MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khổng Tử và thời đại Khổng Tử đã cách xa chúng ta hàng chục thế kỉ, thế
nhưng những giá trị trong học thuyết của ông vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan
tâm và nhìn nhận đánh giá lại cho phù hợp. Vấn đề sâu sắc nhất và trường tồn
nhất trong học thuyết của ông đó chính là nhân sinh quan.
Nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử thể hiện bản chất con người,
mối quan hệ con người với con người, trong đó những luận điểm về đạo đức,
nhân, nghĩa thì thể hiện rõ tính thời đại, thời sự. Về những phương diện nào đó
nhân sinh quan của Khổng Tử đã tạo động lực cho sự phát triển văn hóa - xã hội
ở những nước phương Đông trong đó có Việt Nam. Có những thời điểm lịch sử
tư tưởng Khổng Tử là tư tưởng thống trị ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản,
Việt Nam và một số các nước đồng văn khác. Ngày nay khi nhìn lại lịch sử
chúng ta vẫn thấy ở nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử còn có những luận
điểm có giá trị thời đại, chẳng hạn như lí tưởng về một xã hội đại đồng, xã hội
mà xã hội chủ nghĩa đang vươn tới. Tư tưởng về người đứng đầu nhà nước phải
nêu cao tinh thần lấy dân làm gốc. Tư tưởng Khổng Tử cũng đề cập đến một
kiểu gia đình hòa thuận, con cái hiếu kính với cha mẹ. Đây là những giá trị sâu
sắc mà thế hệ sau nên tiếp thu.
Tác giả đề tài với tư cách là thế hệ đi sau, với niềm say mê tìm hiểu về tư
tưởng Khổng Tử, xin góp phần hệ thống lại những quan điểm nhân sinh quan
của Khổng Tử và đưa ra những nhận xét của mình về giá trị và hạn chế về
những quan điểm đó. Chúng ta cần phải kế thừa tiếp thu những giá trị tích cực
và loại bỏ những yếu tố bảo thủ trong học thuyết đó để làm giàu thêm nền văn
hóa Việt Nam.
Với những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài:“Tìm hiểu tư tưởng nhân
sinh quan trong triết học Khổng Tử ” để nghiên cứu.
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về tư tưởng triết học Khổng Tử từ trước tới nay thì đã có
nhiều người nghiên cứu và tìm hiểu ở những góc độ khác nhau.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các tài liệu tham khảo và nhận thức của mình, tác giả đã tiến
hành nghiên cứu với phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và một số
phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, logic, so sánh.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài này có mục tiêu là tìm hiểu và hệ thống lại những quan điểm nhân
sinh quan của Khổng Tử. Trên cơ sở đó, tác giả với thế giới quan và phương
pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chỉ ra những giá trị cũng như là
hạn chế của tư tưởng này. Qua đó, bằng hiểu biết và tài liệu thu thập được, tác
giả của đề tài đã rút ra một số ảnh hưởng nổi bật của tư tưởng nhân sinh quan
của Khổng Tử đối với văn hóa xã hội Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Khổng Tử và triết học Khổng Tử
1.1. Đôi nét về thân thế và sự nghiệp Khổng Tử
1.2. Triết học Khổng Tử
Chương II: Tư tưởng nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử
2.1. Con người trong quan hệ với trời, mệnh trời và quỷ thần
2.2. Vấn đề nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử
2.2.1. Vấn đề đạo đức
2.2.2. Vấn đề chính trị xã hội
Chương III: Một số ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh quan trong triết học
Khổng Tử đối với xã hội Việt Nam
3.1. Khái lược về tư tưởng của Khổng Tử ở Việt Nam
3
3.2. Một số ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử
đến xã hội Việt Nam
4
Chơng I
Khổng Tử và triết học Khổng Tử
tạm đảm đơng chức vụ tể tớng. Trong vòng mấy năm, Khổng Tử đã thể hiện tài
chính trị nổi trội của mình trên các mặt nội chính, ngoại giao, giáo hoá lễ nhạc,
chế độ hành chính, có thể nói là "nớc Lỗ đại trị, ch hầu nể phục". Song đáng tiếc là
cơ hội không thể kéo dài, vua nớc Lỗ trúng kế li gián của nớc Tề, chìm đắm bởi
đoàn nữ nhạc mà nớc Tề đem tặng, quên lo chính sự, Khổng Tử chán ngán, phẫn
uất xin từ chức, rời khỏi nớc Lỗ, chu du liệt quốc với mong ớc tìm đợc vua chúa
tài giỏi, thi triển đợc hoài bão của mình.
