Hỏi :
Năm 2008, anh trai tôi mâu thuẫn với hai người hàng xóm, dẫn đến xô xát và gây thương tích cho họ tỷ
lệ thương tật của mỗi người là 8%. Gia đình tôi chịu toàn bộ viện phí, phía bị hại cũng không yêu cầu gì
thêm. Đến ngày 22/8/2009, hai người này làm đơn gửi cơ quan công an yêu cầu truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với anh trai tôi về hành vi cố ý người gây thương tích. Vậy xin hỏi, thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với vụ việc này còn không và anh trai tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?.
Trả lời :
Theo khoản 2, Điều 23, BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 qui định thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự như sau: Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; mười năm đối với các
tội phạm nghiêm trọng; mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; hai mươi năm đối với các
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Dựa vào tình tiết vụ việc, anh trai ông thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Vụ việc xảy ra
cách đây hơn một năm, vì vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh trai ông vẫn còn.
Theo khoản 1, Điều 104, BLHS quy định: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức
khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu thàng đến ba
năm: “ Dựng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho
nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người…”.
Căn cứ vào quy định này anh trai ông thuộc trường hợp phạm tội với nhiều người và sẽ bị áp dụng
mức hình phạt theo quy định tại khoản 1 điều này.
Hỏi :
Để đùa nghịch, bạn tôi đã viết một số đoạn mã và gửi kèm email cho một số người quen nhằm làm cho
máy tính của người nhận sẽ không chạy được các chương trình khác nhưng đã bị cơ quan điều tra phát
hiện. Xin cho biết liệu bạn tôi có bị xử lý hình sự không? Nếu có thì mức xử phạt thế nào?
Trả lời :
Theo quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự thì người có hành vi tạo ra và cố ý lan truyền, phát
tán các chương trình virus qua mạng máy tính hoặc bằng các phương thức khác gây rối loạn hoạt động,
phong tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của máy tính hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt
hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội tạo ra và lan
truyền, phát tán các chương trình virus tin học". Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến
100 triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Nêu phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc
thiệt hại xảy ra.
Nếu trường học nơi các cháu đang theo học chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì
cha, mẹ cháu C phải có trách nhiệm bồi thường.
Đối với trách nhiệm bồi thường dân sự các chị phải có đơn yêu cầu tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết
nếu các bên không thỏa thuận được.
Hỏi :
Tôi bị tòa kết án hai năm tự về tội cố ý gây thương tích. Trước đó tôi được tại ngoại. Nay do hoàn cảnh
gia đình khó khăn, tôi lại là lao động chính trong gia đình nên tôi có thể xin hỗn chấp hành hình phạt tự
hay không?
Trả lời :
Người bị xử phạt tự có thể được hỗn chấp hành hình phạt trong trường hợp là người lao động duy
nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tự thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt. Đối tượng này
được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc
các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Ông có thể nộp đơn đến tòa án đã xét xử vụ án để được xem xét, giải quyết. (Điều 61 BLHS)
Hỏi :
Bạn tôi bị truy tố về tội cướp tài sản và sắp bị đưa ra xét xử. Nếu chú ruột của bạn tôi là liệt sĩ thì liệu
bạn ấy có được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không?
Trả lời :
Nếu có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột là có người công với nước hoặc có thành tích
xuất sắc được nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như anh hùng lao động, anh hùng lực
lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà
giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của nhà
nước thì bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có thể còn có những
tình tiết khác cũng có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh
cụ thể của người phạm tội mà có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong
bản án. Người bạn của ông có thể trình bày hoàn cảnh gia đình để được tòa xem xét thêm.
(Điểm c mục 5 NQ 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4-8-2000 của HĐTP TANDTC; CV 148 ngày 30-9-2002
của TANDTC)
Hỏi :
Trường hợp mà ông đề cập thời gian gần đây đang là mối quan tâm và nỗi bức xúc của rất nhiều
người và đã được đề cập đến rất nhiều qua các phương tiện thông tin đại chúng.
“Khủng bố” bằng tin nhắn được thể hiện dưới muôn vàn hình thức của người thực hiện bằng cách
nhắn tin qua máy điện thoại di động nhằm mục đích quấy nhiễu, sỉ nhục, chửi bới, lăng mạ, đe doạ hành
hung, đe doạ tống tiền hoặc đe doạ chém, giết, cướp đi sinh mạng của ngời nhận tin nhắn….Hành vi này
cũng có thể xuất phát từ việc trêu, đùa giữa những ngời có quan hệ thân thiết với nhau, nhưng cũng có
thể vì mục đích thù tức cá nhân mà nhằm một mục đích cụ thể nào đó. Mục đích chủ yếu của người
“khủng bố” qua tin nhắn là làm cho người nhận tin nhắn rơi vào trạng thái hoang mang, lo sợ, mất ăn
mất ngủ, không yên tâm sinh sống và làm việc, gây đảo lộn mọi sinh hoạt bình thường của người nhận
tin nhắn, thậm chí trong nhiều trường hợp người bị hại vì lo sợ những lời đe doạ đó sẽ xảy ra ngay tức
khắc dẫn đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng khác.
