Vận dụng quan điểm huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều của hồ chí minh trong dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở nhà trường quân đội hiện nay tt - Pdf 37

1
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Vận dụng các quan điểm giáo dục của Hồ Chí Minh vào trong GD&ĐT là
vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trước bối cảnh nền giáo dục nước ta hiện nay.
Chính vì vậy, đề tài luận án “Vận dụng quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực,
chu đáo hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh trong dạy học các môn khoa học xã
hội và nhân văn ở nhà trường quân đội hiện nay” được nghiên cứu dựa trên cơ sở
làm rõ giá trị, tính đúng đắn, khoa học các quan điểm của Hồ Chí Minh về quá
trình giáo dục và quá trình huấn luyện. Theo Người, trong quá trình huấn luyện
phải chú trọng cả “đức” và “tài”, trong đó “đức” là vấn đề cốt lõi, cơ bản hàng
đầu. Để đạt được mục đích đó, Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều quan điểm chỉ đạo
khác nhau. Trong đó, “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” được
coi là quan điểm chủ đạo, xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng giáo dục của
Người. Đồng thời, quan điểm này đã được Hồ Chí Minh chứng minh có hiệu quả
bằng thực tiễn chỉ đạo các hoạt động huấn luyện, giáo dục của đất nước, nhằm đào
tạo được những lớp cán bộ có đủ “đức” và “tài”, góp phần quan trọng vào thành
công của sự nghiệp cách mạng…
Công trình nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ cơ sở lý luận,
thực tiễn việc vận dụng quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo
hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh trong dạy học các KHXH&NV ở nhà
trường quân đội (NTQĐ); trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp hoàn thiện
QTDH các môn KHXH&NV ở NTQĐ theo quan điểm trên của Người, từ
đó góp phần thiết thực vào nâng cao chất lượng, hiệu quả các môn
KHXH&NV nhằm đáp ứng tốt với yêu cầu mà thực tiễn đặt ra.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của giáo dục đối
với sự tồn tại và phát triển của đất nước, Người cho rằng: “Một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu”, nếu “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến
kinh tế, văn hóa”. Do đó, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn
coi trọng đến phát triển nền giáo dục, xác định giáo dục chính là động lực, yếu tố


4
Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt sâu sắc các quan điểm
của Hồ Chí Minh, của Đảng ta về GD&ĐT, nhất là trong giai đoạn hiện
nay. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiếp cận vấn đề theo quan điểm hệ
thống - cấu trúc; quan điểm phức hợp: hoạt động - giá trị - nhân cách; quan
điểm lịch sử - lô gíc và quan điểm thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm các phương
pháp: phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống vấn đề
nghiên cứu thông qua các tài liệu lý luận, chuyên khảo, các bài báo
khoa học thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm các phương
pháp: Tổng kết kinh nghiệm, quan sát sư phạm, điều tra và tọa đàm, trao
đổi, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm.
* Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp toán thống kê
được dùng trong khoa học giáo dục để xử lý các số liệu điều tra.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ thực chất và giá trị quan điểm "Huấn luyện cốt
thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều" của Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những biện pháp hoàn thiện QTDH các môn KHXH&NV ở
CTĐH trong quân đội hiện nay theo quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu
đáo hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh có tính thiết thực, khả thi cao, góp phần
nâng cao chất lượng QTDH các môn KHXH&NV, cũng như chất lượng đào tạo
đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng với yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung, làm sáng tỏ những quan điểm giáo dục
của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chỉ rõ cơ sở xuất phát, thực chất và ý nghĩa của việc

diện” của tác giả Nguyễn Hữu Công; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
và giải phóng con người” của tập thể tác giả Lương Minh Cừ và Nguyễn
Trung Dũng. … Nhìn chung, những công trình này đều nhất quán khẳng
định về những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam
cũng như của nhân loại. Đồng thời cho rằng những tư tưởng của Người luôn
có sức sống trường tồn, giá trị bền vững trong mọi thời đại.
2. Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Năm 1990, tác giả Katherine Muller Marin trong bài tham luận “Những
đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của
UNESCO” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn
mạnh; Tác giả Hans D’Orville có bài viết đặc biệt: “Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn
giữ nguyên giá trị thời đại”. Trong các bài viết này, các tác giả đã đề cập tương
đối toàn diện những đóng góp của Hồ Chí Minh, trong đó có lĩnh vực giáo dục
đối với dân tộc Việt Nam. Ở nước ta, trong những năm cuối của thế kỷ XX,
giáo sư Nguyễn Lân đã có công trình nghiên cứu “Hồ Chủ tịch - nhà giáo
dục vĩ đại”. Đây là cuốn sách đã đi vào tập hợp những chỉ thị, những lá thư,
bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các vấn đề như: đấu tranh
chống chính sách ngu dân của thực dân Pháp; tác dụng và nhiệm vụ của
giáo dục; việc diệt giặc dốt; giáo dục thiếu nhi; giáo dục thanh niên; giáo
dục cán bộ… Khi đi vào luận bàn tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục dưới


