TIỂU LUẬN
Học phần: Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ
trong dạy học Đại học
Chủ đề tiểu luận:
Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ thông tin trong đổi mới phương
pháp dạy học Đại học tại Việt Nam
Huế, 6/2016
Đặt vấn đề
Những thành tựu của khoa học-công nghệ (KH-CN) đang làm thay đổi mạnh
mẽ xã hội loài người, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ
nguyên của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, tác động tới tất cả mọi lĩnh vực,
làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Kho
tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng và phong phú. Trong điều kiện đó,
việc toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu khách quan của các nước
đang phát triển. Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, Internet tạo điều
kiện thuận lợi cho giao lưu, hội nhập văn hóa và cũng là điều kiện thuận lợi cho
việc đổi mới và phát triển giáo dục. Nhà trường từ chỗ hoạt động khép kín chuyển
sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu KH-CN
và ứng dụng; Giáo viên (GV) thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp
cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách tự lực, có phân tích và
tổng hợp.
Trong bối cảnh quốc tế đó, để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đất nước,
nền giáo dục Việt Nam phải thực hiện một sự đổi mới sâu sắc và toàn diện về nội
dung lẫn phương pháp dạy học (PPDH) như tinh thần của nghị quyết TW2 - khóa
VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu: “Đội mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
cả: ”Phương tiện dạy học (còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học) là một vật
thể hoặc một tập hợp các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để
nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật,...
hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết” (Từ điển BK Việt Nam).
Xét theo nghĩa hẹp, giữa ”thiết bị” và ”phương tiện” có điểm giống và khác
nhau, trong đó ”thiết bị” có nội hàm hẹp hơn và thường để chỉ có một phương tiện
kĩ thuật nào đó. Tuy nhiên, trong thực tế người ta thường sử dụng hai thuật ngữ
này với cách hiểu như nhau.
Vai trò của phương tiện trong quá trình dạy học
Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển thì phương tiện dạy học cũng
ngày càng trở thành yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới chất lượng và hiệu
quả của quá trình dạy học. Đặc biệt, trong các môn học thuộc ngành khoa học tự
nhiên thì có những nội dung sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu phương tiện
dạy học.
Trước đây, khi đề cập tới các thành tố của quá trình dạy học thường chỉ chú
trọng tới 3 thành phần là mục đích, nội dung và phương pháp dạy học. Ngày nay,
do sự phát triển về chất, quá trình dạy học được xác định gồm 6 thành tố là: mục
đích (hẹp hơn là mục tiêu), nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức
tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá. Các thành tố này có quan hệ tương tác hai
chiều lẫn nhau (Hình 1.1).
Trong sơ đồ trên, nếu xét về phương diện nhận thức thì phương tiện dạy học
vừa là cái để học sinh “trực quan sinh động”, vừa là phương tiện để giúp quá trình
nhận thức được hiệu quả.
Nghiên cứu về vai trò của phương tiện dạy học, người ta còn dựa trên vai trò
của các giác quan trong quá trình nhận thức và đã chỉ ra rằng:
- Kiến thức thu nhận được qua các giác quan theo tỉ lệ: 1% qua nếm, 1,5%
qua sờ; 3,5% qua ngửi, 11% qua nghe, 83% qua nhìn (Tô Xuân Giáp).
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm người học lĩnh hội đủ nội
dung học tập một cách vững chắc.
- Giảm nhẹ cường độ lao động của giáo viên, do đó nâng cao hiệu quả dạy
học.
Vai trò đối với người học
- Kích thích hứng thú học tập cho người học, tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình lĩnh hội kiến thức của người học.
- Giúp người học tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.
- Là phương tiện giúp người học hình thành và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo
cả thao tác trí tuệ lẫn thao tác vật chất. Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực
tiếp liên quan đến thực tiễn xã hội và môi trường sống.
Đổi mới phương pháp dạy học
Thực trạng
Ở Việt Nam hiện nay, các kiểu PPDH ở ĐH được sử dụng phổ biến gồm:
thông báo-tái hiện, làm mẫu-bắt chước. Mặc dù các kiểu PPDH mới như: giải
thích-tìm kiếm bộ phận, nêu vấn đề-nghiên cứu,… ngày càng được chú ý nhiều
hơn, nhưng hầu hết các trường ĐH và CĐ ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sử dụng
PPDH cũ, vẫn còn theo lối truyền thụ một chiều, “thầy đọc-trò chép”, chưa phát
huy đầy đủ tính tích cực, độc lập của SV và bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tự
nghiên cứu. Các phương pháp thuyết trình, diễn giảng, vẫn là các PPDH chủ yếu.
QTDH vẫn còn mang nặng tính lý thuyết, cách dạy theo kiểu truyền thống là dùng
lời, người học dùng phương pháp nghe và ghi nhớ một cách thụ động. Việc tổ chức
hướng dẫn cho SV tự học, đọc sách, semina, thảo luận,… chưa được chú trọng
đúng mức. Giờ thực hành, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn ít, chưa đặt ra yêu cầu
cao đối với SV trong học tập, trong nghiên cứu khoa học. Phần lớn SV chỉ biết
cách học khi sắp thi tốt nghiệp, nên hiệu quả học tập trong nhà trường là rất thấp,
khả năng tự học, tự phát triển kém, quen với nghe và ghi, không quen với tự đọc và
thường công nghệ cổ điển: Công nghệ phấn - bảng vẫn có chỗ đứng vững chắc của
nó, công nghệ sử dụng overhead là công nghệ rất đa năng, rẻ tiền và hiệu quả cao.
Đa phương tiện là công cụ cực kỳ mạnh mẽ hỗ trợ cho việc dạy học. Mạng
Internet là công cụ để tìm kiếm khai thác thông tin và học tập từ xa.
Những thành tựu của CN thông tin, các ngành khoa học: các phần mềm
chuyên dụng, phần mềm tính toán, các thí nghiệm mô phỏng,…là công cụ quan
trọng phục vụ dạy học.
Nhà giáo phải từng bước tiếp cận, làm chủ môi trường công nghệ thông tin
và truyền thông mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý cho một sự thay đổi
căn bản vai trò của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và đổi mới PPDH.
Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Sơ lược về ứng dụng CNTT trong dạy học
Ngày nay CNTT đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và hiệu quả vào các
lĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong
đó có nhà trường. Để đi đến việc ứng dụng CNTT vào QTDH trước tiên cần tìm
hiểu sơ bộ về CNTT.
Công nghệ được hiểu tổng quát là sự áp dụng của khoa học vào các hoạt
động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội.
Trước xu hướng toàn cầu hóa và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”, đã
dẫn đến mối quan hệ khắng khít không thể tách rời giữa máy vi tính (MVT) với
mạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền thông (tiếng
Anh là Information and Communication Technology viết tắt là ICT). Đây là một
ngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao. Đó là tổng thể các phương
tiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu trúc
thành ba bộ phận:
- Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng cáp, mạng vệ
tinh, mạng di động, mạng phát thanh truyền hình,…
khác nhau trong xã hội. Tuy vậy, tại Việt Nam, tiềm năng to lớn mà công nghệ
thông tin có thể mang lại cho giáo dục chưa được khai thác một cách thoả đáng.
Xét cho quá trình giáo dục, với sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy
học, công nghệ thông tin hoàn toàn có thể trợ giúp cho quá trình dạy học bởi những
lý do dưới đây:
Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ khiến máy
tính trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học, cụ thể là:
Khả năng biểu diễn thông tin: Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng
văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh... Sự tích hợp này của máy tính cho phép mở
rộng khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hoá tài liệu dạy học.
Khả năng giải quyết trong một khối thống nhất các quá trình thông tin, giao
lưu và điều khiển trong dạy học: Dưới góc độ điều khiển học thì quá trình dạy học
là một quá trình điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh. Với một chương
trình phù hợp, máy tính có thể điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh
trong việc cung cấp thông tin, thu nhận thông tin ngược, xử lý thông tin và đưa ra
các giải pháp cần thiết giúp hoạt động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao.
Tính lặp lại trong dạy học: Khác với giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một
thông tin nào đó, cung cấp và lặp lại nó cho học sinh đến mức đạt được mục đích
sư phạm cần thiết. Trên cơ sở này, sự phát triển của từng cá thể học sinh trong quá
trình dạy học trở thành hiện thực. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể
hoá trong quá trình dạy học.
Khả năng mô hình hoá các đối tượng: Đây chính là khả năng lớn nhất của
máy tính. Nó có thể mô hình hoá các đối tượng, xây dựng các phương án khác
nhau, so sánh chúng từ đó tạo ra phương án tối ưu. Thật vậy, có nhiều vấn đề, hiện
tượng không thể truyền tải được bởi các mô hình thông thường, ví như các quá
trình xảy ra trong lò phản ứng hạt nhân, hiện tượng diễn ra trong xilanh của động
cơ đốt trong, từ trường quay trong động cơ không đồng bộ ba pha, chuyển động
của điện tử xung quanh hạt nhân... trong khi đó máy tính hoàn toàn có thể mô
chức hoạt động hay minh hoạ cho nội dung học tập
Bước 4: Chuẩn bị tài nguyên (văn bản; hình ảnh tĩnh, động; mô hình mô
phỏng; âm thanh; phim..) bằng các công cụ phần mềm khác nhau.