Để xử lý hành vi này cần căn cứ vào mức độ và hành vi cụ thể của người thực hiện, hậu quả do
hành vi đó gây ra, thiệt hại thực tế xảy ra, mức độ nghiêm trọng của hậu quả đó… để áp dụng hình thức
xử lý hoặc xác định tội danh cho phù hợp. Trong những trường hợp những tin nhắn khủng bố chỉ dừng
lại ở mức độ thông thường, chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người thực hiện có thể chỉ bị xử lý hành
chính kèm theo các biện pháp cưỡng chế khác như buộc công khai xin lỗi, cam kết không tái phạm…Tuy
nhiên trong các trường hợp khác gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị xử lý hình sự theo các tội danh
tương ứng. (Ví dụ như làm cho người bị hại lo sợ hành vi đe doạ giết người sẽ được thực hiện thì ngời
nhắn tin khủng bố có thể bị khởi tố về tội đe doạ giết người theo quy định tại điều 103 Bộ luật hình
sự….)
Trường hợp mà ông đưa ra, bạn ông nên tố cáo việc mình bị khủng bố bằng tin nhắn đến cơ quan
công an để có biện pháp xử lý thích đáng đối với người thực hiện.
Hỏi :
Trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian gần đây liên tục đưa tin về các vụ bạo hành, xâm
phạm đến thân thể trẻ em, như vụ em Nguyễn Thị Bình bị hai vợ chồng quán phở hành hạ suốt 10 năm,
vụ bộ Nguyễn Hữu Lợi (9 tuổi) ở huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh bị mẹ nuôi hành hạ đánh đập tàn
bạo bằng búa, hay vụ bộ Bông (9 tuổi) ở TP Hồ Chí Minh bị mẹ nuôi hành hạ bằng cách dội nước sôi
vào người…. Chúng tôi muốn biết pháp luật nước ta quy định nh thế nào về loại hình tội phạm này?
13 đến dưới 16 phải miễn cưỡng giao cấu với người đó. Thông thường những thủ đoạn khiến trẻ em đang
lệ thuộc người phạm tội là lợi dụng trẻ em đang ở trong tình trạng quẫn bách hoặc không có điều kiện
kháng cự. Sự lệ thuộc ở đây có thể hiểu về vật chất giữa người nuôi dưỡng với người được nuôi dưỡng;
về xã hội như giữa giáo viên với học sinh, giữa người phụ trách với thiếu niên….
Tuy nhiên, trong trường hợp mà bà nêu thì nạn nhân cũn bị nhiễm HIV từ người phạm tội. Như
vậy, cháu bộ không những bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về thể chất
và tâm sinh lý mà còn có thể bị người phạm tội trước đi mạng sống của mình. Do đó, hình phạt sẽ nặng
thêm căn cứ vào nội dung quy định tại khoản 3 của điều luật nói trên. Cụ thể: Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau: nhiều người cưỡng dâm một người; phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người, hoặc
biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội, thì bị phạt tự từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tự
chung thân.
Hỏi :
Con trai tôi phạm tội “giết người”. Vì con trai tôi mới 17 tuổi và chưa có thu nhập nên tôi đã chủ động
bồi thường cho gia đình người bị hại. Tuy nhiên, gia đình người bị hại không nhận tiền bồi thường. Xin
cho hỏi, tôi phải làm như thế nào để con trai tôi có thể được hưởng sự khoan hồng của pháp luật?"
Trả lời :
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội tự nguyện sửa
chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ - HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC thì khi: “Bị cáo (không phân biệt là người đã thành niên hay người chưa thành niên) hoặc cha,
mẹ của bị cáo chưa thành niên đã tự nguyện dựng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc
phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhưng người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người
đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận, nếu số tiền, tài sản đó đã được giao cho cơ quan tiến hành tố
tụng, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc sửa chữa, bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;” là một trong những trường
hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ nêu trên.
Do đó, khi bạn đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại nhưng họ từ chối nhận, thì bạn
Trả lời :
Theo quy định từ điều 63 đến điều 67 - Bộ luật Hình sự thì những trường hợp sau đây đương
nhiên được xóa án tích: Người được miễn hình phạt; Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an
ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình chống loài người và tội phạm chiến tranh, nếu từ khi chấp hành
xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau
đây:
- Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được
hưởng án treo.
- Ba năm trong trường hợp hình phạt là tự đến ba năm.