Từ năm 55 tuổi đến 68 tuổi, do tìm kiếm mảnh đất dụng võ, thi triển tài
năng hoài bão của mình mà trôi dạt lênh đênh suốt 14 năm, tuy đạt đợc danh tiếng
nhng cũng nếm đủ mùi cay đắng.Song lí tởng nhân sinh của ông không có cơ hội
thể nghiệm với đời.
Sau khi trở về nớc Lỗ dạy học, san định các sách vở đời trớc, đến năm 479
(Chu Kính Vơng 41- Lỗ Ai Công năm 17), ông qua đời thọ 73 tuổi.
Nh vậy có thể thấy Khổng Tử đợc sinh ra trong cảnh cơ hàn nhng thuộc
dòng dõi quyền quý ở nớc Lỗ, một đất nớc nhỏ bé nhng có bề dày văn hoá dới thời
nhà Chu. Lúc ông chào đời là lúc nhiễu nhơng, thời kì mà "Bá đạo" đang lấn át
"Vơng đạo", trật tự lễ pháp của nhà Chu đảo lộn. Khổng Tử than rằng: "vua không
phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi [6. 323].
Cuộc đời Khổng Tử là một cuộc truy tìm miệt mài. Trong các văn tuyển của
mình, ông viết: "Lúc mời lăm tuổi, tôi đã đam mê học tập. Khi ba mơi tuổi, tôi đã
trở nên vững vàng. Đợc bốn mơi tuổi, tôi không còn những ngờ vực gì hơn. Và khi
đã năm mơi tuổi, tôi đã hiểu ý trời. ở tuổi sáu mơi tai tôi hoà chung với ý gió. Để
khi đợc bảy mơi tôi có thể đi theo các ớc vọng của lòng mình, và giờ tôi biết
chúng đúng [6. 131]
Cả cuộc đời ông toả sáng lên một nhân cách con ngời vẹn toàn nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín, dũng. Một con ngời chìm nổi giữa phong ba bão táp nhng vẫn một
lòng kiên định thực hiện hoài bão của mình, sống khiêm nhờng, giản dị. Một con
6
ngời luôn vui vẻ và tốt bụng, không hẹp hòi, cố chấp, yêu ngời, thơng ngời. Ông
xứng đáng là một "tấm gơng nhân luân" cho cả thế hệ sau noi theo.
học trò ghi lại, ông cũng đã đề cập đến mọi vấn đề của triết học, thể hiện quan
điểm của ông về thế giới, với chính trị xã hội, về luân lí đạo đức và cuộc sống con
ngời.
1.2.1. Thế giới quan trong triết học Khổng Tử
Khổng Tử chịu ảnh hởng quan niệm về vũ trụ của ngời Trung Hoa thợng cổ.
Ông quan niệm rằng vũ trụ lúc đầu là cõi hỗn mang mờ mịt. Vũ trụ vận hành biến
hoá không ngừng, trong cuộc vận hành ấy có trật tự, có hoài điệu, cái hoà điệu mà
chúng ta có thể cảm nhận nhng không nói hết đợc. " D dục vô ngôn... Thiên hà
ngôn tại, tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tại" Ta không
nói... Trời có nói chi đâu, mà bốn mùa, vận hành trăm vật nảy nở, trời có nói chi
đâu. Vũ trụ ấy có cái gọi là "Thái cực" vô hình huyền diệu, chứa đựng hai mặt
tiềm ẩn, đối lập, liên hệ với nhau là âm và dơng, nó tạo ra mọi sự biến đổi vô cùng
tận gọi là " Đạo" hay " Dịch". Đó là đạo biến hoá của trời đất âm dơng tạo ra
thanh khí và trọng khí. Thanh khí làm trời, trọng khí làm đất. Còn sự điều hoà giữa
âm dơng trời đất sẽ sinh vạn vật. Nhìn chung thế giới quan của Khổng Tử vẫn
mang màu sắc duy tâm.
