TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------

NGUYỄN HẢI TUYẾN

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI DÂN CƯ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC HIỂN


2

Điện Biên, năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; các kết quả nghiên
cứu của luận văn là quan điểm riêng của học viên và không sao chép.

Tác giả Luận văn

Nguyễn Hải Tuyến


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn

TGTK: Tiền gửi tiết kiệm
CKH: Có kì hạn
KKH: Không kì hạn
Vietinbank Điện Biên: Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Điện Biên
Agribank Điện Biên: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh
Điện Biên
QHKH: Quan hệ khách hàng
TCKT: Tổ chức kinh tế
GTCG: Giấy tờ có giá
TCTD: Tổ chức tín dụng


DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
1. Danh mục bảng:

2. Danh mục biểu đồ:



10

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong xã hội hiện đại ngày nay, một trong những vấn đề mà các ngân hàng
quan tâm là làm thế nào để mọi người dân biết đến Ngân hàng và sử dụng các dịch
vụ của ngân hàng cung cấp để phục vụ chính cuộc sống của họ và cũng để góp phần
phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước
Tiềm năng vốn tiền gửi dân cư còn rất lớn, song chưa được khai thác nhiều
do người dân còn phần nào thiếu niềm tin ở ngân hàng, chưa thực sự am hiểu về


-

Làm rõ thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi dân cư tại chi nhánh ngân hàng
TMCP Đầu tư và phát triển tỉnh Điện Biên

-

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi dân cư tại chi
nhánh ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển tỉnh Điện Biên
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn huy động vốn tiền gửi dân
cư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Điện Biên

-

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn tiền gửi của nhóm khách hàng dân cư
tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Điện Biên
3. Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ nền tảng cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tiền gửi của
các ngân hàng thương mại, vai trò của hoạt động huy động vốn đối với sự phát triển
kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu hoạt động huy động vón tiền gửi dân cư tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Điện Biên
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

-

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
TIỀN GỬI DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1

Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng thương mại.
1.1.1

Khái niệm NHTM

Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm nghìn
năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống
NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế
hàng hoá, ngược lại nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất
là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành
những định chế không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo
lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch
lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Cho đến thời điểm hiện nay có rất
nhiều khái niệm về NHTM
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp theo Đạo luật ngân hàng năm 1941 cũng đã định nghĩa: NHTM là
những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Ở Việt Nam, định nghĩa NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.


Thứ ba: NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền
tệ của Quốc gia.


15

Phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
chỉ được thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực của các NHTM, từ việc
chấp hành qui chế dự trữ bắt buộc, qui chế thanh toán không dùng tiền mặt, đến việc
nâng cao hiệu quả đầu tư. NHTM góp phần ổn định giá cả khi có hiện tượng lạm
phát xảy ra. Để kiềm chế lạm phát ngân hàng sẽ ngừng phát hành tiền vào lưu thông
và tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm. Biện pháp này đã thu hút được
một lượng tiền mặt khá lớn từ lưu thông vào ngân hàng.
Thứ tư: NHTM là cầu nối tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Trong
xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như hiện nay thì vai trò của ngân hàng ngày càng
quan trọng hơn. Áp lực cạnh tranh buộc các quốc gia khi mở cửa phải có tiềm lực
lớn về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính. Thông qua các loại hình dịch vụ
như thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ thác đầu tư … đã giúp cho
luồng vốn vào, ra một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài
chính quốc tế. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập
kinh tế ở mỗi quốc gia trên thế giới.
1.1.3

Hoạt động huy động vốn của NHTM
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các
trung gian tài chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm
chung là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại đóng góp khối lượng tài sản
và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố
lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là
vốn. Huy động vốn của NHTM là hoạt động trong đó các NHTM thông qua các

tín dụng nước ngoài

-

Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
Như vậy, vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động
được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực
hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác… Vốn
huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương
mại, nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân
hàng:

-

Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Khác với các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt động của ngân hàng có
những đặc trưng riêng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là
đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc
biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị
trường vốn dài hạn). Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được mã hoá bằng


17

công thức T-T’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau
một quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh: T’>T. Từ công thức này, có
thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong
cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định
thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quá trình