- Năm năm trong trường hợp hình phạt tự từ trên ba năm đến mười lăm năm.
- Bảy năm trong trường hợp hình phạt tự từ trên mười lăm năm.
Xóa án tích theo quyết định của Tòa án: Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người
đã bị kết án về các tội quy định các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình chống loài
người và tội phạm chiến tranh, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ
chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây:
- Đã bị phạt tự đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm kể từ khi chấp hành xong bản
án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
- Đã bị phạt tự từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm kể từ
khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
- Đã bị phạt tự trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm kể từ khi chấp hành
xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt được quy định tại điều 66 - Bộ luật Hình sự: Trong trường
hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó
công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị thì có thể được xóa án tích nếu
người đó đã đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn quy định.
Trường hợp bác hỏi, con trai bác đã đi cai nghiện về vào năm 2004, thời gian quản lý sau cai 24
tháng ở xã phường cũng đã hết. Hiện giờ con trai bác không mắc nghiện đã có vợ con và đã đi làm bình
thường, con trai bác cũng không phạm vào các trường hợp nêu trên. Vì vậy, bác không phải làm đơn đến
cơ quan nào để xin xóa án là người nghiện cho con trai bác.
Hỏi :
hình phạt là 2 năm tự. * Trường hợp thứ hai, một thanh niên 19 tuổi quan hệ tình dục với cô gái hơn 12
tuổi (nhưng chưa đủ 13 tuổi), Tòa án xử phạt 12 năm tự vì tội hiếp dâm trẻ em. Tôi xin hỏi, cả hai người
bị hại trong cả hai vụ án đều là người chưa đủ 18 tuổi (là người vị thành niên) nhưng tại sao hai bị can:
người thì bị xử phạt tội giao cấu với trẻ em, còn người thì bị xử phạt tội hiếp dâm trẻ em?
Trả lời :
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Luật Dân sự,
Luật Hình sự...) thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi.
. Tại khoản 1 Điều 115 - Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: " Người nào đã thành niên mà giao cấu với
trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tự từ một năm đến năm năm..."
Như vậy, theo chị hỏi ở trường hợp thứ nhất bị can giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ
16 tuổi thì bị phạm tội giao cấu với trẻ em (mặc dù người bị hại đồng ý, tự nguyện) và bị xử phạt 2 năm
tự là hợp lý (khung hình phạt ở khoản 1 có mức khởi điểm từ 1 năm tự trở lên).
Trong khi đó, tại khoản 1 và 4 Điều 112 - Bộ luật Hình sự 1999 quy định tội hiếp dâm trẻ em, như
sau: "Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tự từ bảy năm đến mười lăm
năm" (khoản 1).
- "Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị
phạt tự từ mười hai năm đến hai mươi năm, tự chung thân hoặc tử hình" (khoản 4).
Như vậy, trong trường hợp thứ hai mà chị hỏi thì người bị hại chưa đủ 13 tuổi và theo khoản 4 Điều 112 đã viện dẫn trên đây thì "Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp
dâm trẻ em". Tòa án phạt bị can 12 năm tự là mức án đầu khoản 4 là nhẹ (vì khoản 4 có khung hình phạt
đến tử hình).
Nội dung chị hỏi có liên quan đến nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng nói chung để bảo vệ
sự phát triển lành mạnh, bình thường của trẻ em, pháp luật xử phạt rất nghiêm khắc các hành vi xâm hại
đến trẻ em.
Hỏi :
Con trai tôi học lớp 7 (cháu 13 tuổi). Trong năm học vừa rồi, lúc cháu đang học tại trường thì xảy ra
chuyện đánh nhau giữa cháu với một bạn. Bạn của cháu phải đến bệnh viện khâu vết thương và điều trị
tại bệnh viện 3 ngày, ngoài ra bạn của cháu còn bị vỡ điện thoại di động. Qua sự việc trên, tôi có đưa con
tôi đến xin lỗi gia đình của bạn cháu. Vừa rồi, mẹ của bạn cháu có đến gặp tôi và yêu cầu bồi thường tổn
được quy định tại điều 121 - Bộ luật Hình sự 1999.
Về thủ tục, chị có thể đưa em gái của chị đến điều trị (hoặc khám bệnh) tại một cơ sở y tế, xin
giấy y chứng, sau đó viết đơn khởi kiện tại công an huyện. Cơ quan công an có trách nhiệm giải quyết
vụ việc theo quy định của pháp luật.
Nếu cần trao đổi cụ thể hơn, chị vui lòng điện thoại số 0913.755442 để gặp luật sư. Chúc chị gặp
may mắn.