1.2.2. Học thuyết chính trị
Ông là ngời đầu tiên đề ra thuyết giáo về nền hoà bình và quyền bình đẳng.
Ông nói rằng: "Nền hoà bình trên thế giới chỉ nảy nở từ nền đại đồng trong thiên
hạ". Điều này thể hiện một lí tởng về thế giới đại đồng. Mặt khác trong thiên hạ
mọi ngời phải coi nhau nh anh em, nh một gia đình cùng hởng thụ những quyền
lợi, cùng lo trách nhiệm với nhau thì thiêm hạ ắt thái bình. Bên cạnh đó ngài còn
có t tởng " lấy dân làm gốc", " quốc dĩ dân vi bản". Mỗi một vị vua, một ngời đứng
đầu quốc gia, cần thấm nhuần đợc t tởng này. Muốn cho dân giàu nớc mạnh, xã
tắc bình yên thì ngời quân tử phải phấn đấu tu dỡng theo một lí tởng để: tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ.
T tởng chính trị của Khổng Tử còn mang nặng chủ nghĩa tôn quân ( tôn thờ
vua). Dân đối với vua coi nh cha mẹ, luôn trung thành với vua. Giữa dân và vua
phải có mối liên hệ khăng khít, vua thì tinh anh mà dân thì trung quân, ái quốc.
8
9
hệ quan tâm. Song quan điểm giáo dục của Khổng Tử chỉ dừng lại ở giao tiếp, lễ
nghi chứ không hẳn mở mang dân trí nói chung. Mặc dù còn tồn tại nhiều hạn chế,
nhng học thuyết giáo dục của Khổng Tử vẫn mang giá trị đơng thời, và ông xứng
đáng đợc mệnh danh "vạn thế s biểu".
1.2.4. Nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử
Con ngời trong triết học Khổng Tử, con ngời của đạo đức, luân lí, tuân theo
học thuyết chính danh, nhân và lễ. Chữ nhân là hạt nhân triết học nhân sinh của
Khổng Tử, làm điều nhân hợp với lễ là yêu cầu căn bản để trở thành ngời trong t t-
ởng của ông, nghĩa là ông nhấn mạnh đến đạo đức.
Khổng Tử cụ thể hoá những nguyên tắc đạo đức thành những chuẩn mực
cho mẫu ngời lí tởng. Ông cũng thể hiện đúng đắn quan điểm nhìn nhận con ngời
không chỉ thuần tuý dựa vào lời nói mà phải kết hợp giữa động cơ và hiệu quả,
giữa lí trí và tình cảm trong việc đánh giá con ngời. Ông chia con ngời ra làm ba
hạng: tiểu nhân, quân tử và thánh nhân.