Bước 5: Sử dụng MS PowerPoint để tích hợp nội dung trên vào các slide
Bước 6: Qui định cách thức hiển thị thông tin trong mỗi slide
Bước 7: Qui định hình thức chuyển đổi giữa các slide
Bước 8: Viết các thông tin giải thích cho mỗi slide
Bước 9: In các nội dung liên quan tới bài giảng
Bước 10: Trình diễn thử và sửa đổi
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả khi thiết kế và sử dụng bài dạy bằng MSPP, bài giảng cần thỏa mãn yêu cầu chung như:
- Thiết kế bài dạy bằng PowerPoint phải dựa trên lí luận dạy học, đặc biệt là
lí luận dạy học hiện đại. Do vậy, PP chỉ là phần mềm có tính chất hỗ trợ cho giáo
viên thể hiện ý tưởng sư phạm của mình một cách thuận lợi và hiệu quả hơn.
- Cấu trúc bài dạy phải chặt chẽ, lôgic. Thông tin ngắn gọn, cô đọng, được
bố trí và trình bày một cách khoa học phù hợp với tiến trình lên lớp
- Thể hiện đồng bộ và hợp lí các đối tượng đa phương tiện để hỗ trợ các hoạt
động nhận thức.
- Bài dạy cần khuyến khích sự trao đổi giữa giáo viên và học sinh; tăng
cường trao đổi, hợp tác giữa các học sinh; khích lệ tư duy, hoạt động độc lập, sáng
tạo...
- Nội dung bài dạy phải cuốn hút, đảm bảo học sinh tập trung vào nội dung,
lôgic của kiến thức.
- Sử dụng bài dạy đúng kế hoạch, tiến trình với tư thế, cử chỉ, điệu bộ, giọng
nói, ánh mắt của giáo viên hợp lý.
Nhóm các phần mềm đồ hoạ
Các phần mềm đồ hoạ là những phần mềm ứng dụng trong máy tính với
mục đích trợ giúp vẽ, thiết kế, chỉnh sửa và lưu trữ dữ liệu đồ hoạ (dưới dạng số).
nhau.
Là phần mềm xử lí và hiệu chỉnh ảnh rất hiệu
quả.
Nhóm các phần mềm thiết kế hoạt hình
Việc sử dụng các hoạt hình trong bài giảng sẽ làm tăng hiệu quả trình diễn
thông tin, giúp học sinh hình dung rõ hơn đối tượng cần truyền tải. Có rất nhiều
phần mềm khác nhau hỗ trợ thiết kế hoạt hình, một vài trong số đó là:
STT
1
2
Phần mềm
Microsoft Gif Animator
(miễn phí)
GIF Movie Gear
(phần mềm bản quyền)
3
Flash
(phần mềm bản quyền)
4
SolidWorks
(phần mềm bản quyền)
Mô tả tóm tắt
con người sẽ được học tập một cách thoải mái, không bị bó buộc như cách học
truyền thồng hiện nay, chúng ta có thể học mọi lúc, mọi nơi, có thể ở nhà, ở công
sở học lúc nào tùy thích. Như vậy e-learning đem giáo dục đến với con người, chứ
không phải con người đến với giáo dục.
Tuy nhiên bất cứ hình thức đào tạo nào đó đều có những thuận lợi, hạn chế
riêng và e-learning cũng không ngoại lệ. Nhưng bằng sự chuẩn bị chu đáo, người
học và cơ sở đào tạo có thể khắc phục được những hạn chế của e-learning. Nếu
chuẩn bị không tốt và việc tổ chức đào tạo bằng e-learning của cơ sở đào tạo chưa
được kĩ càng thì người học sẽ không thấy được những thuận lợi của khoá học này.
HẠ TẦNG THÔNG TIN (NỘI DUNG ĐÀO TẠO)
Nội dung đào tạo
Courseware
HẠ TẦNG PHẦN MỀM
Hệ thống quản lí học tập
(LMS)
Hệ thống xây dựng nội dung bài
giảng (CAS)
HẠ TẦNG TRUYỀN THÔNG VÀ MẠNG
Chỉ dẫn
Mạng Internet
Hệ thống cung cấp dịch vụ bảo mật và xác thực
Mạng LAN
Mạng PSTN/ISDN