Hỏi :
Sắp tới, tôi và mấy người bạn đi Lạng Sơn chơi, dự định mua một số thanh kiếm về để treo trang trí
trong nhà. Xin hỏi việc chúng tôi mua dao, kiếm để treo trang trí có bị pháp luật coi là tội phạm không?
Nếu có thì bị xử lý thế nào?
Trả lời :
Theo quy định tại điểm D, khoản 1, Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 về quản lý vũ khí - vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
thì "Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc
chất cứng, cung, nỏ, cơn các loại và các loại khác do Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) quy định".
Người có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ
khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo Điều 233 Bộ luật Hình sự.
Theo điều luật này, người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án
về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tự từ ba tháng đến hai năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tự từ một năm đến năm năm: Có tổ
chức; vật phạm pháp có số lượng lớn; vận chuyển, mua bán qua biên giới; gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc tái phạm nguy hiểm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt
quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
Theo các quy định nói trên thì việc mua dao, kiếm là hành vi bị pháp luật cấm. Nếu người có hành
vi trên vi phạm lần đầu thì có thể chỉ bị xử phạt hành chính; trong trường hợp đã bị xử phạt hành chính
nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” mà làm chết một người thì phải chịu trách nhiệm
hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự, tức là có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.
Tuy nhiên, trong trường hợp bạn nêu, lái xe gây tai nạn khi say rượu và sau khi gây tai nạn lại bỏ
chạy để trốn tránh trách nhiệm thì hành vi phạm tội lại có tới hai tình tiết định khung quy định tại khoản
2 Điều 202 Bộ luật Hình sự là phạm tội “Trong khi say rượu hoặc say do dựng các chất kích thích mạnh
khác” và “Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm…” nên lái xe sẽ bị xét xử theo khoản này,
với mức hình phạt tự từ 3 năm đến 10 năm.
Về việc trả lại phương tiện: Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong vụ án giao
thông nói trên, chiếc ôtô gây tai nạn được coi là vật chứng của vụ án. Khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng
hình sự quy định về việc xử lý vật chứng cũng có quy định cho phép “Trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử, cơ quan có thẩm quyền… có quyền quyết định trả lại những vật chứng… cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.”. Do vậy, việc Cơ quan
điều tra trả xe gây tai nạn cho chủ xe sử dụng khi vụ việc đang được giải quyết là phù hợp với quy định
vừa trích dẫn.
Hỏi :
Ngày 14-8-2007, tôi có đến một thẩm mỹ viện để điều trị mụn. Tại đây, cơ V. cam kết bằng giấy tay rằng
đến ngày 24-11-2007 sẽ trị hết mụn cho tôi với giá 4 triệu đồng và nếu không trị hết mụn thì trả lại cho
tôi toàn bộ số tiền đã nhận. Khi đến hạn cơ V. đưa ra mà mụn của tôi vẫn y như cũ nên cơ V. viết giấy
cam kết trả tiền cho tôi lúc 4g ngày 28-11-2007. Thế nhưng, đến đúng hạn trả tiền thì cơ V. không trả
cho tôi mà còn thách thức tôi đi kiện. Xin hỏi cơ V. có phạm tội lừa đảo không? Làm sao để tôi lấy lại
tiền?
Trả lời :
- Theo thông tin mà bạn cung cấp thì hành vi của cơ V. chưa đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản qui định tại điều 139 Bộ luật hình sự, mà chỉ dừng lại ở quan hệ hợp đồng dân sự. Theo đó, cơ V.
đã không thực hiện đúng trách nhiệm theo hợp đồng thì phải thực hiện cam kết của mình. Bạn có quyền
gửi đơn khởi kiện đến tòa án cấp huyện nơi cơ V. cư trú, làm việc để yêu cầu tòa án buộc cơ V. phải trả
lại tiền theo cam kết.
không? Tôi phải làm gì trong trường hợp này?
Trả lời :
Hành vi chống người thi hành công vụ được hiểu là hành vi xâm phạm vào hoạt động bình thường
của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước.
Người thi hành công vụ là người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
giao vì lợi ích chung của toàn xã hội. Em chị đã dùng sức mạnh ôm giữ người cảnh sát, tác động lên thân
thể họ buộc họ không thể thực hiện được nhiệm vụ mặc dù chưa gây thương tích cho họ, nhưng lại tạo
điều kiện để một hành vi vi phạm khác trốn tránh pháp luật. Ngoài ra em chị còn vi phạm vào Nghị quyết
32 năm 2007 của Chính phủ về việc tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm.
Theo khoản 1, điều 257 - Bộ luật Hình sự thì em chị có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3
năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Song, hành vi chống người thi hành công vụ được thực hiện bởi những người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.
Về cơ bản, hành vi của em chị đã có dấu hiệu cấu thành tội chống người thi hành công vụ. Việc
bắt giữ em chị là đúng pháp luật, còn việc xử lý em chị như thế nào còn phải dựa trên một số căn cứ khác
như năng lực trách nhiệm hình sự.
Chị cần thông báo sớm để cơ quan pháp luật biết về bệnh tâm thần của em chị, xuất trình những
giấy tờ liên quan đến bệnh tâm thần của em chị cho cơ quan pháp luật xem xét.
Hỏi :
Năm 2007 con trai tôi bị Tòa án quận Đống Đa xử về hành vi trộm cắp, tòa án tuyên con tôi 10 tháng tự
nhưng cho hưởng án treo, 24 tháng thử thách. Năm 2008 con tôi lại bị Tòa án quận Đống Đa xử 30 tháng
tự về tội tàng trữ ma túy. Tổng hợp hình phạt con tôi phải chấp hành là 40 tháng. Thời gian tạm giam,
tạm giữ của bản án năm 2007 khi chuyển thành án giam cháu không được trừ có đúng không? Điều kiện
để được xét giảm thời gian thi hành án như thế nào?
Trả lời :
Trong các hình phạt của Nhà nước, thì án treo không phải là hình phạt đối với người có hành vi
phạm tội, khi xử tự thời gian không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân, và các tình tiết giảm nhẹ đối với
người phạm tội, xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt tự, căn cứ theo điều 60 - Bộ luật Hình sự.
c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau
gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.
Theo các quy định nói trên, em trai anh có thể làm đơn gửi cơ quan thi hành án đề nghị được
miễn, giảm khoản tiền còn lại.
Hồ sơ đề nghị xét miễn giảm gồm: đơn xin miễn giảm thi hành án của người phải thi hành án kèm
theo các giấy tờ chứng minh điều kiện để miễn, giảm thi hành án. Đơn xin miễn, giảm thi hành án phải
có xác nhận của UBND xã, phường nơi người xin miễn, giảm thi hành án cư trú xác nhận. Ngoài ra, cần
gửi kèm theo đơn: Bản sao bản án, quyết định (hoặc trích lục bản án, quyết định) của tòa án; các quyết
định về thi hành án; chứng từ thu chi về thi hành án;
Đơn và hồ sơ gửi kèm được gửi đến cơ quan thi hành án đang thụ lý việc thi hành án.
Hỏi :
Con tơi cùng một người bạn của cháu phạm tội cướp tài sản khi cả hai còn ở tuổi vị thành niên. Xin hỏi,
theo pháp luật thì tội cướp tài sản sẽ bị xử phạt như thế nào? Trường hợp con tôi phạm tội còn ở tuổi vị
thành niên thì pháp luật quy định việc xử phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ra sao?
Trả lời :
Theo điều 133 - Bộ luật Hình sự quy định tội cướp tài sản như sau: Người nào dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không
thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tự từ ba năm đến mười năm.
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với
họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào
những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu việc phòng ngừa tội phạm. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết
phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì tòa án áp dụng một trong các biện
pháp tư pháp được quy định tại điều 70 của Bộ luật Hình sự.
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tự
có thời hạn, tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối
với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. án đã tuyên đối
với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái
phạm nguy hiểm.
gạ bạc, đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép, tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền.
Phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức đánh đề sau
đây: Làm chủ lô, đề, tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, tổ chức
mạng lưới bán số lô, số đề; tổ chức các loại chơi cá cược cá độ trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao,
vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.
Hỏi :
Xin hỏi tội vu khống được xác định như thế nào và hình phạt đối với tội này?
Trả lời :
Theo điều 122 Bộ luật hình sự: "Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm
xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người
khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ
đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm"
Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt từ từ một năm đến bảy năm:
1. Có tổ chức
2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
3. Đối với nhiều người
4. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình
5. Đối với người thi hành công vụ
6. Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Ngoài ra người phạm tội có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười tám triệu đồng, cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Hỏi :
Em trai tôi phạm tội cố ý gây thương tích, bị tạm giam 3 tháng, sau đó được Tòa xử 12 tháng tù treo, thời
gian thử thách là 18 tháng. Xin quý báo cho biết thời gian thử thách Tòa tuyên đối với em tôi có đúng
không? Pháp luật quy định thế nào về thời gian thử thách của người được hưởng án treo?
Trả lời :
Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
TAND Tối cao số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, khi
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành
hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh và cơ quan
công an đã cú quyết định truy nã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì thời gian trốn tránh
không được tính và thời hiệu thi hành bản án hình sự tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị
bắt giữ. Cố tình trốn tránh là cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu, thay đổi họ tên, hình dạng... làm cho cơ quan có
thẩm quyền thi hành án không biết họ ở đâu hoặc không phát hiện được.
Hỏi :
Con trai tôi gây thương tích một người hàng xóm mất 43% sức khỏe, đã bị tạm giam. Tôi đã bồi thường
cho nạn nhân nhưng gia đình nạn nhân không nhận, nói để chờ Tòa xử. Xin hỏi con tôi có được Tòa
giảm nhẹ hình phạt không?
Trả lời :
Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, người phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nghị quyết của
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Bộ luật Hình sự cũng hướng dẫn rõ: Được áp dụng tình tiết nêu trên nếu thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa
chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;
b) Bị cáo là người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa
chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nếu bị cáo không có
tài sản;
c) Bị cáo (không phân biệt là người đã thành niên hay người chưa thành niên) hoặc cha, mẹ của bị cáo
chưa thành niên đã tự nguyện dựng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhưng người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp
của họ từ chối nhận, nếu số tiền, tài sản đó đã được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục
hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;
Như vậy, nếu bạn đã tự nguyện bồi thường cho nạn nhân nhưng gia đình nạn nhân không nhận thì
Hỏi :
Hỏi: Xin cho biết quy định của pháp luật về xóa án.
Trả lời :
Việc xóa án tích là thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người đã phạm tội hình sự. Người
được xóa án tích được coi như chưa bị kết án.
Tại các Điều 63, 64, 65, 66 và 67 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về việc xóa án tích như
sau:
* Xóa án tích
Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật
này.
Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận.
* Đương nhiên được xóa án tích
Những người sau đây đương nhiên được xóa án tích:
1. Người được miễn hình phạt.
2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu
từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới
trong thời hạn sau đây:
a. Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền. Cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng
được hưởng án treo;
b. Ba năm trong trường hợp hình phạt là tự đến ba năm;
c. Năm năm trong trường hợp hình phạt là tự từ trên ba năm đến mười lăm năm;
d. Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tự từ trên mười lăm năm.
* Xóa án tích theo quyết định của Tòa án
1. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội được quy định tại
Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện,
nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau
đây:
a. Đã bị phạt tự đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong
Theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:
Toà án không xử phạt chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội; Không áp dụng
các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội; Không áp dụng hình phạt tiền đối với
người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Khi xử phạt tự có thời hạn, Toà án cho
người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức áp dụng đối với người đã thành niên
phạm tội tương ứng. Án đã tuyên với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính
để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Từ những quy định của điều luật có thể hiểu như sau:
+ Đối với hình phạt tiền: Được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi nếu người phạm tội có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Như vậy quy định này nhằm hạn
chế việc áp dụng hình phạt tự đối với người chưa thành niên phạm tội. Mức phạt tiền đối với người chưa
thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 mức tiền phạt mà điều luật quy định.
+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: Luật quy định giới hạn hình phạt áp dụng cho người chưa
thành niên phạm tội không quá 1/2 thời hạn mà điều luật quy định và người bị kết án không bị khấu trừ
thu nhập.
Đối với hình phạt tự: Bộ luật phân hoá người chưa thành niên làm hai đối tượng là người từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì đường lối xử lý khác nhau. Người từ đủ 14
tuổi đến đủ 16 tuổi xử lý nhẹ hơn đối với người từ đủ 16 tuổi đến đủ 18 tuổi. Trong từng trường hợp cụ
thể mà luật áp dụng mức hình phạt khác nhau phù hợp với độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội
cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Như luật sư đã nêu thì pháp luật quy định rất rõ ràng, cụ thể đối với xử lý người chưa thành niên
phạm tội; nên con của ông sẽ được áp dụng theo nguyên tắc này khi Toà án đưa ra xét xử.
Hỏi :
Ở địa phương tôi có một số đối tượng phạm tội, bị Toà án xử tự, xử cải tạo tại địa phương. Hàng năm số
đối tượng này được nhà nước xét giảm án, trong số này có người thực sự đã cải tạo tốt song cũng có
những đối tượng ra tù lại tiếp tục phạm tội, đi tù một thời gian lại được tha, có những người bị xử tự
chung thân mà 12 năm họ đã được xét giảm. Chúng tôi chưa nắm rõ quy định của pháp luật về vấn đề
này nhưng thấy việc tha tự trước thời hạn như vậy là chưa đúng, không có tác dụng trong đấu tranh
phòng ngừa tội phạm. Rất mong chuyên mục bớt thời gian tư vấn để chúng tôi hiểu luật và phản ảnh
những tiêu cực trong chấp hành pháp luật.
bị được đưa ra xét xử. Xin hỏi luật sư nếu người bị xử về tội này được hưởng án treo tại địa phương thì
cần có những điều kiện như thế nào. Tôi rất muốn biết pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào, để
biết trường hợp người thân của gia đình tôi.