Tiểu kết chơng I
Ta nhận thấy rằng Khổng Tử một bậc hiền triết phơng Đông, xuất thân
trong một gia đình cơ hàn. Ngay từ thủa nhỏ ông đã thể hiện là một cậu bé thông
minh, thiên tài. Lớn lên nhờ ý chí và nghị lực ông đã đóng góp không mệt mỏi cho
nền t tởng nhân loại. Những t tởng của ông đợc bộc lộ qua các tác phẩm đã trở
thành hệ giá trị luân lý mà đến ngày nay vẫn còn ảnh hởng sâu sắc đối với các nớc
trong khu vực Đông Nam á nói riêng và thế giới nói chung. Đặc biệt là t tởng triết
học mặc dù vẫn tồn tại nhiều hạn chế nh quan điểm duy tâm tôn giáo: trời và
mệnh trời, về thế giới quan cha có tính khoa học bởi hạn chế của lịch sử lúc bấy
giờ. Tuy nhiên, không thể phủ nhận là t tởng triết học của ông mang nhiều mặt
tiến bộ về con ngời, về xã hội, đạo đức. Thế kỉ XXI là thời đại nhân loại thu đợc
những thành tựu to lớn về khoa học, kĩ thuật và công nghệ, nhng cũng là thời kì
bộc lộ những tệ hại của sự xuống cấp về văn hoá và đạo đức. Một mặt, nhu cầu vật
chất của nhân loại đợc đáp ứng ở mức độ trớc đây cha từng có thì mặt khác, tinh
thần và tâm linh của nhân loại cũng cha bao giờ bị tổn thơng ở mức độ lớn đến
gì cố hữu, chung chung trừu tợng mà bản chất con ngời là tổng hoà các mối quan
hệ xã hội". Chính sự tác động, ràng buộc lẫn nhau ấy mà con ngời cần phải có
những quy tắc xử sự theo đúng chữ nhân, lễ và chính danh.
T tởng nhân sinh quan trong triết học Khổng Tử đợc biểu đạt trong con ngời
với quan hệ giữa trời, mệnh trời và quỷ thần, con ngời trong chính danh, con ngời
nhân lễ.
2.1. Con ngời trong quan hệ với trời, mệnh trời và quỷ thần
Chịu ảnh hởng bởi t tởng Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử đã sắp xếp ngôi thứ
trong vũ trụ là trời, thần, quỷ thần, ngời và vạn vật.
Trời không phải là giới siêu nhiên sáng tạo ra vạn vật muôn loài mà Trời chỉ
giữ ngôi cao nhất trong vũ trụ. Khng T rt tin tri, vi ụng tri nh mt quan
to cụng minh c m cõn ny mc, phỏn xột mi vic, hn na tri nh mt quy
lut, trt t t nhiờn, ý chớ ca tri gi l thiờn m nh, thiờn mnh l m t quy
lut khỏch quan, ho iu, i ng trong v tr m con ng i ta phi c thc
hin, chỳng ta khụng nờn trỏi nú, phi s nú, h nh ng hp vi nú.
Thiờn mnh l mt lc lng khỏch quan thn bớ ton nng, chi phi i
sng ca con ngi, mi cỏ nhõn, s sng - cht, phỳ quý hay nghốo hốn u do
12
thiên mệnh quy định: "phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải
cầu" [6. 239]. Con người cần phải hiểu được Thiên mệnh để yên vui với phận vị
của mình, để giữ lễ, và đó cũng là điều kiện trở thành con người hoàn thiện.
"Không hiểu mệnh trời không thể là người quân tử" [6. 330].
Có thể nói, trời và người có mối quan hệ hài hoà rất mật thiết với nhau,
trời và người có sự tương thông, tưởng cảm lẫn nhau điển hình như việc người
ta thường bói bằng mai rùa hoặc có thể để biết ý trời, hay vua được gọi là "thiên
tử", tức con trời, "thiên ý nhân tâm là một, trời nhìn tựa dân nhìn, trời nghe tựa
dân nghe" [6. 284].
Còn về quỷ thần, ông không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần, nhưng ông
cũng không sùng tín quỷ thần và càng không chủ trương từ trong sự sùng kính
của quỷ thần mà vứt bỏ tính tự chủ đạo đức của con người. Trái lại, Khổng Tử
dung, lễ là hình thức của nhân, và chính danh là con đường để đạt đến điều
nhân.
