LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến thầy TS. Đào
Duy Thanh trong quá trình học tập và tìm hiểu môn Triết học. Em đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ hướng dẫn rất tận tình của thầy trong quá trình học
tập cũng như tích lũy cho mình những kiến thức để có cái nhìn sâu sắc và
hoàn thiện hơn về những điều trong cuộc sống. Những kiến thức mà thầy
truyền đạt, em dần trả lời những câu hỏi trong cuộc sống thông qua những tư
tưởng Triết học Phật giáo, Mac - Lenin. Thông qua bài tiểu luận này, em xin
trình bày lại những gì mà mình tìm hiểu về vấn đề nhân sinh quan trong một
số điều răn của Phật để gửi đến thầy.
Có lẽ kiến thức là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân mỗi
người luôn tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, trong quá trình hoàn
thành bài tiểu luận chắc chắn em không thể tránh khỏi thiếu sót. Bản thân em
rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý của thầy để hoàn thiện
hơn.
Kính chúc thầy sức khỏe, vui vẻ và hạnh phúc trong cuộc sống.
Trân trọng,
Tp Hồ Chí Minh, 11-11-2013
1
MỤC LỤC
PHẦN I - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
I.1
DẪN NHẬP
Cuộc đời mỗi con người như dòng sông trôi mãi mà không thể tìm lại những
Phân tích dựa trên 14 điều Phật dạy từ các tài liệu khác nhau như dựa trên các giáo
trình Triết học, các trang web Phật giáo cung cấp những nội dung về Tứ diệu đế và
14 điều Phật dạy cùng những trải nghiệm, những quan sát về cuộc sống con người
của bản thân và những người xung quanh qua những hành vi và những nhân quả qua
thời gian.
I.2
GIỚI THIỆU
Dựa trên cơ sở lý thuyết Tứ diệu đế của Phật Giáo làm nền tảng cho triển khai nội
dung qua quá trình phân tích trong bài tiểu luận, em đã thấy được những giá trị
quý giá của 14 điều răn Phật dạy. Những điều răn này giúp con người có cái nhìn
rộng hơn về cuộc sống này để điều chỉnh những hành vi của bản thân vượt qua
những khó khăn, thử thách của cuộc sống, sống thật với lòng mình và những
người xung quanh đồng thời tu dưỡng đạo đức, bồi bổ tích lũy tri thức cho bản
thân. 14 điều Phật dạy là hành trang cần thiết cho mỗi con người luôn phải mang
theo bên mình trong cuộc đời này để giúp chúng ta hướng đến những điều tốt đẹp
và hãy làm cho đời này đẹp hơn thế nữa. Về nội dung trình bày trong bài tiểu luận
em phân tích thành những đề mục sau:
• PHẦN I - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN. Trong phần này em trình bày mục
tiêu và lý do chọn đề tài cũng như cái nhìn tổng quát nhất về 14 điều răn
của Phật.
• PHẦN 2 - PHÂN TÍCH TƯ TƯỞNG NHÂN SINH QUAN TRONG MỘT
SỐ ĐIỀU RĂNG CỦA PHẬT GIÁO. Trong phần này em trình bày về cơ
sở lý thuyết Nhân sinh quan Phật giáo cùng 14 điều răn của Phật làm nền
tảng phát triển nội dung. Bên cạnh việc phân tích chi tiết 6 điều răn mà em
tâm đắc nhất là phần liên hệ thực tế về bản thân và cuộc sống xung quanh
của các điều răn trên.
3
4
“Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết
học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con
người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải
phóng mình, đạt tới tự do?.... Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh
quan – một nội dung cấu thành thế giới quan triết học2.”
Với mỗi trường phái Triết học khác nhau họ nhìn nhận nhân sinh quan ở các
góc độ, hệ tư tưởng khác nhau như Phật giáo, Nho giáo…Tư tưởng nhân sinh quan
chính là hệ thống các tri thức, lý luận, các khái niệm, nghiên cứu, nhìn nhận của
mỗi trường phái Triết học về vấn đề nhân sinh quan hay là những vấn đề về con
người, vị trí, vai trò của con người trong thế giới. Làm thế nào để đưa con người
vượt qua những đau khổ, khó khăn để đạt đến những cảnh giới của sự giải phóng,
tự do, tự tại…Con người với thế giới hiện thực làm thế nào để có thể dung hòa bản
thân, điều chỉnh hành vi, các mối quan hệ để có một cuộc sống tốt đẹp nhất.
