TÌNH HUỐNG
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÍNH THUẾ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN S
1
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
3
I.
Nội dung tình huống
5
II.
Phân tích và xử lý tình huống
8
II.1. Mục tiêu phân tích
8
II.2. Phân tích tình huống
18
2
MỞ ĐẦU
Thực hiện đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, kim
ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng tăng cả về số lượng và giá trị.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tháng 8/2009, kim ngạch xuất nhập
khẩu của nước ta ước đạt 12 tỷ USD. Với khối lượng hàng hóa xuất – nhập khẩu
lớn như vậy, việc thu đúng, thu đủ tiền thuế cho NSNN là một trong những thách
thức lớn với ngành Hải quan. Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong
hoạt động xuất nhập khẩu, theo quy định hiện hành, 95% lô hàng được thông quan
ngay và chỉ có 5% lô làng phải kiểm tra thực tế. Việc Nhà nước cho phép doanh
nghiệp tự kê khai, tự chịu trách nhiệm là để tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập
khẩu được thuận lợi. Tuy vậy, có nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng khai báo giá tính
thuế hàng hóa thấp hơn thực tế, hoặc khai không đầy đủ các yếu tố cấu thành giá
tính thuế nhằm gian lận số thuế phải nộp. Theo thống kê của Trung tâm phân tích
phân loại ngành Hải quan, qua tiếp nhận, xử lý hơn 50.000 mẫu hàng hóa xuất
nhập khẩu theo yêu cầu của các đơn vị Hải quan, kết quả phân tích phân loại đã
làm thay đổi khoảng 60% mã số hàng hóa theo khai báo của chủ hàng. Trong đó,
trung tâm đã thay đổi mã số hàng hóa theo hướng tăng thuế suất là khoảng 2530%, giảm thuế suất từ 8 – 10%, còn lại là thay đổi mã số khác, nhưng không thay
đổi thuế suất. Như vậy trên thực tế, có khoảng hơn 10.000 mặt hàng phải điều
chỉnh tăng thuế so với khai báo của chủ hàng. Đặc biệt, có những mặt hàng phải
điều chỉnh tăng thuế suất từ 0% lên 30 hoặc 40%. Đối với hoạt động kiểm tra sau
thông quan, 90% trường hợp kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp sau khi thông quan
đều có vấn đề liên quan đến giá tính thuế.
Trên đây là những vấn đề rất bức xúc trong quản lý để chống thất thu cho
Nhà Nước.
3
trình và kiến nghị với Đoàn kiểm tra về vấn đề trên. Theo đó Công ty không
đồng ý với kết luận của Đoàn kiểm tra cho rằng: Công ty đã và đang thanh toán
một khoản phí kỳ vụ tương đương 5% của doanh thu tịnh từ sản phẩm cho
Công ty TNHH A, Đài loan, theo hợp đồng chuyển giao công nghệ và cung cấp
dịch vụ đã được Bộ khoa học và Công nghệ chứng nhận tại quyết định số
5
673/QĐ-BKHCN, ngày 06/11/2002 cho việc sử dụng bí quyết kỹ thuật để sản
xuất các sản phẩm mang thương hiệu A tại Việt Nam. Khoản phí này không
phải trả cho bản thanh toán các nguyên phụ liệu may mặc nhập khẩu hoặc
thành phẩm từ các nhà cung cấp khác và cũng không phải điều kiện để các nhà
cung cấp đó bán nguyên phụ liệu cho Công ty. Vì vậy, theo quy định của pháp
luật, khoản phí này không phải cộng vào trị giá tính thuế của nguyên phụ liệ
may mặc nhập khẩu (loại hình kinh doanh) như Đoàn kiểm tra đã yêu cầu.
- Ngày 14/11/2008, Cục Hải quan thành phố H có công văn số 2274/HQHPTGTT trả lời Công ty cổ phần S, khẳng định khoản tiền trên phải cộng vào trị
giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu. Sau khi nhận được công văn này, Công
ty đã có văn bản số 328/11/08/AP với nội dung không đồng ý với kết luật của
Cục Hải quan thành phố H. Công ty cho rằng, khoản tiền 5% Công ty thanh
toán cho Công ty A là khoản tiền phí kỳ vụ thanh toán cho việc chuyển giao bí
quyết kỹ thuật sản xuất mà không phải cho quyền sở hữu trí tuệ. Và trong
trường hợp này, bí quyết kỹ thuật không gắn liền với các đối tượng sở hữu
công nghiệp.