2. 2.1. Chữ nhân trong triết học Khổng Tử
Nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa sâu rộng nhất
"nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. Nhân được ông coi
là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ”, “ nghĩa", quy định quan hệ
giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. "Nhân" có quan hệ chặt
chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử, do vậy có người
cho rằng nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử là một vòng
tròn đồng tâm thì "nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong
bản tính con người. "Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ" tức là đạo đối với
người nhưng cũng là đạo đối với mình nữa. Trong cuộc nói chuyện với các học
trò, Khổng Tử đã nói: "Đạo ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả" . Về điều này
Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, đạo của Khổng Tử là "trung
thứ". "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà
biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người khác cũng không muốn
điều đó. "Trung thứ vi đạo bất viễn, thi chư kỉ nhi bất nguyện diệc vật thi ư
14
nhân" –“Tinh thần trung thứ không trái với đạo là mấy, cái gì không muốn thi
hành cho mình thì cũng chớ đem thi hành cho người” .
Có thể nói trung thứ là sống đúng với lòng mình và mang cái đó ứng xử
tốt với người. Hay đạo "trung thứ" chính là: "sở ố ư thương vô dĩ sử hạ, sở ố ư
hạ vô dĩ sở thương, sở ố ư tiền vô dĩ tiến hậu, sở ố ư hậu vô dĩ tòng tiền" [6. 31].
Có nghĩa là: cái gì mình ghét ở người trên, thì đừng lấy để khiến người dưới. Cái
mình ghét ở người dưới thì mình lấy để phụng sự người trên. Cái gì mình ghét ở
đằng sau thì đừng lấy để theo đằng trước. Cái gì ghét ở bên trái thì đừng lấy để
giao cho bên phải. Cái gì ghét ở bên phải không lấy giao cho bên trái". Có thể
nói "trung thứ" quán xuyến đạo đức của Khổng Tử và là cái quan trọng suốt đời
ông làm theo.
Ngoài cái nghĩa nhân là "trung thứ" ra thì nhân còn là "ái nhân" - yêu
với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn,
thanh thản và "duy nhân giả năng hiếu năng ố nhân", nghĩa là chỉ có người đức
nhân mới có thể biết yêu người, mới có thể biết ghét người" [6. 201].
Nhưng làm thế nào để có điều nhân bởi "Làm điều nhân là do mình chứ
đâu phải do người khác”, thế nên "Gạt bỏ dục vọng, nén mình thực hành theo
đúng lễ tức là làm điều nhân"[6. 344]. Hàng ngày cố nén mình, gạt bỏ dục vọng
xấu xa, làm cho mọi lời nói và hành động của mình phù hợp với lễ thiên hạ sẽ
coi mình là người đức nhân. Và để gạt bỏ những dục vọng xấu xa ấy mà thi
hành điều nhân thì những gì trái với lễ chớ có nhìn, những cái gì trái với lễ chớ
có nghe, những gì trái với lễ chớ có nói, những gì trái với lễ chớ có làm.
Nhân gồm: hiếu đễ, "hiếu" là hiếu thảo với cha mẹ, "đễ" là tôn kính anh
em. Hiếu đễ chính là cái gốc của nhân như Hữu Tử học trò của Khổng Tử đã
nói: "Một người có hiếu thảo với cha mẹ và tôn kính anh em, mà ưa trái nghịch
bề trên, ưa gây ra những cuộc phản loạn, người như vậy là chưa từng có cho nên
người quân tử cần nắm cái gốc. Cái gốc được vững chắc, tự nhiên đạo lí đó bắt
đầu mà sinh ra. Vậy làm người biết giữ gìn hiếu thảo với cha mẹ, và tôn kính
anh em tức là biết nắm lấy cái gốc của điều nhân". Có lòng kính yêu cha mẹ và
16
người thân trong nhà thì mới biết yêu những người ngoài. Ngoài hiếu đễ, nhân
gồm cả nghĩa, nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì làm, không hề mưu tính tới lợi
cho mình, mà cũng không cần biết hậu quả ra sao, việc gì đáng làm hợp với
nghĩa dù có không làm được vẫn cứ làm, khi nào hết sức rồi mà không thành thì
mới thôi, mặc lời chê của thiên hạ là "Tri kỉ bất khả vi nhi vi tri"- "Biết là không
thể làm được vẫn làm" [6. 338].