Trả lời :
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về án treo (Điều 60) như sau: Khi người bị xử phạt tự không
quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần
thiết phải chấp hành hình phạt tự, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một
năm đến 5 năm. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức,
nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm
phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Những quy định của Bộ luật hình sự được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng
dẫn cụ thể như sau:
Chỉ cho người bị xử phạt tự hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Bị xử phạt tự không quá 3 năm không phân biệt tội gì.Trong trường hợp người bị xét xử trong cùng
một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá 3 năm tự, thì cũng có thể cho
hưởng án treo.
+ Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp
luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi làm việc ổn định hoặc
có nơi thường trú cụ thể rõ ràng;
+ Có từ hai tình tiết giảm nhẹ (Điều 46 BLHS) trở lên và không có tình tiết tăng nặng (Điều 48 BLHS),
trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có
tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ
hai tình tiết trở lên;
+ Không bắt họ đi chấp hành hình phạt tự thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh
hưởng xấu trong cuộc dấu tranh phòng chống tội phạm.
Khi giao người bị xử phạt tự cho hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc
cho chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu
người được hưởng án treo là cán bộ công chức thì giao cho cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý người được
hưởng án treo giám sát và giáo dục.
Nếu trong quá trình được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tự mà người đó có hành vi vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó sẽ bỏ trốn thì chính quyền xã, phường được
giao quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tự có trách nhiệm báo cho Chánh án đã ra
quyết định tạm đình chỉ để huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ đó và bắt họ đi chấp hành hình phạt tự. Cơ
quan công an cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức bắt, áp giải họ về trại giam để tiếp tục chấp hành hình phạt tự.
Nếu họ chữa bệnh mà sức khoẻ đã hồi phục hồi thì chính quyền địa phương được giao quản lý
người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tự phải báo cho Chánh án đã ra quyết định biết để ra ngay
quyết định tiếp tục thi hành án phạt tù đối với họ.
Như vậy, pháp luật quy định rất cụ thể về chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người đang
chấp hành hình phạt tự bị ốm đau, tạo diều kiện cho họ chữa bệnh, ổn định sức khoẻ đồng thời nâng cao
trách nhiệm của chính quyền xã, phường nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tự cư trú. Nếu
họ có ý định bỏ trốn hay trốn tránh việc chấp hành hình phạt tự thì pháp luật sẽ cưỡng chế để họ phải
thực hiện đúng pháp luật.
Hỏi :
Đầu năm 2007 con tôi bị xử phạt hành chính về hành vi phát rừng làm rẫy và buộc phải trồng lại rừng
cho Lâm trường. Đến tháng 8/2007 gia đình tôi tiếp tục phát rừng phần đất giáp ranh với đất của gia đình
thì lực lượng Kiểm lâm lại tiếp tục xử phạt hành chính đối với con tôi. Việc xử phạt, gia đình đã nộp tiền
phạt và phần đất phát rừng Lâm trường giao lại cho gia đình quản lý và có trách nhiệm trồng rừng và nộp
một phần hoa lợi từ rừng cho Lâm trường, đóng thuế cho Nhà nước. Đầu năm 2008 do có một số hộ dân
kiện tụng đối với gia đình và Lâm trường nên Công an có gọi con tôi lên lấy lời khai và nói sẽ truy cứu
trách nhiệm hình sự. Xin hỏi luật sư việc Công an khởi tố hình sự đối với con tôi như vậy có đúng pháp
luật không, xin nêu quy định của pháp luật về vấn đề này?
Trả lời :
Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án
tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ
đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
Đối chiếu với trường hợp của con ông đầu năm 2007 đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành
Đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, luật hình sự và các Nghị quyết của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đều quy định rõ.
Khi một người có các hành vi sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 197 Bộ luật
hình sự( BLHS):
+ Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; chỉ huy,
phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma tuý, địa điểm. Phương tiện, dụng cụ dựng vào việc
sử dụng trái phép chất ma tuý, tìm người sử dụng trái phép chất ma tuý;
+ Những người thực hiện một trong những hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công điều hành của
người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: đưa trái phép chất ma
tuý vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma tuý cho người khác để họ sử dụng, chuẩn bị chất
ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa
điểm, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dựng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức
nào nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác…
Đối với trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà gây tổn hại sức khoẻ của nhiều
người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% thì bị phạt tự từ 15 năm đến 20 năm tự.
Như luật sư đã nêu các quy định của pháp luật ở phần trên, đối chiếu với trường hợp bà hỏi thì
người rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng chất ma tuý sẽ bị xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma
tuý được quy định tại khoản 3 Điều 197 BLHS năm 1999 . Những người bị họ rủ vào sử dụng chất ma
tuý thì tuỳ từng trường hợp cụ thể họ có thể bị xử lý theo điều 199 BLHS9 Tội sử dụng trái phép chất ma
tuý.
