Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VĂN LANG
KHOA CÔNG NGHỆ & QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Đề Tài:
GVHD : LÊ THỊ KIM OANH
SVTH : LÊ THỊ LỆ THU
NGUYỄN LÊ PHƯƠNG UYÊN
HUỲNH THỊ MĨ TRANG
HỒ NGỌC TOÀN
NGUYỄN TIẾN THÀNH
VÕ THỊ HẢI YẾN
VŨ THỊ BÍCH NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 5 năm 2010
Nhóm 5
1
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
2.2.2 Tình hình ô nhiễm
2.2.3 Tình hình ngập úng ở thành phố
2.2.4 Hiện trạng quản lý
2.2.5 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
20
20
21
23
25
27
2.3 Môi trường không khí
2.3.1Tổng quan về môi trường không khí ở Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.2 Hiện trạng quản lý
2.3.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
28
28
32
35
Chuơng 3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí
Minh
3.1 Thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ
3.2 Đầu tư cho vệ sinh môi trường còn thấp
3.3 Ý thức người dân đô thị còn thấp
3.4 Trách nhiệm của chính quyền đô thị
3.5 Sự phát triển kinh tế xã hội
3.6 Gia tăng dân số đô thị nhanh
4.2 Đề xuất của nhóm
4.2.1 Đối với công tác quản lý
4.2.2 Đối với người dân
52
52
53
Kết luận kiến nghị
55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nhóm 5
3
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
GIỚI THIỆU CHUNG
Trong thời đại khi mà vấn đề ô nhiễm môi trường luôn là mối quan tâm đáng chú ý nhất
của cả toàn thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng thì vấn đề về vệ sinh môi trường cũng
cần được đặt lên hàng đầu. Thành phố Hồ Chí Minh, là một vùng đất đầy tiềm năng, đang
trên đà phát triển thu hút nhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới cũng như doanh nghiệp nước
nhà, kéo theo đó là rất nhiều nhân khẩu từ khắp đất nước đổ về thì vấn đề môi trường càng
đáng quan tâm. Với dân số đông, mật độ dân số dày đặc thì lượng chất thải thải ra hằng
ngày là một con số đáng báo động. Thêm vào đó ý thức của người dân về vệ sinh môi
Hình 1.1 Bản đồ ranh giới của Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 độ 10’ – 10 độ 38’ vĩ độ bắc và
106 độ 22’ – 106 độ 54’ kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh
Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế
giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ đông sang tây, là tâm điểm của khu
vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là
đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Với hệ thống cảng
và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm. Sân
bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
Nhóm 5
5
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
1.1.1 Địa Hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng
bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông
sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình.
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi,
đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25
m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9).
Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và
các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía
Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam.
- Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% và trị số
cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%.
- Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là
gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào
trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3,6m/s và gió thổi mạnh
nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió Bắc - Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào
trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/s. Ngoài ra có gió
tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7
m/s. Về cơ bản Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Năm 1997, do biến
động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh
hưởng ở mức độ nhẹ.
Với những điều kiện thuận lợi như trên, sau khi chiếm được 6 tỉnh Nam Kì(1867). Pháp
gấp rút xây dựng nền cơ sở hạ tầng cho Sài Gòn và “trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài
Gòn trở thành trung tâm quan trọng không chỉ hành chính mà còn kinh tế, văn hóa, giáo
dục của cả Liên bang Đông Dương, được mệnh danh là "hòn ngọc Viễn Đông" hay "Paris
phương Đông”.
Hình 1.2 Một góc phố SG xưa
Nhóm 5
7
phá sản tăng lên, kéo theo là số lao động mất việc làm cũng ngày càng nhiều, giá cả lại leo
thang. Thêm vào đó là xuất khẩu giảm mạnh, giá trị sản xuất công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh trong quý I chỉ đạt 1,9%. Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trong tình trạng giảm sút
nghiêm trọng với tốc độ tăng chỉ đạt 4%. Nhiều người tiên liệu: 20 chỉ tiêu kinh tế xã hội
của thành phố đề ra trong năm 2009 chắc khó mà đạt được.