Lễ cũng là một bộ phận của nhân, lễ là ngọn nhân là gốc, người thiếu
nhân, lễ chỉ là hình thức giả dối. Một bộ phận nữa là Trí, vì nó sáng suốt mới lợi
cho đức nhân, mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình
"Trí giả lợi nhân" [6. 205]. Bên cạnh đó nhân còn nhiều đức khác nữa như "trực"
tức là ngay thẳng không giả dối, "kính" tức là nghiêm trang, cẩn thận trong công
việc, hay dũng là dũng cảm tinh thần dám làm việc nghĩa. Nhân gồm cả tài,
chỉ lo tu đức để được địa vị chứ không dùng đến vũ lực, thể hiện ở việc người
quân tử có sức mạnh biến cải nhân dân đến chỗ tốt hơn. Sức mạnh đó không chỉ
là lời nói mà còn là sức mạnh bên trong, là đạo đức. Người quân tử lấy đạo đức
làm động lực thúc đẩy nhân dân hành thiện. Khổng Tử nói: "Đạo chi dĩ chính, tề
chi dĩ hình, dân miễn nghi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách" –
“Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giữ trật tự, dân tránh khỏi
tội nhưng chưa biết hổ thẹn. Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân
biết hổ thẹn mà tiến tới chỗ tốt lành. Người quân tử "chỉ cầu ở mình, không cầu
ở người" [6. 443]. "Giữ vững chính nghĩa không cố chấp điều tín nhỏ nhặt " [6.
453]."giữ vững tư cách khi gặp hoạn nạn" [6. 429]. Dù trong hoàn cảnh nào thì
người quân tử vẫn luôn giữ vững nhân cách của mình, làm điều nghĩa. Bên cạnh
đó người quân tử "lo không đạt được đạo chứ không lo nghèo" [6. 432] "ăn gạo
xấu uống nước lã, mà thấy vui, chứ không chịu làm người bất nghĩa để được
giàu sang" [6. 234] . Luôn có thái độ "thư thái không kiêu căng" [6. 370] "không
lo, không sợ vì tự xét mình không có điều gì đáng xấu hổ" nghĩ vậy mà lúc nào
cũng thản nhiên vui vẻ. Và "nếu có hận thì người quân tử chỉ hận một điều là
chết mà khôn làm được điều gì để mọi người biết tới mình, khen mình"[6. 441 ].
18
Người quân tử là con người toàn diện có phẩm chất đạo đức phù hợp với ngũ
thường, trong đó nhân tính được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy người quân tử
"có khi quyên sinh để giữ trọn đạo nhân" [6. 438] hoặc "người quân tử lấy đạo
nghĩa làm căn bản, dùng lễ để thi hành, biểu lộ bằng đức khiêm tốn, hoàn thành
nhờ chứ tín" [6. 437].
Người quân tử là mẫu người lí tưởng, hoàn thiện và các nhà tư tưởng
Tống Nho đã đặt nó ngang hàng với thánh nhân, nhưng bản thân người quân tử
tự nhận thấy mình chưa phải là người hoàn thiện, nên họ luôn tự xác định phải
thường xuyên hoàn thiện bản thân để trở nên tốt hơn. Trong cuộc sống hàng
ngày không ai tránh được sai lầm, song người quân tử là người biết sai để sửa đó
là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người toàn thiện. "Có lỗi thì
không ngại sửa" [6. 103]. Một trong những đặc điểm nổi bật của người quân tử
Tóm lại, người quân tử là con người có đủ: nhân, trí, dũng, lễ, nghĩa,
trung, tín, thành, hiếu đễ, khoan thứ, tự cường, hiếu học, chuyên cần...Có nhân
nên lòng yêu người toả khắp, mong muốn cho người khác cũng được hạnh phúc,
có yêu thương nhân loại nên lòng khoan dung độ lượng thứ tha. Không nhớ lỗi
lầm của người khác, mà chỉ chú trọng giáo hoá họ nên người; có trí nên biết
khôn ngoan suy xét điều phải, điều trái. Nếu lỡ giao du với kẻ xấu thì phải tuyệt
giao với họ nhưng không nói xấu họ; có dũng nên không biết sợ sệt là gì. Thấy
việc nghĩa bèn ra tay hành động, nếu đã hành động thì phải thiết thực chứ không
chỉ lời nói suông; có lễ nên giữ được hoà khí nên trong nhà chẳng ai ghét, trong
xã hội chẳng ai oán mình, giữ được lễ trong việc giao tiếp với người tránh được
sỗ sàng. Trong việc lễ quý nhất ở lòng thành chứ không phải hình thức xa hoa
loè loẹt; có nghĩa nên luôn giữ công chính, chẳng tranh giành với ai. Mỗi khi có
món lời thì nghĩ đến điều nghĩa mà xét có nên thu nhận chăng? Nghĩa là gì?