6
góc độ phân tích, đánh giá những quan điểm của Người trên khía cạnh một
số nhân tố của QTDH, trong nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục và đào tạo” của tác giả Nguyễn Khánh Bật đã đi vào phân tích một số
quan điểm như: vai trò của GD&ĐT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; nội dung, phương châm, phương pháp GD&ĐT.
Trong lĩnh vực giáo dục quân sự, tác giả Nguyễn Ngọc Phú đã chủ biên cuốn
sách “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục quân sự”. Đây là công trình tập hợp gồm

về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay.
Dưới góc độ nghiên cứu vận dụng tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh
vào trong quá trình huấn luyện ở nhà trường quân sự, tác giả Nguyễn Văn


7
Chung có công trình “Nâng cao hiệu quả dạy học ở đại học quân sự theo tư
tưởng " Huấn luyện phải nhằm đúng nhu cầu" của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Trong công trình, tác giả đã chỉ ra những phương hướng, biện pháp cơ bản để
vận dụng luận điểm này vào trong quá trình đào tạo ở đại học quân sự trên các
vấn đề: vận dụng trong xác định mục tiêu và cách thức xây dựng mục tiêu đào
tạo; vận dụng trong xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo; vận dụng trong
lựa chọn đối tượng và các điều kiện đảm bảo… Cũng tiếp cận theo hướng
nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Xuân Sinh có công trình nghiên cứu “Bồi
dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng
“lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh”. Ở đây, tác giả đã chỉ ra 5 giải pháp
khác nhau để bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên theo tư tưởng “lấy
tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh. Ngoài những công trình trên, còn có các
công trình tiêu biểu khác như: “Từ một bài nói của Bác Hồ suy nghĩ về tính
thiết thực trong đào tạo cán bộ” của tác giả Nguyễn Mậu Dựng; “Nhận diện
một số vấn đề dạy học, giáo dục từ bài của Bác Hồ “về công tác huấn luyện
và học tập” của tác giả Đặng Quốc Bảo; “Tư tưởng tự học Hồ Chí Minh và
biện pháp nâng cao việc tự học cho sinh viên Đại học sư phạm” của tác giả
Võ Văn Nam; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới quá trình dạy
học ở các nhà trường quân đội hiện nay” của tác giả Nguyễn Xuân Sinh…
4. Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết
4.1. Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Một là, việc nghiên cứu xung quanh đến cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng
và những đóng góp lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng

cho thấy, các công trình nghiên cứu vận dụng tư tưởng giáo dục của Hồ Chí
Minh thường có ý nghĩa phương pháp luận chung chung; chỉ ra những
phương hướng mang tính khái quát mà chưa đi sâu vào phân tích đặc điểm,
xu thế, yêu cầu của GD&ĐT nước ta trong bối cảnh mới, từ đó đi vào giải
quyết, trả lời được câu hỏi: Làm thế nào để GD&ĐT đáp ứng được điều đó?;
còn thiếu những nghiên cứu đi sâu vào đánh giá, phân tích, chỉ ra những yêu
cầu cụ thể để đổi mới, bổ sung, phát triển, hoàn thiện các nhân tố của QTDH
trong bối cảnh mới hiện nay. Một số công trình nghiên cứu vận dụng tư tưởng
giáo dục của Người vào trong dạy học ở nhà trường quân đội còn chưa làm
nổi bật được những vấn đề mang tính đặc thù so với các nhà trường khác, cho
nên các phương hướng, biện pháp vận dụng còn chưa sâu sắc, gắn bó thiết
thực với môi trường quân sự… Còn ít những công trình đi sâu vào phân tích
những yêu cầu mới của thực tiễn hoạt động quân sự, thực tiễn xây dựng đội
ngũ cán bộ quân đội, thực tiễn đổi mới toàn diện QTDH ở CTĐH trong quân
đội... từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp, yêu cầu cụ thể trong vận
dụng các quan điểm đó vào quá trình đào tạo ở CTĐH trong quân đội, để quá
trình này ngày càng có chất lượng, hiệu quả cao.
4.2. Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết
Một là, luận án tiếp tục nghiên cứu bổ sung, làm rõ thêm nguồn gốc tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói chung, nguồn gốc quan điểm “Huấn
luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” nói riêng; chỉ ra được đặc
điểm nổi bật, đặc thù khác biệt trong dạy học các môn KHXH&NV so với
những môn học khác ở CTĐH trong quân đội; trên cơ sở đó đi vào phân tích
thực chất và khẳng định giá trị quan điểm này của Người trong dạy học các
môn KHXH&NV ở CTĐH trong quân đội hiện nay.
Hai là, công trình khái quát, rút ra những kinh nghiệm từ việc quán triệt
và vận dụng quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”
của Hồ Chí Minh trong lịch sử giáo dục, huấn luyện ở các nhà trường quân
đội; tiếp tục đi vào giải quyết chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế QTDH các môn


được Người trình bày trong nội dung “Huấn luyện thế nào?” của phần 1.
1.1.1.2. Những tiền đề lý luận và thực tiễn quan điểm “Huấn luyện
cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh
Quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” được Hồ Chí
Minh dựa trên những tiền đề cơ bản sau:
* Những tiền đề lý luận
Một là, dựa trên sự kế thừa những giá trị to lớn của tư tưởng và truyền
thống giáo dục dân tộc, nhất là truyền thống coi trọng giáo dục, tổ chức giáo
dục phù hợp với hoàn cảnh cũng như đặc trưng con người Việt Nam.
Hai là, dựa trên sự kế thừa những giá trị tinh hoa giáo dục trên thế giới.


10
Ba là, dựa trên sự kế thừa những quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác Lênin, nhất là các quan điểm về mục đích của giáo dục; những luận điểm để giáo
dục con người phát triển toàn diện; giáo dục kết hợp với lao động sản xuất…
* Những tiền đề thực tiễn
Một là, dựa trên thực tiễn sinh động quá trình hoạt động cách mạng
tìm đường cứu nước trên thế giới.
Hai là, dựa trên kết quả tổng kết kinh nghiệm trong suốt quá trình tự
học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện của chính bản thân mình
Ba là, dựa trên sự đúc kết thực tiễn trực tiếp chỉ đạo, tổ chức, tiến hành các hoạt
động giáo dục, huấn luyện quân đội và xây dựng nền giáo dục mới ở nước ta.
1.1.2. Thực chất quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo
hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh trong dạy học
Thực chất quan điểm "Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham
nhiều" của Hồ Chí Minh được hiểu là: trong bất cứ hoàn cảnh nào, phải luôn luôn
coi trọng công tác huấn luyện và xác định đó là một việc làm rất cần thiết, quan
trọng hàng đầu. Khi tiến hành huấn luyện phải chú trọng hướng vào thực tiễn; coi
thực tiễn vừa là mục tiêu, là cơ sở để tiến hành huấn luyện. Huấn luyện phải sát
thực tiễn; liên hệ gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đáp ứng tốt yêu cầu những vấn đề

KHXH&NV, đảm bảo cho việc vận hành QTDH những môn học này luôn đúng
theo quy trình, phát huy tối đa hiệu quả và đáp ứng đúng với nhu cầu thực tiễn.
1.3.2. Những nhân tố tác động đến việc vận dụng
quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham
nhiều” của Hồ Chí Minh trong dạy học các môn khoa học
xã hội và nhân văn ở nhà trường quân đội hiện nay
Một là, xu hướng thực tiễn của nền giáo dục hiện đại.
Hai là, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT ở các NTQĐ hiện nay.
Ba là, đặc điểm các môn KHXH&NV ở NTQĐ.
Bốn là, phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ CBQL, giảng
viên giảng dạy các môn KHXH&NV ở từng NTQĐ.
Năm là, đặc điểm đối tượng đào tạo sĩ quan cấp phân đội bậc đại học
Kết luận chương 1
Quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” của
Hồ Chí Minh được Người phát biểu trong bài "Nói về công tác huấn
luyện và học tập" tại "Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn
luyện và học tập", khai mạc ngày 06 tháng 5 năm 1950. Quan điểm này