Mặt khác, doanh nghiệp cho rằng phí kỳ vụ không phải cộng vào trị giá tính
thuế do không có liên quan trực tiếp đến lô hàng nhập khẩu. Phí kỳ vụ chỉ trả cho
việc sử dụng bí quyết kỹ thuật có liên quan đến việc doanh số bán hàng của Công
ty, nhưng điều đó lại không có nghĩa là việc trả phí kỳ vụ là để sử dụng quyền sở
hữu trí tuệ trong các thành phẩm. Thay vào đó, việc thanh toán phí kỳ vụ chỉ dành
cho việc sử dụng bí quyết kỹ thuật để sản xuất.
Trên căn cứ đó, Công ty khẳng định việc cộng khoản phí trên vào vị giá tính
giá. Trường hợp tiền bản quyền không liên quan đến hàng hóa nhập khẩu thì
không phải công vào khi xác định trị giá tính thuế”
Theo quy định trên thì việc Công ty cổ phần S phải trả 5% doanh thu tịnh từ
sản phẩm là đển được sử dụng nhãn hiệu, giấy phép sản xuất, nhãn hiệu thương
mại, bằng sáng chế, bản quyền thiết kế… là có liên quan trực tiếp đến hàng hóa
nhập khẩu vì nếu không được sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ như trên thì công ty
không thể biết được các thông tin liên quan đến nguyên liệu và nguồn cung cấp các
nguyên liệu đó, nguồn cung cấp các máy móc thiết bị đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ
thuật của A để nhập khẩu số nguyên liệu về sản xuất ra hàng hóa mang nhãn hiệu
A của Công ty, hoặc nếu có biết được các yếu tố trên thì cũng không thể có bí
quyết, phương pháp, bản quyền, thương hiệu để sản xuất hàng đạt chất lượng và
được sử dụng nhãn hiệu A như công ty đã và đang sử dụng. Điều này đáp ứng điều
kiện đầu tiên là khoản phí có liên quan trực tiếp đến hàng hóa xuất nhập khẩu của
công ty.
- Điều kiện 2: “Tiền bản quyền và phí giấy phép phải do người mua trả trực tiếp
hay gián tiếp. Việc trả tiền bản quyền và phí giấy phép phải là một điều kiện
của việc mua bán hàng hóa nhập khẩu. Người mua hàng đồng ý trả tiền bản
quyền, phí giấy phép như một phần trong hoạt động mua bán nhằm mua được
hành hóa nhập khẩu”
Theo quy định tại Hợp đồng chuyển giao công nghệ, định kỳ 6 tháng một
lần, công ty cổ phần S phải thanh toán một khoản phí bằng 5% trên doanh thu tịnh
từ sản phẩm cho công ty TNHH A. Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định tại điểm
3.01, 3.02 của Hợp đồng chuyển giao công nghệ thì Triumph sẽ chuyển giao cho
Công ty các thông tin, kỹ thuật và bí quyết kỹ thuật liên quan đến sản phẩm, đồng
thời Công ty A sẽ cung cấp cho Công ty các thông tin liên quan đến nguyên liệu và
nguồn cung cấp nguyên liệu đó, nhằm giúp Công ty có khả năng sản xuất các sản
8
người mua phải trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ
hoặc người được chủ sở hữu trí tuệ ủy quyền hoặc người cấp phép để sử dụng các
quyền sở hữu trí tuệ, ví dụ tiền trả cho bằng sáng chế, bản quyền thiết kế, nhãn
hiệu thương mại, quyền sử dụng nhãn hiệu, bản quyền tác giả, giấy phép sản xuất.
Đối chiếu giữa định nghĩa tại điểm 1.06 của Hợp đồng chuyển giao công
nghệ và quy định tại Thông tư 40/2008/TT-BTC thì “bí quyết kỹ thuật” mà công ty
A chuyển giao cho Công ty bao gồm cả bản quyền thiết kế phù hợp với quy định
tại Thông tư 40/2008/TT-BTC. Vì vậy, khoản phí 5% nêu trên là khoản phải cộng
vào trị giá tính thuế.
Thứ ba, các căn cứ khác có liên quan đến việc phải cộng khoản phí 5%
- Theo quy định tại điểm e, khoản 2, mục VII, phần II, thông tư 40/2008/TTBTC thì phải cộng vào trị giá tính thuế đối với các khoản tiền mà người nhập
khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi bán lại, định đoạt, sử dụng hàng hóa
nhập khẩu được chuyển cho người bán dưới mọi hình thức. Trong Thông tư
cũng dẫn ví dụ sau: “người nhập khẩu phải trả khoản tiền theo tỉ lệ nhất định
tính trên doanh thu bán hàng, tiền cho thuê hàng hóa sau khi nhập khẩu”. Như
vậy, theo quy định trên thì khoản phí 5% trên doanh thu tịnh từ sản phẩm mà
Công ty thanh toán cho công ty A là khoản phải cộng vào trị giá tính thuế của
hàng hóa nhập khẩu bất kể đây là hình thức gì.