Chẳng qua là công ích và lẽ phải. Cho nên quân tử không từ nan làm việc gì dù
lớn dù nhỏ, miễn là việc ấy hợp với nghĩa. Điều phi nghĩa đã đành không phạm,
nhưng chính trong ý nghĩ cũng không được tơ tưởng đến nó;Có trung nên giao
du với bằng hữu hết lòng, làm việc cho người thì hết dạ. Vì trung nên làm việc
20
cho ai cũng phụng sự hết lòng, không phản bội nhưng cái trung đó không phải là
lòng trung máy móc, thiển cận (ngu trung). Bậc quân tử ngay cả lúc phụng sự
vua đâu phải vì cá nhân nhà vua mà chính vì lẽ đạo. Nếu vua vô đạo thì chung
làm gì? Bậc quân tử vì tín mà hành xử. Tín là tin mình, tin người. Nhờ chữ tín
đó mà thành người. Vì sự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức của mình,
mình cũng không buồn, không oán. Tự tin vào tài đức của mình, càng ngày càng
trau dồi để một mai kinh bang tế thế, bấy giờ người biết mình cũng không muộn,
vì có tin nhau nên việc mới thành tựu, người mà không tín thì không biết ra thế
nào, người quân tử cốt yếu ở lòng thành, nhờ lòng thành mà người khác mới tin
tưởng. Quân tử đã hiếu lại còn đễ. Hiếu là cái đạo đối với phụ mẫu, đễ là cái đạo
đối với anh em.
Khoan thứ là lòng bao dung quảng đại của bậc quân tử, và muốn tu thân
nhân muốn đặt tư lợi của mình lên hàng đầu nên không quyết tâm giúp đỡ người
khác. Trái lại để giành tư lợi của mình họ thường bất kể thủ đoạn tranh chỗ của
người khác mà còn có thể làm điều ác với người khác nữa.
Quân tử là mắt khâu liên kết giữa thánh nhân và người thường. Theo
Khổng Tử người quân tử sợ ba điều "sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời của
thánh nhân". Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ mà còn khinh
nhờn bậc đại nhân, giễu cợt thánh nhân. Có thể nói rằng: "người quân tử đạt tới
chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn" [6. 401]. Tiểu nhân là kẻ hạ
cấp xét về phương tiện đạo đức và phẩm cách. Những đặc tính của kẻ tiểu nhân
thì tương phản rõ ràng với những đặc tính của người quân tử. Chính vì lẽ đó mà
trong học thuyết của Khổng Tử chỉ có thánh nhân và quân tử đạt điều nhân, còn
tiểu nhân lại không có điều đó. Người có nhân là người có tình cảm chân thực
hết lòng vì nghĩa cho nên có nhân thì bao giờ cũng hiếu đễ, lễ, nghĩa, trung thực,
kẻ bất nhân thì rất khôn khéo, mà tình cảm không thành thực, chỉ vì lợi không có
lễ nghĩa, dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới.
Đạo đức cao cả của một bậc thánh nhân và quân tử là chữ nhân. "Nhân”
được mô tả như là toàn bộ những giới đức. Bởi vì Khổng Tử đã từng nói rằng
22
kiên nhẫn, dũng cảm, giản dị, kín đáo, tất cả đều liên hệ mật thiêt với ý nghĩa
của chữ nhân. Để tu tập chữ nhân thì hãy yêu thương mọi người.