13
là kết quả của sự tiếp thu có chọn lọc, vận dụng sáng tạo những tiền đề
lý luận về giáo dục của lịch sử giáo dục nhân loại cũng như truyền thống
giáo dục dân tộc; đồng thời, nó cũng phản ánh rõ nét những kinh nghiệm
trong thực tiễn hoạt động cách mạng, thực tiễn dạy học, tổ chức, chỉ đạo
đổi mới nền giáo dục nước ta của Hồ Chí Minh.
Quan điểm“Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” đã
chỉ rõ những nội dung, nét đặc trưng, yêu cầu cơ bản để QTDH đạt chất
lượng, hiệu quả cao nhất, đáp ứng tốt với nhu cầu của tình hình thực tiễn
đặt ra. Do đó, việc vận dụng quan điểm này vào trong QTDH nói chung,
QTDH các môn KHXH&NV ở NTQĐ hiện nay nói riêng có ý nghĩa rất

Những ưu điểm
Một là, CTĐH trong quân đội đã nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của các
môn KHXH&NV, cũng như sự cần thiết của việc vận dụng các quan điểm
giáo dục của Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực,
chu đáo hơn tham nhiều” nói riêng vào trong QTDH các môn học này
Hai là, CTĐH trong quân đội đã xác định được cụ thể, rõ ràng
MTDH các môn KHXH&NV đảm bảo tương đối phù hợp với đối tượng
đào tạo sĩ quan cấp phân đội
Ba là, chương trình, NDDH đảm bảo tương đối khoa học, logic; có
tính toàn diện, cân đối khối lượng giữa các nhóm kiến thức; từng bước
kết hợp hài hòa giữa việc trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết với


16
bồi dưỡng kỹ năng thực hành; quan tâm, chú trọng các nội dung giáo
dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phương pháp tác phong công
tác và hành vi ứng xử cho người học
Bốn là, phương pháp, HTTCDH từng bước phù hợp với xu thế, yêu cầu
phát triển của thời đại; giảm bớt được sự đơn điệu, cứng nhắc, thay vào đó là sự
quan tâm sử dụng tổng hợp, đa dạng, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp,
HTTCDH vào trong từng môn học, bài học và từng nội dung, đối tượng cụ thể
Năm là, CTĐH trong quân đội đã có sự nỗ lực, cố gắng trong đảm
bảo ĐNGV giảng dạy các môn KHXH&NV theo đúng với tiêu chuẩn quy
định của Bộ GD&ĐT, Bộ Quốc phòng. Việc tuyển chọn học viên luôn được
tiến hành chặt chẽ, khoa học. Các nhà trường đã thực hiện tăng cường tận
dụng mọi nguồn kinh phí để đầu tư cơ sở vật chất, giáo trình, tài liệu… đáp
ứng tối thiểu với nhu cầu của cả người dạy, người học.
Những hạn chế, bất cập
Một là, MTDH các môn KHXH&NV ở CTĐH trong quân đội hiện
nay vẫn chưa thực sự chú trọng đến xây dựng các kỹ năng sống, kỹ năng tự