- Điểm 4.01 Hợp đồng chuyển giao công nghệ quy định: Công ty sẽ thanh toán
cho Công ty A một khoản phí kỳ vụ tương đương với 5% của doanh thu tịnh từ
sản phẩm, mỗi lần sẽ được thực hiện trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc mỗi
kỳ thanh toán. Đối chiếu quy định này với 4 điều kiện để xác định trị giá tính
thuế theo trị giá giao dịch thì Công ty đã không thỏa mãn điều kiện thứ 3 (Sau
10
khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu, người mua
không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt
hàng hóa nhập khẩu mang lại, không kể khoản phải cộng quy định tại điểm e,
khoản 2, mục VII, phần II, Thông tư 40/2008/TT-BTC). Do đó, theo quy định
- Hiệp định trị giá GATT/WTO là một hiệp định mang tính kỹ thuật cao, có thể
gây một số tranh chấp trong quá trình thực hiện
Hai là, hậu quả
- Giải quyết tình huống không tốt có thể gay ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ
quan Hải quan
- Có thể dẫn đến tình trạng trốn thuế trong các trường hợp tương tự, làm cho tình
trạng gian lận qua giá trở nên trầm trọng hơn
- Không đảm bảo thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật, đồng thời bảo vệ
quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp
2.4. Đề xuất phương án xử lý tình huống
Để giải quyết tình huống trên có cơ sở pháp lý, phương án xử lý cụ thể là
- Báo cáo Bộ Tài chính, xin chỉ đạo cụ thể
- Khẳng định khoản phí 5% trên doanh thu tịnh từ sản phẩm mà công ty đã thanh
toán cho Công ty A là khoản tiền phải cộng vào trị giá tính thuế
- Rà soát các trường hợp phát sinh tương tự như của Công ty cổ phần S đã phân
tích ở trên
Xử lý theo phương pháp này có các ưu điểm như sau
12
- Có thể làm tình huống mẫu cho các trường hợp tương tự
- Tạo được môi trường hoạt động công bằng minh bạch, tạo lòng tin của doanh
nghiệp
Đi kèm đó là nhược điểm tốn kém và mất thời gian
Ngày 24/12/2008, Cục Hải quan thành phố H đã có văn bản số 2659/HQHPTGTT, báo cáo Tổng cục Hải quan (vụ KTTT) xin ý kiến chỉ đạo, trong đó nêu rõ
quan điểm khẳng định khoản phí 5% nêu trên phải được cộng vào trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu. Điều đó đã được Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan phê chuẩn
13
- Tăng cường kết hợp với các lực lượng chức năng trong công tác điều tra, xử lý
những vụ buôn lậu lớn, truy tìm những doanh nghiệp nợ đọng tiền thuế xuất
nhập khẩu với số lượng lớn rồi bỏ trốn.
- Ngành Hải quan cũng xây dựng quy trình nghiệp vụ thực thi pháp luật đối với
công tác chống các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nghiên cứu xây
dựng kho dữ liệu về sở hữu trí tuệ, xây dựng tiêu chí quản lý rủi ro phục vụ
công tác thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, đồng thời trao đổi thông tin, hợp
tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.
- Cần tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng về kỹ năng xác định trị giá cho cả cơ
quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp.
15
KẾT LUẬN
Hiệp định trị giá tính thuế GATT với nguyên tắc tự khai báo giá, xóa bỏ
bảng giá tối thiểu là một trong những tiêu chí cần thiết và tiên tiến để Việt Nam
tham gia hội nhập thương mại quốc tế. Nhưng các gian lận qua trị giá tính thuế
thường xuyên xảy ra.
Theo thống kê, hình thức này diễn ra rất phổ biến đối với những nước mới
áp dụng hiệp định. Nhiều nhất trong việc nhập khẩu các mặt hàng có chủng loại đa
dạng, giá trị lớn, thuế suất lớn.
Để ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực này, cán bộ cơ quan Hải quan phải có
nghiệp vụ giỏi trên cơ sở hiểu biết sâu sắc đầy đủ quy định của Pháp luật để xử lý
các trường hợp thực tế xảy ra bảo đảm quyền lợi cho Nhà nước.
Tình huống nêu trên đã phản ánh rất rõ điều đó. Đây chỉ là 1 trong rất nhiều
sự vụ xảy ra trong thực tiễn công tác của bản thân.
Dù đã đầu tư nhiều thời gian và công sức cho nghiên cứu để hoàn thành tiểu
luận nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự thông cảm của các thầy cô
về những thiếu sót này.