suy luận, tính toán nhanh khi giải các dạng bài về chuyển động đều.
c) “Đuổi hình bắt chữ”: HS dựa vào nội dung bức tranh để đoán ra đó là
đại lượng gì và nêu quy tắc tìm đại lượng đó. Hoặc dựa vào tình huống trong
tranh (thực ra đó là một dạng tóm tắt bài toán bằng tranh cho sinh động), học sinh
sẽ suy luận, nhẩm tính và thông báo ẩn số của bài toán. Đây là hình thức mà học
sinh lớp tôi hứng thú tham gia nhiều nhất.
Song song đó, tôi cũng luôn tạo điều kiện, động viên và khuyến khích
những học sinh tiếp thu bài chậm, kĩ năng nhẩm tính, giải toán còn hạn chế tham
Tổng số
Giữa HKII
15
Ôn tập
25
cuối năm
Kiểm tra
35
CHKII
Đúng nhưng còn
sai sót
Chỉ đúng được
gần 50%
Đúng dưới 50%
hoặc
sai hoàn toàn
Tổng số
Tỉ lệ
00
00%
Tỉ lệ
39,5%
Tổng số
11
2,6%
00
00%
5. PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA CÁC GIẢI PHÁP TRÊN:
Một lần nữa, tôi đã khẳng định được rằng những giải pháp mà tôi đã áp
dụng ở trên thực sự có tính hiệu quả và khả thi cao. Dù biết rằng, trong cuộc
sống, không có gì là hoàn hảo hết. Và những giải pháp tôi đã áp dụng trên đây
chắc chắn cũng chưa phải là giải pháp hay nhất và tốt nhất. Bởi vì để có kết quả
giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên không chỉ yêu nghề, yêu trẻ, nhiệt tình mà
còn phải có một phương pháp giảng dạy tốt. Có một phương pháp giảng dạy tốt là
một quá trình tìm tòi, học hỏi và tích lũy kiến thức, kinh nhiệm của riêng bản thân
mỗi người. Nhưng sau khi áp dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy học sinh lớp
tôi học tốt hơn hẳn mảng giải toán chuyển động đều so với những năm học trước
mặc dù kĩ năng tính và giải toán của các em ở đầu năm học thì thua xa những
năm học trước.
Với những kết quả đã đạt được, tôi tin rằng, nếu mạnh dạn áp dụng thì các
giải pháp trên hoàn toàn có thể áp dụng được cho tất cả các lớp 5 ở bất kì trường
Tiểu học nào khi giáo viên giảng dạy về phần giải toán chuyển động đều. Điều
quan trọng là giáo viên phải có sự tìm tòi, ham học hỏi, phải sáng tạo, linh hoạt,
khéo léo trong việc vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp và hình thức tổ chức
dạy - học khác nhau. Giáo viên cũng cần phải xác định rõ: mình chỉ là người
hướng dẫn, đưa ra phương pháp giúp học sinh học tập còn học sinh phải là
người hoạt động tích cực tìm tòi và lĩnh hội tri thức để biến nó thành vốn quý của
bản thân. Muốn được như vậy, cần phải có sự kiên trì của cả hai phía giáo viên và
học sinh trong suốt quá trình học tập của các em.
Mặt khác, giáo viên cũng cần trang bị cho học sinh một cách có hệ thống
tư duy độc lập, suy luận logic để tìm ra “ẩn số” của bài toán bằng những câu hỏi
gợi mở phải được tiến hành đồng bộ, thường xuyên ngay từ khi học sinh bắt đầu
làm quen, bắt đầu học về giải toán có lời văn, nhất là học những dạng giải toán cơ
bản ở các lớp dưới. Và một điều quan trọng là phải biết khơi gợi trong các em sự
tò mò, hứng thú học tập, không nản chí trước những khó khăn trước mắt.
Ban giám hiệu nhà trường, tổ khối chuyên môn nên có những buổi sinh
hoạt chuyên đề về cách giải những dạng toán điển hình để giáo viên có điều kiện
được học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Qua đó sẽ góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả của việc giảng dạy môn Toán trong nhà trường Tiểu học.
Đồng thời, nhà trường và gia đình cần chuẩn bị tốt những phương tiện hỗ
trợ để các em có được sự thoải mái khi học tập.
Vì thời gian có hạn và năng lực nhận thức còn hạn chế nên khó tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi cũng rất mong nhận được những đóng góp chân thành của
anh chị em đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để những giải pháp của tôi được
hoàn thiện hơn, giúp học sinh lớp tôi học tốt hơn mảng kiến thức này trong
những năm học tiếp theo.
Thủ trưởng đơn vị xác nhận, đề nghị
(ký, đóng dấu)
Người viết: Võ Thị Phương Diễm
Người viết
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 18
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG