Báo cáo công tác chỉ đạo thực hiện chương trình tiếng việt 1 công nghệ giáo dục - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THỊ XÃ QUẢNG YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH THÀNH

BÁO CÁO CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 1- CÔNG NGHỆ
GIÁO DỤC

Người thực hiện: Vũ Thị Bích Nguyệt


Kính thưa quý vị đại biểu!
Thưa các thầy, cô giáo!
Được sự phân công của Ban giám hiệu, Tôi xin phép
được trình bày báo cáo Công tác chỉ đạo thực hiện chương
trình công nghệ giáo dục tiếng Việt lớp 1 năm học 2015 2016 của trường tiểu học Minh Thành với 3 nội dung:
1, Nhận thức của cán bộ quán lý và giáo viên về chương
trình TV1 công nghệ giáo dục.
2, Công tác chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình Việt
1- CGD.
3, Một số kết quả thu được sau gần 2 tháng thực hiện.


Phần thứ nhất
NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ GIÁO VIÊN VỀ
VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 - CÔNG
NGHỆ GIÁO DỤC.

Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
diễn ra một cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng như về
thực tiễn. Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào
tạo được nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung

hoạt động ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và năng lực sử dụng Tiếng
Việt đồng thời hình thành phát triển những phẩm chất khác như tính
chính xác, tính cẩn thận, chủ động, độc lập, tự tin và sáng tạo.
2. Đặc điểm của tài liệu Tiếng Việt 1- CGD là hệ thống cấu
trúc ngữ âm được tường minh hóa, cụ thể hóa giúp các em củng cố
năng lực hoạt động ngôn ngữ và biết chú ý tới vấn đề tự học thông
qua tự luyện tập, chú trọng cách viết chính tả bằng cách đưa ra các
luật chính tả, giúp học sinh phân biệt các hiện tượng chính tả thông
qua từ và các cụm từ.
3. Bản chất của Công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát
quá trình dạy học bằng một quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải
pháp nghiệp vụ sư phạm, để HS lớp 1 chiếm lĩnh được ngữ âm ngay
từ đầu, biết cách phân tích ngữ âm, đọc thông viết thạo, nắm chắc
các quy tắc chính tả, không tái mù chữ


4. Học Tiếng Việt 1 - CGD học sinh có cảm giác học mà chơi,
chơi mà học, tự tin, mạnh dạn khi tham gia các hoạt động học tập.
Với giáo viên kiến thức và năng lực của giáo viên được nâng lên
rõ rệt qua quá trình dạy học, giáo viên nắm được phương pháp và
dạy học theo hướng tích cực, giờ học nhẹ nhàng, dễ thực hiện.
- Vì sao trường tiểu học Minh Thành lại lựa chọn tham
gia chương trình công nghệ giáo dục? (có 2 lý do)
Lí do thứ nhất: Nói như giáo sư tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại:
“Học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy”. Sự vững chắc nhờ hai yếu
tố:
- Giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường
xuyên, nhắc lại khi có cơ hội.
- Chương trình phù hợp với mọi đối tượng dù là học sinh
người Kinh hay người dân tộc thiểu số, học sinh ở vùng thuận lợi

lứa tuổi, cách thức tổ chức thực hiện lên lớp đối với HS.
Trên đây là những nhận thức và hiểu biết ban đầu của cán
bộ quản lý và giáo viên cũng như phụ huynh học sinh của
trường chúng tôi về chương trình công nghệ giáo dục này.
Chúng tôi tuyên truyền qua các buổi họp, buổi sinh hoạt, qua
trang Web của nhà trường. Đến nay BGH, GV, PH đều nhất
trí, đồng sức động lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi chương
trình học công nghệ tiếng Việt lớp 1 và nhiệm vụ năm học
mới.


Phần thứ 2
II. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN.
1, Đặc điểm tình hình nhà trường.
Năm học 2015 – 2016, Trường Tiểu học Minh Thành có
31 lớp với tổng số 832 học sinh. Trong đó lớp 1 có 7 lớp với 187
học sinh. Trường có 4 điểm trường, có 27/31 = 87,1 % lớp học 2
buổi/ngày. Tổng số có 56 CB-GV-NV, trong đó có 48 giáo viên.
GV trình độ đạt chuẩn 100%, trình độ trên chuẩn 43/48 = 89,6%.
Cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng được bổ sung và hiện
đại các trang thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lí và
dạy học. Sự nghiệp giáo dục của nhà trường không ngừng phát
triển về quy mô trường lớp và chất lượng giáo dục, được các cấp
quản lí giáo dục đánh giá cao qua công tác thi đua khen thưởng
hàng năm.


Phần thứ 2
II. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
2, Thuận lợi và khó khăn



b, Khó khăn
Ban giám hiệu và giáo viên khối 1 rất lo lắng vì đây là
năm đầu tiên thực hiện chương trình công nghệ giáo dục TV1.
Chương trình mới so với chương trình hiện hành có sự
khác biệt (nếu giáo viên dạy lớp 1 theo chương trình hiện hành
thực hiện sẽ bị lẫn giữa âm và con chữ)
Việc dạy tiếng Việt lớp 1 theo công nghệ giáo dục là một
chương trình hoàn toàn mới, giáo viên có thể gặp rất nhiều khó
khăn vì phụ huynh chưa biết được quy trình dạy mới này nên
không thể hỗ trợ giáo viên trong việc hướng dẫn thêm cho học
sinh, nếu phụ huynh không biết mà lại hướng dẫn cho học sinh
lại càng tăng thêm cái khó cho giáo viên và học sinh. Do vậy, khả
năng nắm bắt bài học của học sinh hoàn toàn phụ thuộc vào giáo
viên. Để thích nghi với cái mới đòi hỏi bản thân giáo viên phải có
nhiều nỗ lực nhằm truyền tải hết những gì chương trình muốn
mang lại cho học sinh.


Một số giáo viên trẻ chưa hiểu nhiều về chương trình công
nghệ. Trong khối 1 hiện có 2 mô hình học tập khác nhau: 2
buổi/ngày và 1 buổi/ngày, để có chất lượng đồng đều là vấn đề mà
từ trước tới nay BGH luôn trăn trở và quan tâm.
2, Triển khai thực hiện
2.1. Chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường.
Ngay từ cuối năm học 2013-2014 Ban giám hiệu nhà
trường đã xây dựng kế hoạch, báo cáo và đã nhận được sự cho
phép cũng như ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương
về việc triển khai dạy học Tiếng Việt lớp 1-CGD cho học sinh lớp

viên các điểm trường. Quan tâm và tạo mọi điều kiện để GV thực
hiện tốt nhiệm vụ trong năm học.
Cuối năm học, Nhà trường tiến hành tổ chức tự đánh giá từ
GV, tổ chuyên môn về ưu điểm, tồn tại, kết quả, các giải pháp, ý
kiến đề xuất. Từ đó rút kinh nghiệm công tác quản lý, chỉ đạo cho
năm học tiếp theo.
.


2.2. Tổ chuyên môn.
Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1 nghiên cứu tài liệu thiết
kế, bàn bạc với GV thống nhất cách dạy từng dạng bài phù
hợp với đặc điểm HS và điều kiện nhà trường. Tập huấn GV
các nội dung: tổ chức các hoạt động trong giờ học, cách dạy
học sinh phát âm chuẩn, sử dụng đồ dùng dạy học, làm thêm
đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện nhà trường.
Các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, luyện giảng, chuyên đề
cấp tổ cho tất cả GV đều được tham gia dạy các tiết ở dạng
bài khác nhau để trao đổi, thảo luận rút kinh nghiệm tập trung
giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện từ đó có đề xuất giải pháp điều chỉnh kịp thời.
Cùng với BGH thăm lớp, dự giờ theo kế hoạch hoặc dự giờ
đột xuất trong tháng để kịp thời hướng dẫn, giúp đỡ cho GV;
kiểm tra đánh giá học sinh theo các mức độ yêu cầu.


2.3. Giáo viên
Tham gia tập huấn, đọc kỹ “Tài liệu tập huấn giáo viên
dạy Tiếng Việt lớp 1.CGD”, đọc kỹ phần “Tổ chức và kiểm
soát tiết học” ở phần đầu của sách “Thiết kế Tiếng Việt lớp

khuyến khích học sinh thực hiện các hoạt động học tập ở các
bài tương tự. Phương pháp của giáo viên luôn nhẹ nhàng, tôn
trọng học sinh, coi trọng thực hành; tổ chức các trò chơi học
tập, múa hát…Tạo tâm lí thoải mái, hứng thú học tập cho học
sinh. Gv tránh chê bai học sinh mà luôn có lời khen, lời động
viên để học sinh phấn khởi học tập tích cực hơn…


Khi giao việc cho học sinh, giáo viên cần nói ngắn gọn,
rõ ý; tăng cường dùng tín hiệu, kí hiệu để tổ chức các hoạt động
trong lớp học thay cho lời hướng dẫn, giải thích. Tránh nói
nhiều, các câu lệnh dài dòng không rõ ý. Đặc biệt, giáo viên
dạy lớp 1 nói riêng cần phát âm chuẩn, giải thích kết luận thật
chuẩn, ngắn gọn, dễ hiểu.
Quy định Giáo viên sử dụng sách thiết kế TV1-CGD
không phải soạn giáo án nhưng xem trước thiết kế và ghi những
nội dung chính về mục tiêu, đồ dùng dạy học, quy trình của
phần bài dạy hôm sau. Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần
ghi nhật kí, rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy; ghi những vấn
đề tâm đắc về phương pháp cũng như nội dung trong tiết dạy và
những vấn đề thắc mắc để BGH, tổ, khối chuyên môn đưa ra
trong các chuyên đề cụm trường để giải quyết và trao đổi học
hỏi kinh nghiệm các trường đã thực hiện và có kinh nghiệm
hoặc xin ý kiến của chuyên viên PGD để được tư vấn, giúp đỡ.


2.3. Công tác chuẩn bị
a, Chuẩn bị cơ sở vật chất.
Bố trí 7 lớp 1 có bàn ghế chuẩn, bảng mới, có đầy đủ
hệ thống điện chiếu sáng, quạt, mành rèm. Có 4 lớp tại điểm

được thiết kế theo nguyên tắc: “thầy giao việc- trò thực hiện”
nên đã hình thành được ở giáo viên phương pháp dạy tích
cực, học sinh học tích cực. Tài liệu thiết kế cho các dạng bài,
các mẫu của từng tiết dạy vì vậy giáo viên không cần phải
soạn bài nên có thời gian cho việc chuẩn bị và nghiên cứu bài
dạy đạt hiệu quả cao hơn. Kiến thức và năng lực của giáo
viên được nâng lên rõ rệt qua quá trình dạy học. Học sinh
cũng đã nắm được cấu trúc tiếng, luật chính tả trong quá trình
vận dụng.
Tài liệu kênh chữ và kênh hình phù hợp, các mạch kiến
thức từ đơn giản đến phức tạp, tài liệu thiết kế có sự điều
chỉnh ngày càng phù hợp sát với thực tế. Nội dung bài đọc
phong phú, thu hút sự chú ý học tập của học sinh.


3.2. Nội dung- chương trình.
1. Bài 1: Tiếng- (Tuần 2)
2. Bài 2: Âm (Từ tuần 2 đến tuần 9- Giữa HK1) Hết Q1
3. Bài 3: Vần (Từ tuần 9 đến tuần 26- Giữa HK1- GHK2)
Quyển 2
4. Bài 4: Nguyên âm đôi (Từ tuần 18 đến tuần 20-) Q2
5. Bài 5: Luật chính tả (được chia đều trong cả 3 quyển)
6. Bài 6: Luyện tập tổng hợp (Từ tuần 26 đến tuần 35) –
Quyển 3


3.3. Quy trình dạy tiếng Việt 1- CGD
Loại 1: Tiết lập mẫu
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm
Việc 2: Viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status