1.2.1

Khái niệm


18

Khách hàng là cá nhân luôn chiếm phần lớn đại đa số trong đối tượng hoạt
động của ngân hàng. Chính vì lẽ đó các hoạt động dịch vụ của ngân hàng đối với
đối tượng khách hàng này là rất đa dạng và đặc biệt đối với hoạt động huy động
vốn. Do mục đích gửi tiền chủ yếu ở đối tượng này là tiết kiệm, bảo quản, đem lại
khả năng sinh lời cho mình, đối tượng khách hàng cá nhân đã đem lại một lượng
vốn huy động đáng kể cho NHTM với số tiền nhãn rỗi của mình. Cùng với đó
lượng vốn huy động được thường rất ổn định góp phần làm cho ngân hàng thương
mại có thể dễ dàng hơn trong việc sử dụng lượng vốn này, nhằm thực hiện các hoạt
động đầu tư của bản thân ngân hàng một cách hiệu quả nhất.
1.2.2

Đặc điểm và vai trò huy động vốn tiền gửi dân cư của NHTM

Quy mô tiền gửi của dân cư lớn: đặc điểm này là do bản chất của những khoản
huy động từ dân cư chính là những khoản nhàn rồi tạm thời trong xã hội và được
người dân tích trữ lại như một khoản tiết kiệm để phục vụ cho nhu cầu sử dụng
trong tương lai. Vì dân cư là đối tượng đông nhất trong nền kinh tế nên về tổng thể
thì tập trung nguồn vốn này sẽ tạo ra một nguồn vốn có quy mô lớn cho NHTM, đối
với ngân hàng thì đó là những nguồn mà ngân hàng tổ chức huy động từ dân cư để
được tái đầu tư sinh lời thông qua ngân hàng cho nên chi phí của vốn của huy động
từ dân cư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động chung của tổng nguồn huy
động và là một trong những chỉ tiêu quan trọng để NHTM xác địch lãi suất cho vay.
Tiền gửi dân cư lại là nguồn ổn định nhất: là cơ sở để các NHTM quy định tỷ

nhau.Trong nguồn vốn ngân hàng huy động được thì nguồn vốn huy động bằng
VNĐ chiếm tỷ trọng cao, đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn của ngân hàng.
- Vốn huy động bằng ngoại tệ: Ngoài huy động vốn bằng VNĐ thì các
NHTM cũng tiến hành huy động vốn bằng đồng ngoại tệ. Số vốn huy động bằng
đồng ngoại tệ quy ra VNĐ cũng chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Mục đích của việc huy động vốn bằng đồng ngoại tệ của ngân hàng là
nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế và các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của
khách hàng cũng như ngân hàng.
Vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng thương mại thường chỉ là USD
hoặc EUR.


20

1.2.3.2. Phương thức huy động vốn tiền gửi dân cư
* Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp
ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi mà họ có yêu cầu. Nhìn chung lãi suất
của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng
những dịch vụ của ngân hàng với mức chi phí thấp.
* Tiền gửi không kỳ hạn:
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ ba
bằng cách phát hành séc. Tiền gửi không kỳ hạn có chi phí huy động thấp cũng vì
thế nên cũng có tính ổn định thấp.
Đặc điểm quan trọng đối với người gửi là: chuyển nhượng một cách dễ dàng,
mục đích giao dịch là chính, thường được mệnh danh là loại tiền gửi theo yêu cầu
và không vì mục đích kiếm lãi. Số dư của loại tiền này thường phụ thuộc vào từng
thời kỳ và khả năng của ngân hàng trong việc dự đoán về biến động của thị trường
tiền tệ.
* Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm:

thời hạn đã thoả thuận. Tuy nhiên, do yếu tố cạnh tranh nhằm thu hút tiền gửi, một
số NHTM vẫn cho phép khách hàng phép rút tiền trước thời hạn nhưng một phần
tiền lãi đã được khấu trừ.
* Phát hành các giấy tờ có giá:
“Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới
hình thức phát hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi (kỳ phiếu), trái
phiếu,...”. Trong nghiệp vụ này, NHTM chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội
bằng việc phát hành ra các giấy tờ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn trong kinh
doanh. Thông thường, việc phát hành sẽ được thực hiện sau khi đã tiến hành nên
cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Thông thường việc phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo
sáng kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng, phong phú
nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và huy động được vốn cho ngân
hàng thương mại. Để tìm hiểu kỹ hơn cần xem xét hai công cụ cơ bản là: Kỳ phiếu
và Trái phiếu ngân hàng.
-

Kỳ phiếu: Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy nhận nợ do NHTM phát

hành nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt. Căn cứ vào mục đích,
nhu cầu cụ thể mà ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD. Việc
phát hành kỳ phiếu là một nghiệp vụ huy động vốn mang tính hiệu quả cao, hấp dẫn
người mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn hạn khi cần thiết.


22

-

Trái phiếu: Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị

23

1.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu định lượng
Như đã đề cập trong các nội dung trên, ta biết rằng lượng vốn huy động từ
dân cư luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động được của các
NHTM đồng thời lại là một nguồn tiền tương đối ổn định. Do đó, nó được các ngân
hàng sử dụng vào hoạt động cho vay và đầu tư khác để kiếm lời như một nguồn vốn
chính. Như vậy, hoạt động huy động vốn dân cư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên các ngân hàng luôn chú trọng trong
việc kiểm soát lượng vốn huy động từ dân cư. Các ngân hàng cần xác định cụ thể
nhu cầu huy động vốn từ dân cư và các kế hoạch thực hiện rõ ràng, chi tiết. Nếu
lượng vốn quá ít sẽ buộc các ngân hàng phải huy động thêm từ các nguồn khác với
chi phí cao hơn mà tính ổn định chưa chắc đã được đảm bảo. Ngược lại, nếu như
lượng vốn huy động quá lớn khiến các ngân hàng không có khả năng cho vay hết,
khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi đầy đủ cho khách hàng trong khi không có nguồn
thu lãi. Do vậy, nếu ngân hàng không xác định được quy mô vốn huy động dự kiến
sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Khi xác định được quy mô huy động cụ thể, các NHTM sẽ dễ dàng hơn
trong việc xây dựng và triển khai các chương trình, sản phẩm huy động vốn cụ
thể. Hiệu quả huy động vốn từ dân cư lúc này sẽ đánh giá qua các chỉ tiêu:
-

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn = lượng vốn huy động thực tế /

lượng vốn huy động dự kiến * lượng vốn huy động thực tế 100%
Nếu tỷ số này >1: tức là trên thực tế ngân hàng đã huy động vượt quá mức
dự kiến ban đầu. Và khi ngân hàng không cho vay hết lượng vốn đó sẽ làm giảm
hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, do khoản tiền chênh lệch này làm gia tăng
chi phí huy động vì ngân hàng vẫn phải trả lãi cho khách hàng trong khi đó

-

Tỷ lệ Chi phí huy động / Quy mô vốn huy động: Do chi phí huy động lại bao gồm
chi phí trả lãi và các chi phí phi lãi nên ta có thể chia chỉ tiêu này thành hai chỉ tiêu
sau:
+ Chi phí trả lãi / Quy mô huy động: Chỉ tiêu này cho biết trung bình ngân
hàng phải trả một khoản lãi bao nhiêu cho khách hàng để huy động được một
đồng vốn.


25

+ Chi phí phi lãi/Quy mô vốn huy động: Chỉ tiêu này cho biết để huy động
được một đồng vốn, ngân hàng phải trả bao nhiêu cho các hoạt động quản lý, quảng
cáo, marketing…
Hoạt động huy động vốn được coi là có hiệu quả khi chỉ tiêu Chi phí huy
động/ quy mô vốn huy động ở mức thấp nhất có thể. Muốn vậy ngân hàng cần xác
định mức lãi suất hợp lý, không quá cao để làm tăng chi phí nhưng cũng không quá
thấp để hấp dẫn khách hàng và đảm bảo khả năng cạnh tranh, đồng thời ngân hàng
phải tối thiểu hóa các chi phí lãi khác.

1.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu định tính
-

Tính ổn định của nguồn vốn huy động từ dân cư: Ngoài những chỉ tiêu định lượng
trên, hoạt động huy động vốn từ dân cư còn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu
mang tính chất định tính. Đó là sự ổn định của nguồn vốn huy động được thể hiện ở
chỗ quy mô vốn huy động không có sự thay đổi đột ngột trong những khoảng thời
gian ngắn. Khi huy động nguồn vốn từ dân cư, ngân hàng có thể dự tính được thời
gian có thể sự dụng được khoản vốn đó cho các hoạt động kinh doanh của mình. Vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status