"Nhân" là điều cốt yếu trong mối liên hệ lí tưởng con người, đừng gây
những gì với người khác mà bạn không muốn xảy ra với bản thân mình. Bất cứ
ở đâu, Khổng Tử đều có một quan điểm là một chính nhân là luôn người muốn
giữ gìn cho bản thân, và giữ gìn cho người khác, và muốn điều tốt đẹp cho bản
thân ngay cả cho người khác.
Khổng Tử phủ nhận rằng ông chưa đạt đến chữ nhân: "làm sao tôi dám
nói rằng tôi đây là nhà hiền triết, một chính nhân quân tử. Nhưng tôi đây rất thoả
thích trong việc cố gắng đến chữ "nhân" và không bao giờ mệt mỏi trong việc
giáo huấn những gì tôi tin tưởng. Tuy vậy, tôi không cho rằng chữ "nhân" vượt
xa tầm tay của con người" [6. 180].
sinh.
2.2.2. Chữ lễ trong triết học Khổng Tử
Thời đại của Khổng Tử là thời đại mà theo ông là lễ nhạc hư hỏng, cần
phải khôi phục lại lễ. Khổng Tử tôn sùng nhất là lễ chế nhà Chu vì cho rằng nó
đầy đủ, rõ ràng tường tận, phong phú đa dạng có tác dụng giáo hoá dân chúng và
duy trì xã hội phát triển ổn định. Tất nhiên, lễ chế nhà Chu tốt đẹp như vậy là
nhờ có sự kế thừa và chọn lọc qua sự tích lũy lâu dài của hai triều đại Hạ, Ân.
"Lễ chế nhà Chu dựa vào lễ chế hai triều Hạ, Ân, mà định ra thật là phong phú
rực rỡ biết bao! Ta theo lễ chế nhà Chu" [6. 153]. Điều này chứng tỏ Khổng Tử
có thái độ dứt khoát theo lễ chế nhà Chu, khâm phục chế độ lễ nghĩa nhà Chu.
Lễ là những nghi lễ, quy phạm đạo đức thời Tây Chu. Chữ Lễ theo
nguyên nghĩa là cúng tế, nó còn ám chỉ mọi nghi lễ của vật cúng tế nữa. Điều
kiện để thi hành được lễ chính là con người phải có đức nhân. Khổng Tử nói:
"Một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ? Một người không có
lòng nhân sao có thể tấu nhạc?" [6. 145]. Nhân là nhân tâm, nhân ái, nhân là ở
bên trong, là tấm lòng thương yêu người, lễ là ở bên ngoài, có thể diễn đạt tư
tưởng, tình cảm, trạng thái tâm lí con người. Nhân là yếu tố chủ quan căn bản
24
nhất. Có nhân tâm mới có nhân đức, có nhân đức mới có lễ, nếu không lễ trở
thành giả dối, không có tác dụng gì, chẳng che đậy nổi điều bất nhân.
Để làm người đức nhân thì những gì trái với lễ chớ nhìn, những cái gì trái
với lễ chớ nghe, những gì trái với lễ chớ nói và những gì trái với lễ chớ làm.
Không phạm vào điều lễ thì có thể trở thành người nhân "gạt bỏ dục vọng nén
mình, thực hành theo đúng lễ" [6. 340]. Bên cạnh đó Khổng Tử nêu lên tầm
quan trọng của Lễ, Khổng Tử nói: "Không biết lễ thì chẳng biết cách đứng được
với đời"[6. 530].
Vì lễ quan trọng như vậy cho nên nếu kẻ cai trị biết cách trang nghiêm
cúng tế tổ tiên của họ thì tại sao họ không chú tâm đến triều chính như vậy? Nếu
quan lại mỗi ngày biết thi lễ và thủ lễ với nhau thì tại sao họ không quan tâm thi
lễ và thủ lễ với quần chúng vốn dĩ là xương sống của quốc gia? Cho nên có lần