Tuy nhiên, chính trong thời điểm khó khăn ấy, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ,
Đảng bộ, chính quyền thành phố đã cùng chung tay góp sức đề ra các giải pháp để cùng
đồng hành với doanh nghiệp vượt qua thách thức. Thành phố Hồ Chí Minh xác định: để phục
hồi sản xuất tăng trưởng kinh tế thì doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, vì vậy mà hàng
tháng, hàng quý, lãnh đạo thành phố đã chủ động tổ chức các buổi gặp gỡ trực tiếp với
doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho sản xuất kinh doanh. Nhờ đó mà rất nhiều
nút thắt đã được mở ra, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động. Đây
được xem là cách làm hay của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong điều kiện nền kinh tế hết sức khó khăn, có đến khoảng 25.000 lao động mất việc và
thiếu việc làm nhưng với các chính sách hỗ trợ kịp thời nên thời gian qua con em người lao
động không rơi vào tình trạng không được đến trường hoặc không tiếp cận được với dịch
vụ y tế.
Ông Nguyễn Văn Quang, Phó Viện Trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển Thành phố Hồ
Chí Minh cho rằng: “Chỉ tiêu tăng trưởng GDP thành phố đề ra là trên 10%. Với tình hình
khó khăn chung, dưới tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu thì thành phố cũng bị ảnh
hưởng. Cụ thể là vào đầu năm, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó
khăn, không ký được hợp đồng mới do các nước gặp khó khăn không triển khai hợp đồng,
cho nên đã làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố. Tuy nhiên, chỉ
đạo của thành phố là không điều chỉnh chỉ tiêu 10% mà quyết tâm thực hiện trong điều
kiện thành phố có thể đạt được cao nhất. Cho nên đạt được tốc độ tăng trưởng 7,8% tôi cho
rằng đây là điều đáng khích lệ”.Mặc dù tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh có
nhiều dấu hiệu khả quan nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở lĩnh vực xuất
khẩu, đầu tư nước ngoài, du lịch…
Gồng mình vượt qua cơn khủng hoảng, Thành phố Hồ Chí Minh đã gần như cơ bản đạt được
các chỉ tiêu đề ra cho năm 2009 mà nhà nước đặt ra.Trong bối cảnh này, ý nghĩa lớn nhất
Nhóm 5
10
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
Hình 1.7 Nước thải không được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng
rác thải rắn không được thu gom hết. Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm
2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần. Các phương tiện giao thông, hoạt động xây
dựng, sản xuất... còn góp phần gây ô nhiễm không khí. Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô
nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên.
Hình 1.8 Rác thải không được thu gom hết
Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong
mùa khô. Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu
vực trung tâm. Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân là
do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp. Ngoài ra, việc xây
dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành
phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn.
Nhóm 5
11
nguyên nhân chính gây ra các vấn đề ô nhiễm đó là do rác thải gây ra.
2.1.1 Rác thải tại thành phố
Năm 2002, lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là 1,5 triệu tấn. Nhưng một năm
sau, lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh đã lên đến 1,7 triệu tấn. Và năm 2006,
lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ở mức 1,9 triệu tấn/ năm. Số liệu thống kê về
hiện trạng môi trường quốc gia cho biết, mỗi năm Việt Nam “sản xuất” khoảng 16 triệu tấn
chất thải rắn và năm sau cao hơn năm trước từ 10% - 16%. So sánh với các đô thị lớn như
Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng thì Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương tiên phong trong
cả nước về vấn đề này, với lượng chất thải khoảng 6.800 tấn/ngày. Chưa hết, số lượng chất
thải công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 50% số lượng chất thải cả nước
(khoảng 1 triệu tấn) (Người lao động 7/2007).
Hình 2.1 Vứt rác thải vô tội vạ
Hình 2.2 Những xe rác bốc mùi trên các vỉa hè
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác đô thị bao gồm :
- Từ các khu dân cư (rác sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại.
Nhóm 5
13
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng.
- Từ các hoạt động công nghiệp.
Nhóm 5
14
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
- Bãi rác Gò Cát.