Hỏi :
Hiện nay trong tội phạm về ma tuý có rất nhiều những khái niệm về chất ma tuý, tiền chất ma tuý…Tôi
xin hỏi đối với người bán xái thuốc phiện thì việc xác định như thế nào để tính hàm lượng thuốc phiện
xem người đó có phạm tội hay không? (căn cứ để tính dựa vào quy định như thế nào). Khi người phạm
tội phạm các tội về ma tuý nếu không giám định thì có thể xử lý họ bằng hình sự được không?. Xin nêu
các quy định của pháp luật về các vấn đề nêu trên?
Trả lời :
Theo quy định của Bộ luật hình sự và Thông tư liên tịch của liên bộ Bộ Công an, Viện kiểm sát
phạt đối với họ.
Hỏi :
Em trai tôi bị kết án 15 năm tự về tội giết người, đến nay đã chấp hành án được 6 năm và đang bị suy tim
độ 3. Xin hỏi những phạm nhân nào được xét đặc xá? Em tôi có được đặc xá nhân dịp 2/9 sắp tới không?
Trả lời :
Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đặc xá, người bị kết án phạt tù có thời hạn, tự chung
thân đã được giảm xuống tự có thời hạn đang chấp hành hình phạt tự được đề nghị đặc xá khi có đủ các
điều kiện sau đây:
- Có đủ điều kiện (chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao
động; trong quá trình chấp hành hình phạt tự được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá
không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm
về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá phải chấp
hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác) được
Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành hình phạt tự ngắn hơn so với thời gian (ít nhất là một
phần ba thời gian đối với hình phạt tự có thời hạn; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tự chung
thân) khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tự, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam.
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa
xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao
động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với
nước
c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc
xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền.
d) Khi phạm tội là người chưa thành niên
đ) Là người từ 70 tuổi trở lên.
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận
của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú
g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.
Theo Nghị định của Chính phủ số 76/2008/NĐ-CP ngày 4/7 quy định chi tiết thi hành một số điều
nước
c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc
xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền.
d) Khi phạm tội là người chưa thành niên
đ) Là người từ 70 tuổi trở lên.
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận
của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú
g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.
Theo Nghị định của Chính phủ số 76/2008/NĐ-CP ngày 4/7 quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật đặc xá, người được coi là người đang mắc bệnh hiểm nghèo là người mắc một trong các bệnh
sau: ung thư, bại liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng; suy tim độ III hoặc suy thận độ IV trở
lên, có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa hoặc bản sao Bệnh án của bệnh viện cấp tỉnh trở lên;
nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS đang có những nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu, có
phiếu xét nghiệm HIV và kết luận của Trung tâm Y tế cấp huyện trở lên.
Theo các quy định vừa trích dẫn, em bạn đang bị suy tim độ III được coi là người đang mắc bệnh
hiểm nghèo, nếu đáp ứng được các điều kiện khác như đã nói ở trên, em bạn thuộc phạm nhân xét đặc
xá.
Hỏi :
Đề nghị cho biết những vụ tai nạn giao thông (TNGT) nào sẽ bị khởi tố và xử lý về hình sự? Vụ TNGT
thế nào thì được coi là nghiêm trọng ?
Trả lời :
Theo quy định của pháp luật hiện hành, vụ TNGT gây hậu quả từ mức nghiêm trọng trở lên, có
dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan công an thụ lý vụ tai nạn (Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật
tự xã hội; Phòng Cảnh sát giao thông công an cấp tỉnh) sẽ khởi tố vụ án để điều tra. Phòng Cảnh sát giao
thông công an cấp tỉnh, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố phải củng cố tài liệu, hồ
sơ và chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra về trật tự xã hội có thẩm quyền để điều tra, xử lý theo quy
định của pháp luật.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tự từ bảy năm đến mười lăm năm: Có tổ
chức; phạm tội nhiều lần; vì động cơ đê hèn; đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên; đối với
phụ nữ mà biết là đang có thai; đối với nhiều người; đối với ngươi đang cai nghiện; gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; gây bệnh nguy hiểm cho người khác; tái phạm
nguy hiểm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tự từ mười lăm năm đến hai mươi năm:
Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người; gây
bệnh nguy hiểm cho nhiều người; đối với trẻ em dưới 13 tuổi.
- Phạm tội trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị
phạt tự từ hai mươi năm hoặc tự chung thân.
- Ngoài việc phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ
năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng tuỳ theo tính chất và mức độ phạm tội.
Hỏi :
Con trai tôi,chơi thân với B là một con nghiện. Vì nể bạn nên thỉnh thoảng con tôi đã đồng ý cho B vào
nhà để hút heroin. Ngày 25/3/2008, công an đã bắt quả tang B đang hút heroin tại nhà tôi. Công an đã gọi