chất chính trị vững vàng; tâm huyết với nghề nghiệp; có trình độ kiến thức
chuyên môn;, có ý chí cố gắng phấn đấu vươn lên để hoàn thành tốt các nhiệm
vụ...
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Một là, do sự phát triển nhanh chóng của tình hình thực tiễn đã làm
cho việc đổi mới QTDH các môn KHXH&NV đã gặp khó khăn lại càng nhiều
khó khăn hơn. Nhiều vấn đề như: mục tiêu, nội dung, phương pháp… không
bám sát, phản ánh đúng, cũng như tính ứng dụng vào thực tiễn không cao.
Hai là, nhận thức vị trí, vai trò, ý nghĩa việc vận dụng các quan điểm giáo
dục của Hồ Chí Minh vào trong QTDH các môn KHXH&NV của một số đội
ngũ CBQL giáo dục, giảng viên, học viên ở CTĐH trong quân đội còn có những
mặt còn hạn chế. Do đó, tư duy về QTDH các môn KHXH&NV còn chậm đổi
mới để phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Ba là, việc điều chỉnh, bổ sung xây dựng các cơ sở vật chất, tăng cường
đầu tư, mua sắm các phương tiện, trang thiết bị dạy học tiên tiến, hiện đại
trong CTĐH trong quân đội còn chậm, thiếu trọng tâm, trọng điểm.
Bốn là, CTĐH trong quân đội còn thiếu hụt về số lượng giảng viên
KHXH&NV, nhất là đội ngũ các chuyên gia đầu ngành. Trình độ, năng
lực sư phạm của giảng viên còn hạn chế, có khoảng cách nhất định so
với các cơ sở giáo dục đại học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Năm là, chế độ, chính sách đãi ngộ cho ĐNGV giảng dạy các môn
KHXH&NV, CBQL giáo dục còn nhiều bất cập, chưa thực sự khuyến
khích, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để họ nâng cao trình độ chuyên
môn cũng như trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Kết luận chương 2
Có thể khẳng định, trong quá trình chiến đấu và xây dựng quân đội,
quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” luôn
được Quân ủy Trung ương, các cơ quan đơn vị, cùng các nhà trường
quân đội quán triệt sâu sắc và từng bước vận dụng có hiệu quả vào thực
tiễn công tác giáo dục, huấn luyện.

Đây là biện pháp giữ vị trí, vai trò chủ đạo, trực tiếp giúp cho mọi
cơ quan, tổ chức, cũng như các chủ thể của quá trình đào tạo ở CTĐH
trong quân đội xây dựng được MTDH các môn KHXH&NV phù hợp
với đối tượng đào tạo là sĩ quan cấp phân đội. Trên cơ sở đó, có những
chỉ đạo và tổ chức các hoạt động trong QTDH các môn KHXH&NV
thực sự hướng tới giúp người học có phẩm chất nhân cách, đạo đức, lối
sống, năng lực, các kỹ năng xã hội cần thiết để có thể đáp ứng tốt với
mọi yêu cầu về chức trách, nhiệm vụ sau khi tốt nghiệp ra trường đặt ra.
Để thực hiện được biện pháp này, đòi cần làm tốt những vấn đề cơ bản
của quy trình xây dựng MTDH các môn KHXH&NV sau: Một là, phân
tích đúng đắn chức trách, nhiệm vụ chung của sĩ quan cấp phân đội sau
khi học viên tốt nghiệp ra trường phải đảm nhiệm. Hai là, phân tích và
cụ thể hóa các yêu cầu về phẩm chất nhân cách, đạo đức, lối sống cần
đạt được của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội. Ba là, xác định hệ thống các
môn học và MTDH các môn học KHXH&NV phù hợp. Bốn là, thực
hiện xây dựng chuẩn đầu ra các môn học KHXH&NV.
3.2. Hoàn thiện chương trình, nội dung dạy học
các môn khoa học xã hội và nhân văn theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo tính hệ thống,
cơ bản, thiết thực
Đây là biện pháp có vị trí, vai trò, ý nghĩa rất quan trọng; trực tiếp
đảm bảo chương trình, NDDH các môn KHXH&NV luôn bám sát với
sự phát triển của thực tiễn giáo dục, thực tiễn xã hội và yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng quân đội hiện nay. Mặt khác, thực hiện biện pháp này
sẽ góp phần xây dựng được chương trình, NDDH có tính hệ thống,
khoa học, logic, giúp cho người học lĩnh hội nhanh chóng được những
kiến thức cần thiết, hiện đại; hình thành, phát triển những phẩm chất
nhân cách, đạo đức, lối sống, thái độ và hành vi chuẩn mực phù hợp
với thực tiễn cương vị, chức trách sau khi tốt nghiệp ra trường. Để thực
hiện biện pháp này, trước hết cần tiến hành dà soát, lựa chọn và sắp