II.1.2
Tư tưởng nhân sinh quan trong Triết học Phật giáo
Tư tưởng nhân sinh quan trong Triết học Phật giáo thể hiện qua quan điểm về
Tứ diệu đế bao gồm Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế và Đạo đế nhằm “tập trung và thực
hành lý giải những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt
tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ
trụ (Atman và Brahman)3”. “Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở
sự "giải thoát" (Moksa) khỏi vòng luân hồi, "nghiệp báo" để đạt tới trạng thái
tồn tại Niết bàn [Nirvana]4”. Về nội dung trong Tứ diệu đế có thể khái quát như
sau:
Khổ đế nói về sự khổ ở đời của con người từ lúc sinh ra đến lúc rời khỏi cõi
nhân gian này. Khổ không chỉ là những cảm giác đau đớn, khổ nhọc thân, tâm mà
còn chỉ những điều mà con người mong muốn mà không thỏa mãn được khi con
là khổ, không biết vạn vật hữu hình hay vô hình chỉ là giả tạm, luôn biến đổi,
không tiết chế được những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình rồi sẽ gây ra
nghiệp nên lần hồi cứ làm theo mãi, gây ra nhiều điều xấu và mãi trong kiếp khổ
nghiệp luân hồi nên gọi là Tập. Thập nhị nhân duyên bao gồm 1. Vô minh, 2.
Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu,
11. Sanh, 12. Lão tử. Vô minh che lấp nên con người không nhận ra bản chất thật
của vạn vật, rồi cứ mãi tham lam chạy theo cái hư ảo không vĩnh viễn đó nên tạo
ra nghiệp là nguyên nhân của nỗi khổ. Trong đó, có ba thứ độc là Tham, Sân, Si là
nguyên nhân chính nhất của nỗi khổ. Xét cho kỹ thì mọi việc làm thiện, ác sẽ tạo
ra các nghiệp gắn liền với sinh tử trong tam giới mà con người không ai không
vướng mắc.
Diệt đế nói về sự khổ bị tiêu diệt để được giải thoát khỏi bể khổ để đạt được
trạng thái Niết bàn mà không còn nỗi khổ trong sinh tử luân hồi nữa. Khổ là mầm
gốc của mọi phiền não. Tiêu diệt phiền não là tiêu diệt những nghiệp quả trong
tam giới để đưa con người thoát khỏi kiếp luân hồi. Nếu các nghiệp phiền não
trong tam giới đã diệt thì có thể đạt được cảnh giới Niết bàn. Cái khổ của đời sau
không còn nữa gọi là Vô dư Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn đưa con người thoát
khỏi những nỗi khổ hiện tại và kết thúc mọi nghiệp chướng của mình kết thúc
nghiệp luân hồi.
Đạo đế nói về phương pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ bằng bát chính đạo.
Sau khi tìm ra nguyên nhân gây ra những nỗi khổ trên, Đức Phật cho rằng có thể
tiêu diệt nỗi khổ trên bằng con đường chính đạo tu hành vượt qua những nỗi khổ
6
trên. Đạo là luân lý, là con đường đúng đắn, đạo còn có nghĩa là năng thông năng
đạt, nó chính là những phương pháp, là con đường để cho chúng sinh theo đó mà
tu tập để mong cầu vượt thoát khỏi trầm luân, khổ ải trong tam giới. Trong đó,
Đức Phật chỉ ra tám con đường chính, bao gồm: chính kiến – hiểu biết đúng đắn tứ
diệu đế, chính tư duy - suy nghĩ chân chính đúng đắn, chính ngữ - giữ lời nói chân
II.1.3
7
mất luôn cả bản thân vì những tác động khách quan bất ngờ và chủ quan không
may mắn do hoàn cảnh tạo ra.
6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu. Với người Á Đông chúng ta thì chữ
hiếu luôn đặt lên hàng đầu với “Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu” hay “Cây muốn
lặng mà gió chẳng dừng, con cái muốn hiếu thảo mà cha mẹ không còn nữa”. Do
đó phải xem hiếu thảo là trách nhiệm và hạnh phúc với mỗi người khi mẹ cha còn
sống trên cõi đời này.
7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti. Tự ti làm con người ta thiếu đi cái
tự tin, cảm thấy mình luôn nhỏ bé, yếu đuối, sẵn sàng buông xuôi tất cả và thật
đáng thương và cũng thật đáng trách.
8. Đáng khâm phục nhất của đời người là vươn lên sau khi vấp ngã. Cái đáng quý,
đáng trân trọng nhất của con người là nghị lực, là ý chí, lòng tin biết vươn lên, biết
vượt qua gian khó, biết chiến thắng “kẻ thù lớn nhất của đời mình. Biết phấn đấu,
biết vươn lên, đặc biệt là sau khi ngã, đó mới là điều đáng khâm phục nhất.
9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng. Không được tuyệt vọng mà phải
luôn luôn có hy vọng để sống và sống vì những ước mơ, hoài bão, hy vọng. Khi ta
có hy vọng đồng nghĩa với việc ta đặt trọn mềm tin vào cuộc sống để có động lực
sống phấn đấu vươn lên sẽ mạnh mẽ và đạt ước mơ của mình.
10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ và trí tuệ. Sức khỏa là vốn quý giá
nhất của con người và có một trí tuệ minh mẫn con ngưới mới có cảm thụ được
hạnh phúc xung quanh mình. Đảm bảo cả hai yếu tố trên là con đường dẫn đến
thành công và hạnh phúc.
11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm. Trong cuộc sống những món nợ
tiền còn có thể trả được nhưng nợ tình thì khó khăn hơn nhiều và nhiều khi không
hãn nhưng lại có thể trở thành bằng hữu của chúng ta trong tương lai hoặc trong
những duyên kiếp sau này. Chính vì nhờ trong cuộc sống có những đối thủ, kẻ thù
họ đã cho ta cơ hội để đấu tranh hay chấp nhận nhẫn nhục và từ bi, bởi vì về cơ
bản, tất cả chúng ta đều giống nhau, chúng ta đều Tham, Sân, Si hay là những kẻ
ham lam ham vui tránh khổ, tham sống sợ chết. Nhưng kẻ thù phiền não, kẻ thù
yếu đuối, ích kỷ, ghen tỵ, tham lam trong mỗi con người không mang lại cho
chúng ta những điểm mà còn hủy diệt cuộc sống của chúng ta. Chúng làm chúng
ta đánh mất sự thanh thản, bình yên của tâm hồn, và mang đến lụy phiền cho tâm
linh, gây nên sầu não buồn đau dày vò tâm thức làm cho con người ngày càng héo
mòn.
Có rất nhiều loại phiền não ảnh hưởng đến cuộc sống mỗi người. Sự tham
lam, cố chấp chính là niềm khát vọng mãnh liệt đối với mỗi người để thỏa mãn
những nhu cầu của bản thân. Sự nóng giận và phẫn nộ làm con người trở nên nông
nổi hành động mù quáng khi hối hận thì đã muộn màng. Khi con người giận dữ,
ngay tức khắc chúng ta có thể trông thấy họ bị mất bình tĩnh, mặt mũi đỏ ngầu,
biến nhăn ngay cả cặp mắt họ cũng đỏ, máu sôi lên. Một loại phiền não khác đó là
sự kiêu căng ngạo mạn - đó là trạng thái tâm linh mà con người tự khoe khoang
cao ngạo với địa vị, giai cấp, học thức của chính mình do dựa vào thái độ xem tự
ngã như trung tâm điểm, cho dù là mình có thành tựu được điều gì hay không,
mình vẫn cảm thấy dương dương tự đắc. Kẻ nào mang tính cao ngạo chất ngất sẽ
rất tự phụ và tỏ ra rất ta đây. Kế đến là vô minh, tức là sự nhận định lầm lạc về Tứ
Diệu Đế về luật nghiệp báo…Vô minh đề cập đến một yếu tố tâm lý hoàn toàn
lầm lạc, mờ ám về bản chất của Tam Bảo và những hiểu biết về nghiệp chướng để
rồi bản thân mình đi không đúng đường lầm lạc không lối ra.
Phiền não trong chính bản thân mỗi con người không những sẽ quấy nhiều sự
tĩnh lặng bình hòa của tâm thức cũng đồng thời che khuất những nhìn nhận đúng
9
đắn của bản thân về cuộc sống thực tại. Ví dụ như: nếu vì quá giận dữ mà sinh ra
cảnh thực tế nhất định thì giá trị của lời nói dối sẽ khác nhau, có lời nói dối ngọt
ngào mang lại hạnh phúc cho người khác. Tóm lại trong cuộc sống thì càng hạn
chế dối trá càng tốt, và đừng bao giờ dối trá vì những mục đích cá nhân vụ lợi
riêng mang tính tiêu cực.