Rác tăng nhưng việc xử lý, chôn lấp rác thải không thể tăng theo kịp. Chính vì vậy, nhiều
hộ dân sống xung quanh khu vực gần bãi rác Gò Cát (Tân Phú, Tân Bình) đều kêu ca về
mùi hôi và nước rỉ rác từ bãi chôn lấp này lan tỏa. Công ty Môi trường Đô thị Thành phố
Hồ Chí Minh, đơn vị quản lý bãi rác Gò Cát, cho rằng nguyên nhân của “những sự cố” về
mùi, nước rỉ rác là do: bãi rác đã quá tải. Theo thiết kế, bãi rác Gò Cát với diện tích 25 ha,
chỉ tiếp nhận khoảng 3,65 triệu tấn rác nhưng đến nay nó đã ôm trọn gần 6 triệu tấn rác.
Công suất tiếp nhận của bãi rác Gò Cát chỉ 2.000 tấn/ngày, tuy nhiên những lúc cao điểm,
bãi rác này phải tiếp nhận đến 5.000 tấn rác/ngày, vượt công suất cho phép đến 3.000
tấn/ngày. Cuối tháng 7-2007, bãi rác Gò Cát đóng cửa, bãi rác Đa Phước và Phước Hiệp
hiện đang tiếp nối nhiệm vụ. Tuy nhiên, với thực trạng rác thải như hiện nay, ngay cả Công
ty Môi trường Đô thị thành phố cũng không dám khẳng định hai bãi rác mới sẽ làm tròn
nhiệm vụ của mình. (Nguồn "Người lao động 7/2007")
Hình 2.3 Đỉnh rác cao như thế này là nguyên nhân phát tán mùi hồi ra các khu vực lân cận.
- Bãi chôn lấp Phước Hiệp số 1 ( tại xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi)
Bãi chôn lấp Phước Hiệp 1 đang xảy ra sự cố lún trượt trên phạm vi rộng, vị trí các trụ điện
đang bị dịch chuyển, mương thoát nước mưa bị biến dạng nên khả năng tiếp nhận rác chỉ
đạt công suất 1.000 tấn/ngày (theo thiết kế tiếp nhận 3.000 tấn/ngày)., nước rỉ rác chưa xử
lý tại bãi rác Phước Hiệp thải ra kênh Thầy Cai không những gây ô nhiễm môi trường mà
- Bãi chôn lấp Đa Phước (xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, TPHCM)
Khu xử lý rác Đa Phước có tổng diện tích 128ha, công suất xử lý 3.000 tấn rác/ngày, do
Công ty TNHH xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS) làm chủ đầu tư. Mỗi ngày lượng rác
bắt buộc phải đưa về bãi rác này thấp nhất là 3.000 tấn, chiếm gần một nửa lượng rác phát
sinh mỗi ngày ở thành phố.
Được xây dựng theo công nghệ hiện đại, với tổng vốn đầu tư hàng trăm triệu USD, nhưng
đến nay, khu xử lý rác Đa Phước mới chỉ xử lý được một phần nhỏ nước rỉ rác, hầu như
toàn bộ rác vẫn được chôn lấp theo kiểu truyền thống và còn rất nhiều hạng mục chưa hoàn
thiện, gây ô nhiễm nặng đến môi trường xung quanh.
Nhóm 5
16
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
Hình 2.5 Rác đưa về bãi rác Đa Phước chỉ mới được chôn lấp
Hiện nay, khu mới xử lý được 280 m3/ngày so với yêu cầu là 800m3/ngày. Như vậy, trung
bình mỗi tháng còn gần 20.000 m3 nước rỉ rác chưa được xử lý và trong hai năm qua lượng
nước rỉ từ rác thải đã lên con số quá lớn. Và dù đã nhận được khoản chi phí khá lớn cho
việc xử lý rác nhưng đến nay, sau 2 năm đi vào hoạt động, khu Đa Phước vẫn chưa hoàn
thiện 10 hạng mục quan trọng như nhà máy xử lý nước rỉ rác công suất 1.200 m3
nước/ngày, nhà máy tái chế nhựa, nhà máy làm phân compost, sàn trung chuyển rác...