Có thể trong suy nghĩ của nhiều người cuộc sống “chết là hết” nhưng trong
giáo lý của nhà Phật không phải thế. Con người trong Thập nhị nhân duyên với
10
những nỗi khổ hiện tại mình đanh trải qua là do duyên kiếp hình thành có thể trải
qua nhiều đời chứ không phải là không có nguyên nhân. Nếu con người cứ sống
dối trá buông thả bản thân thì mãi mãi sẽ chuốt lấy những hậu quả về sau do
không nhận thức đucợ thực tại và tương lai như thế nào. Dối trá với cuộc đời thì
phải chấp nhận những thực tế bởi gieo hạt nào thì gặt quả nấy. Âm mưu sâu độc
bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu đến với bản thân mình. Nhưng khi đã
tự lừa dối cả bản thân mình, thì tội lỗi càng thêm chồng chất không những dối
người mà còng dối mình. Dối trá để che đậy cái thực tại yếu kém của bản thân
mình, che đậy sự thật và tạo ra những ảo ảnh cho người khác về bản thân. Người
ta hay tự an ủi bằng những lý do không đúng sự thật về những điều xấu mình đã
gây ra, cốt để yên tâm tạm thời còn phần lớn thời gian luôn cảm thấy bất an, nơm
nớp lo sợ cho những hành vi mà mình gây ra. Làm điều thành thật thì bụng yên ổn
và mỗi ngày một hay, làm điều gian dối thì bụng băn khoăn và luôn lo lắng.
Không tự lừa dối mình và mọi người cũng có nghĩa là phải chứng minh sự thật
bằng mọi giá.
Trong Đạo đế của Phật giáo chỉ ra những con đường để con người thoát khỏi
sự dối trá và hướng đến một con người chân thật, trung thực đó là Chính kiến thấy
đúng, Chính tư duy nghĩ đúng, Chính ngữ nói đúng, Chính nghiệp làm đúng,
Chính mệnh sống đúng. Khi tránh được những hình thức ngôn ngữ sai phạm và có
hại cho nhiều người, phải dùng những từ ngữ thân thiện, chan hòa, êm ái, và nhã
nhặn, có ý nghĩa và lợi ích. Người ta không nên nói năng bừa bãi, mà phải nói
nhưng sau đó lại cảm thấy nó quá tầm thường rồi lại tự đặt câu hỏi mình đang đi
tìm cái gì trong cuộc sống. Tuy nhiên có những người mãi mãi bị vùi chôn trong
những sự tuyệt vọng và luôn trách móc bản thân mình không tìm đucợ lối ra, sự
giải thoát cho bản thân.
Có một câu nói đáng để chúng ta suy ngẫm là “Điều vinh quang nhất trong
cuộc đời không phải là chưa từng vấp ngã, mà là có thể đứng lên sau mỗi lần vấp
ngã” cho thấy rằng con người phải nhìn nhận và phải chấp nhận thất bại và xem
nó như là một điều hoàn toàn bình thường. Không ai thành công một cách dễ dàng
mà cũng không ai chả lẽ mãi mãi chỉ nếm toàn thất bại. Chúng ta không được
tuyệt vọng mà phải luôn luôn có hy vọng để sống và sống vì hy vọng và vượt qua
mọi nghịch cảnh. Tình cảm bị tuyệt vọng sẽ tạo nên trạng thái tâm lý hoang mang,
không biết đối mặt của cuộc sống ra sao. Nếu sự nghiệp bị tuyệt vọng sẽ gây ra sự
uất ức, chấp nhận số phận, còn nếu tuyệt vọng với cả hai điều này thì dẫn đến kết
cục bi thảm bởi một kẻ trắng tay không tình cũng không sự nghiệp và có thể kết
thúc cuộc sống của mình nhanh nhất hay nếu sống cũng như kiếp vất vưởng cho
qua ngày. Vậy muốn giữ được hy vọng, không sa vào tuyệt vọng thì mỗi con
người phải có ý chí, nghị lực như phi thường biết đối mặt với thất bại và vượt qua
mọi thử thách trong cuộc sống.
Con người trong cuộc đời đôi lần không thể tránh khỏi những phút giây tuyệt
vọng khi mất niềm tin vào mọi thứ xung quanh. Nhìn ở đâu ta cũng cảm thấy toàn
là giả dối, cũng là hư vô, cũng là vô vọng không có lối ra. Chúng ta nhìn đời bằng
ánh mắt của sự giả dối, sự tuyệt vọng rồi ta lại nói với chính bản thân là sao đời
nhiều gian dối, nơi đâu có thể tìm kiếm chút niềm tin. Sự thật là đời nhiều gian dối
nhưng không vì thế mà đôi khi cho phép chúng ta mềm yếu và tuyệt vọng, chúng
ta có quyền quyết định cách phản ứng của bản thân trước những gì xảy ra xung
12
quanh. Chúng ta có quyền quyết định suy nghĩ của mình về cuộc sống là tích cực
hay tiêu cực. Vậy làm thế nào để vượt qua những nỗi đau khổ và tuyệt vọng một
tạo nên cách sống cao thượng, mà còn chính là nguồn phúc để lại cho đời sau. Con
người khi ra đi về cõi vĩnh hằng nếu để lại khối tài sản khổng lồ cho con cháu
chưa chắc gì con cháu họ được hạnh phúc nhưng nếu để lại phúc đức cho đời sau
thì không những con cháu hưởng cả nghìn thu mà tiếng thơm lan truyền ngàn đời.
Nhưng thật sự có nhiều điều đáng nói ở đây là trong cuộc đời con người, người ta
13
có thể cho người khác của cải, tiền bạc, thậm chí sinh mạng của mình nhưng cái
mà nhiều người không thể cho người khác được đó là lòng khoan dung và độ
lượng ngay cả khi nhắm mắt xuôi tay. Một người lầm lổi biết hướng thiện, sự
khoan dung của chúng ta sẽ làm cho người đó hạnh phúc và phát triển tốt hơn. Đối
với kẻ thù, sự khoan dung chính là vũ khí chinh phục nhân tâm cao nhất của họ.
Mở rộng lòng khoan dung của chúng ta với kẻ thù, sẽ giúp chúng ta có thêm một
người bạn. Khoan dung với người nhà, anh em, sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều
mối quan hệ gắn bó, giúp cuộc sống chúng ta trở nên có thêm nhiều ý nghĩa hơn.
Cuộc sống gia đình sẽ trở nên gắn bó khi chúng ta biết khoan dung cho với mọi
người và dùng tình thương để cảm hóa thay vì lòng thù hận để trừng phạt và răn
đe.
Tuy nhiên theo suy nghĩ của bản thân lời răn này của Phật giáo tồn tại quá
nhiều mau thuẫn vì có những người chúng ta có thể khoan dung với họ, nhưng có
những người hoàn toàn không thể khoan dung, nhất là sự khoan dung đó có thể
giúp người đó gián tiếp làm hại tới những người khác hay có một số người không
thể cải tạo được. Sự khoan dung phải đặt đúng chỗ nếu không sẽ trở thành mềm
yếu, nhu nhược. Họ đối xử lại tấm lòng khoan dung độ lượng của chúng ta bằng
sự lừa gạt và có thể họ hại nhiều người khác nữa. Đức Phật lấy từ bi, tin vào nhân
quả, và tin vào lòng thương vô biên của mình, tin vào kiếp sau, nên người chấp
nhận khoan dung cho kẻ thù dù người đó có thể hại tới người. Người làm vậy
nhằm mục đích cảm hóa kẻ thù, và cho dù người mất đi, vẫn có thê tiến tục kiếp
sau trở lại hóa độ kẻ khác. Tóm lại lòng khoan dung nên được cân nhắc một cách
niềm riêng. Nợ đời, nợ tình là những thứ rất khó trả mà nhiều khi con người khi về
bên kia thế giới vẫn chưa có thể trả hết thôi đánh hẹn kiếp sau nếu có gặp lại. Trân
trọng ình cảm là một trong những yếu tố làm đẹp thêm tâm hồn mỗi người chứ
không như những con người vô cảm chỉ biết sống cho bản thân mình.
II.2.6
An ủi lớn nhất của đời người là bố thí
Vì sao trong cuộc sống con người nên bố thí, vì sao bố thí là niềm an ủi lớn
nhất dành cho con người. Trong Khổ đế của Tứ diệu đế có đề cập đến nhiều nỗi
khổ của con người và trong Thập nhị nhân duyên có đề cập đến nguyên nhân gây
ra những nỗi khổ đó cho ta thấy rằng trong cuộc sống chúng ta phải tìm cáh hạn
chế và giảm bớt những ảnh hưởng xấu của sự đau khổ và phiền não lên bản thân
mình. Khi cuộc sống chúng ta nhìn lên thấy mình chẳng bằng ai rồi từ đó cảm thấy
phiền não, tự ti nhưng khi chúng ta nhìn xuống chúng ta cảm thấy mình còn hạnh
phúc hơn rất nhiều người. Sự tành công hay thất bại của một người không chỉ là sự
kết hợp của trí thông minh, sự may mắn, nỗ lực mà còn là kết quả của sự tích lũy
những đức hạnh mà chúng ta có được ở kiếp này hay kiếp trước. Bố thí là việc làm
trả lại cho đời những gì mà chúng ta được cuộc đời này ban tặng quá nhiều. Cuộc
sống này có lẽ nhiều người không biết được mình may mắn là được sinh ra trên
cõi đời này để làm một con người, sống cuộc sống con người, khổ nỗi khổ của con
người và vui niềm vui được làm người.