Thực tế, bãi chôn lấp Đa Phước đang lập lại hiện trạng của các bãi chôn lấp trước đây là
gây ô nhiễm môi trường do nước rỉ rác và công nghệ xử lý chưa triệt để. Không chỉ “phát
tán” mùi hôi nồng nặc, bãi rác còn là là nơi sinh sôi nảy nở của rất nhiều ấu trùng ruồi, gây
phát sinh dịch ruồi ở huyện Bình Chánh, gây ô nhiễm nguồn nước và có thể nguy hại đến
cả khu vực quanh vùng như Nhà Bè và Cần Giuộc (Long An)... Tỉ lệ người dân mắc bệnh
Hiện nay, trung bình mỗi ngày, Thành phố Hồ Chí Minh thải ra khoảng 6.800 tấn rác sinh
hoạt, trong đó rác có nguồn gốc từ thực phẩm có thể tái chế thành những loại phân bón
hoặc được đốt để tạo ra khí gas làm nhiên liệu phát điện chiếm tỷ lệ từ 80-90%.
Tuy nhiên, đến nay, 100% lựợng rác thải sinh hoạt của thành phố chỉ được xử lý bắng biện
pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính của thành phố là bãi Đa Phước (huyện Bình Chánh) và
bãi Phước Hiệp (huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý
(khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một diện tích đất khá lớn để chôn lấp.
Do vậy, từ năm 2005, dự án phân loại rác tại nguồn để thu gom, xử lý và tái chế rác thành
phân compost và các loại nguyên, vật liệu hữu ích khác đã được thành phố triển khai thí
điểm ở quận 6 và nhân rộng ra các quận 5, 6, 10... Theo Sở Tài nguyên-Môi trường việc
phân loại rác tại nguồn thành công sẽ giúp thành phố tiết kiệm được khoảng 1 tỉ đồng mỗi
ngày.
Thế nhưng vì thực hiện thiếu đồng bộ và chưa chuẩn bị đủ các phương tiện thu gom, vận
chuyển rác chuyên dùng nên thời gian qua chương trình phân loại rác tại nguồn chưa mang
Nhóm 5
18
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
lại hiệu quả thiết thực vì khi người dân thực hiện xong việc phân loại thì công tác thu gom
rác lại nhập chung. Sau đó, rác đem về bãi chỉ chôn lấp chứ chưa có nhà máy chế biến rác,
gây lãng phí công sức của người dân và tiền của Nhà nuớc rất lớn.
Vì vậy, cách đây gần 10 năm, thành phố đã có nhiều chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, đầu
tư… và thu phí xử lý rác khá cao nhằm kêu gọi các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước
tham gia đầu tư vào các dự án xây dựng các công trình xử lý rác thải, xây dựng nhà máy tái
chế rác thải thành phân compost, khí gas sản xuất điện...để hạn chế việc phải chôn lấp rác
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
Ngoài ra, do chương trình phân loại rác tại nguồn của Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực
hiện được cũng làm cho việc tái chế rác thành phân compost chưa thực hiện nhanh được.
2.1.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Ô nhiễm từ rác thải sẽ làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của dân cư thành
phố.
Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên
cứu... trong các cơ sở y tế. Chất thải y tế nếu không được thu gom, phân loại, xử lý đúng sẽ
tạo nên nguy cơ cho sức khỏe và môi trường sống của con người. Việc tiếp xúc với các
chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như
kim tiêm). Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm
trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Như vậy những vật
sắc nhọn ở đây được coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thưởng kép (vừa gây
tổn thường, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV...). Hơn nữa, trong chất thải
y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B. Các
tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm
mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải). Nước thải
bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh
viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh
viện. Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây
lan các bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị
nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn
nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống... Như vậy, nếu việc thu
gom, phân loại và xử lý các chất thải y tế không đảm bảo đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe
cộng đồng và nhất là của những người trực tiếp tiếp xúc với chất thải. (Nguồn:
INFOTERRA VN (số liệu theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần, TTO, 11/8/2008)
Ngoài ra, việc ô nhiễm nghiêm trọng tại các bãi chôn lấp đã dẫn đến những ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của các hộ dân sống xung quanh các bãi chôn lấp.
vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200
km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình
vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ
hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành
mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi
hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn và chảy ra biển Đông.. Ngoài các con sông chính,
Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông,
rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò
Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi...Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí
Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển
Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và
hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.Khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí
Nhóm 5
21
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía Nam, trên trầm tích
Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng
nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba
tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện
Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng
60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng. Tuy nhiên Sự bùng nổ dân số cùng với
tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã làm cho các nguồn nước tại thành phố
Hồ Chí Minh bị ô nhiễm và trong tương lai đang đứng trước nghi cơ thiếu nước nghiêm
trọng.
người dân thành phố.