Chúng ta nên chia sẻ cảnh ngộ, lòng thương cảm để giúp đỡ tinh thần hoặc
vật chất cho mọi người. Làm được điều thiện cũng là một cách tích đức để lại cho
con cháu. Có nhiều nhìn nhận khác nhau về việc tích lũy phúc đức như “một ngày
mình làm điều thiện, phúc tuy chưa đến nhưng cái họa đã tự bỏ đi xa, một ngày
làm điều ác, cái họa dẫu chưa đến nhưng cái phúc đã tự bỏ đi xa mình rồi”. Con
người cảm thấy hạnh phúc nhất là khi mình đi làm phúc hay bố thí cho người
khác. Làm phúc ở đây có nhiều mặt như bố thí, giúp đỡ, yêu thương và chăm sóc.
15
tranh chống lại sự gian dối, nếu bạn không chống lại nó thì bạn sẽ bị nó hại, nó sẽ gõ
cửa ghé thăm.
Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng…đôi khi trong cuộc sống có những
lúc con người cảm thấy bế tắc và tuyệt vọng không biết mình đi về đâu. Họ nhìn xung
quanh một trời không lối thoát. Trong những lúc này con người trở nên yếu đuối và có
thể có những hành động thiếu suy nghĩ. Do đó với mỗi người nên luôn nuôi dưỡng
niềm tin vào cuộc sống, sống là phải hy vọng cho dù hiện tại có nhiều người có thể
chưa thành công, gặp nhiều thất bại trên con đường tiến thân. Nhưng khi một cánh
cửa đã đóng thì sẽ có một cánh cửa khác mở ra. Hãy giữ vững niềm tin…!
16
Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung…trong cuộc sống chúng ta nhiều
khi mắc phải những sai lầm. Chúng ta sinh ra làm con người chứ không phải là những
bậc thánh nhân quân tử. Thật nhẹ lòng khi chúng ta khoan dung cho những lỗi lầm,
những lời nói bốp chát của bạn bè anh em. Tất cả những điều đó làm nên những dư vị
thật đa dạng của cuộc sống này. Với những người biết quay đầu làm lại hãy cho họ
một cơ hội làm lại nếu không họ sẽ mãi mãi sống trong bóng tối của tội lỗi. Tuy nhiên
sự khoan dung luôn là con dao hai lưỡi nhiều khi có một số người lợi dụng vào tấm
lòng của người khác để lợi dụng, để thực hiện những hành vi xấu. Khoan dung cũng
phải có những giới hạn của nó.
Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm…nhiều người nói rằng nợ tình kiếp
sau xin trả lại. Bởi lẽ đây là món nợ quá lớn trong cuộc sống đối với mỗi người.
Chúng ta sinh ra trong cuộc đời này nợ cha mẹ công sinh thành nuôi dưỡng, nợ thầy
cô những điều dạy dỗ, nợ anh em bạn bè tình thương yêu, nợ cuộc đời này đã chắp
cánh cho chúng ta những ước mơ. Do đó sống phải trọng tình nghĩa sẽ làm cho con
người cảm thấy bớt mắc nợ cuộc đời thay vì một người sống vô tình vô nghĩa qua cầu
rút ván.
An ủi lớn nhất của đời người là bố thí…sự bố thí làm cho con người cảm thấy
nhẹ nhàng, cảm thấy mình còn hạnh phúc. Bố thí là một sự cho đi mà không bao giờ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bài giảng Triết học dành cho học viên cao học – Tứ diệu đế và 14 điều răn của
Phật – TS Đào Duy Thanh.
• GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN (Dùng trong các trường đại học,
cao đẳng) (Tái bản lần thứ ba có sửa chữa, bổ sung).
• GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC (Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học - 2005)
• Website:
o http://www.tangthuphathoc.net/phathoc/tudieude.htm
o http://thuvienhoasen.org/
•
CÁM ƠN THẦY ĐÃ ĐỌC BÀI…!
18