Chất lượng nước kênh rạch trên địa bàn cũng chẳng khá hơn khi nồng độ nhiễm Coliform
tại hầu hết các khu vực được giám sát đều vượt tiêu chuẩn nhiều lần và chưa có dấu hiệu
giảm; tình trạng ô nhiễm hữu cơ thông qua kết quả đo đạc vẫn còn đến một nửa số mẫu
nước kênh rạch vượt chuẩn cho phép lúc nước lớn và 100% số mẫu vượt chuẩn khi nước
cạn.
Cụ thể, nguồn nước kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đo tại cầu Lê Văn Sỹ, tình trạng ô nhiễm
hữu cơ cao xảy ra cả 2 thời điểm nước lớn và nước cạn, nướccó màu rất đen và có mùi hôi
thối ,vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5,9 - 6,9 lần; khu vực cầu Oâng Buông, Hòa Bình trên
kênh Tân Hóa - Lò Gốm tình trạng ô nhiễm vi sinh vượt chuẩn cho phép tới 14,5 lần; cầu
Chà Và trên kênh Tàu Hũ - Bến Nghé hàm lượng vi sinh cao gấp 23 lần mức cho phép.Kết
quả quan trắc của Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên - môi trường TP.HCM) gần
đây cho thấy hàm lượng dầu trên sông Đồng Nai tại trạm Hóa An (khu vực lấy nước cho
Nhà máy nước Thủ Đức) dao động từ 0,03 - 0,04mg/l, không đạt tiêu chuẩn nguồn cấp
nước (0 mg/l).
Tương tự, hàm lượng dầu tại trạm Nhà Bè (sông Nhà Bè) cũng vượt tiêu chuẩn cho phép
1,4 lần. Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm hữu cơ, vi sinh tại hai trạm đầu nguồn là Hóa An và
trạm Phú Cường (sông Sài Gòn) cũng rất cao, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước.
b. Ô nhiễm nguồn nước ngầm
Hình 2.10 Nước ngầm bị nhiễm asen
Hình 2.11 Nước ngầm bị nhiễm phèn, sắt
Nước ngầm cung cấp cho sinh hoạt chiếm 30% tổng lượng nước cấp. Lượng nước ngầm
khai thác tại thành phố hiện nay khoảng 524.456m³/ngày, trong đó cho sản xuất khoảng
Nhóm 5
23
Khu vực bùng binh Cây Gõ - Tân Hòa Đông Lò Gốm (Q.6) được coi là điển hình ngập do
kênh rạch bị lấn chiếm, bồi lắng, không còn khả
năng thoát nước…Tại đây, mực nước dâng trong
kênh rạch cao hơn nhiều so với mực thủy triều
tại các cửa sông và đó là nguyên nhân gây ngập
phổ biến nhất. Nước mưa trong khu vực bị ứ lại
gây nên tình trạng ngập sâu từ 0,3 - 0,6m. Sau khi Hình 2.12 Bùng binh Cây Gõ
"Vùng rốn lũ trong đô thị".
thủy triều xuống và dứt mưa, phải cần từ 6 tiếng
đến 18 tiếng mới có thể hết ngập. Điều đáng nói ở đây, tình trạng ngập xảy ra ngay cả khi
Nhóm 5
24
Hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
GVHD: Lê Thị Kim Oanh
chỉ có mưa ở thượng lưu kênh lưu. Tuyến kênh Tân Hóa dài khoảng 7,6 km, bắt đầu từ
láng Bàu Cát và kết thúc tại vị trí giao với kênh Tàu Hủ. Tuy nhiên, từ khi khu vực Bàu Cát
trở thành khu đô thị hóa, diện tích đất thấm tự nhiên bị thu hẹp, cộng thêm tình trạng lấn
chiếm kênh rạch ngày một gia tăng khiến tình hình ngập ở khu vực này ngày càng nặng
hơn.
+ Do triều cường: Bình Thạnh được xem là khu
vực ngập điển hình do triều cường và ngập
nặng hơn khi triều cường trùng với mưa. Ở đây,
mực nước ngập sâu, nước rút rất chậm do hệ
thống thoát nước không đủ (thường là khoảng 3
- 6 giờ). Bình Thạnh tuy không sánh bằng