nhân tố cơ bản tham gia vào QTDH, đảm bảo cho QTDH đạt được chất
lượng, hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được biện pháp này, cần làm tốt
các yêu cầu cơ bản sau: Một là, tập trung kiện toàn ĐNGV giảng dạy các
môn KHXH&NV đảm bảo có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có
sự phát triển cao về phẩm chất, năng lực chuyên môn. Hai là, nâng cao
tiêu chí, thực hiện chặt chẽ, chu đáo, nghiêm túc công tác tuyển chọn
nguồn đào tạo. Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, các nguồn tài
chính, kết hợp với khai thác đa hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện
kỹ thuật dạy học hiện có ở mỗi nhà trường.
Kết luận chương 3
Trong bốn biện pháp luận án đề xuất, mỗi biện pháp có vị trí, vai
trò khác nhau. Tuy nhiên, giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ,
cùng nằm trong một chỉnh thể thống nhất. Việc thực hiện đồng bộ, có
hiện quả bốn biện phát trên sẽ giúp cho QTDH các môn KHXH&NV ở
NTQĐ, nhất là CTĐH trong quân đội thực sự phát huy hết vai trò trong
đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội có phẩm chất, năng lực toàn diện đáp
ứng được với các yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới.
Chương 4
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC
NGHIỆM
4.1. Những vấn đề chung về quá trình thực nghiệm
4.1.1. Mục đích thực nghiệm: Nhằm chứng minh khả thi, hiệu quả và
đúng đắn của các biện pháp mà luận án đã đề xuât.


20
4.1.2. Phạm vi, cơ sở, đối tượng và giả thuyết thực nghiệm
* Phạm vi thực nghiệm: Được tiến hành trong 02 bài giảng là “Quá
trình huấn luyện quân nhân”,“Các phương pháp huấn luyện quân nhân”

chương trình, biên soạn tài liệu.
4.2.2. Tiến hành thực nghiệm: gồm giảng thực nghiệm và xêmina trên lớp
4.2.3. Kết thúc thực nghiệm: Tiến hành kiểm tra, xử lý kết quả, kết luận thực nghiệm.
4.3. Phân tích kết quả thực nghiệm
4.3.1. Phân tích kết quả thực nghiệm về mặt định lượng
4.3.1.1. Phân tích kết quả tác động đến sự tiến bộ về tính tích cực, chủ
động trong học tập của học viên qua thực nghiệm


21
4.3.1.2. Phân tích tác động của thực nghiệm đến sự tiến
bộ về học tập của học viên
Để đánh giá khách quan kết quả tác động của thực nghiệm, chúng tôi
đã dùng các tham số như: điểm trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn,
đại lượng kiểm định. Với các công thức cụ thể như sau:
+ Điểm trung bình cộng. Là giá trị điểm trung bình cộng của tổng số
điểm các bài kiểm tra được tính bằng công thức:

x =

∑n x
i

i

n

+ Phương sai (S2), tính cho cả S2x và S2y
S



n −1

+ Đại lượng kiểm định (t). Để xác định độ tin cậy về sự chênh lệch
giữa hai giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm và đối chứng.
t=(x-

y)

n
S x + S2y
2

Tra tkd trong bảng phân phối Student tìm được xác suất tin cậy,
nếu tkd > tα thì sự khác nhau giữa 2 giá trị trung bình x là có ý nghĩa,
trong đó:
n: Tổng số học viên

y : Điểm trung bình cộng nhóm đối chứng

ni : Tổng số có điểm xi
S2x: Phương sai lớp thực nghiệm
2
xi: Giá trị điểm xi
S y: Phương sai lớp đối chứng
yi: Giá trị điểm yi
Sx: Độ lệch chuẩn nhóm thực nghiệm x : Điểm trung
bình cộng nhóm thực nghiệm
Sy: Độ lệch chuẩn nhóm đối chứng


đạt hiệu quả nhất định, có ý nghĩa và tính khả thi cao; giả thuyết khoa
học được đưa ra là hoàn toàn đúng đắn.
Kết luận chương 4
Thông qua quá trình thực nghiệm chúng tôi thấy,học viên ở nhóm
thực nghiệm có sự tiến bộ rõ nét cả về mặt định lượng và định tính so
với kết quả kiểm tra đầu vào và so với lớp đối chứng ở từng CSTN. Điều
này chứng tỏ, các biện pháp mà luận án đề xuất là đúng đắn, có tính khả
thi, hiệu quả cao. Theo đó, trong thực tiễn dạy học các môn KHXH&NV
ở CTĐH trong quân đội hiện nay, nếu các chủ thể của QTDH thực hiện
tốt các biện pháp mà luận án đề xuất, thì chất lượng dạy học những môn
học này ngày càng được nâng lên. Học viên sẽ có sự tiến bộ rõ rệt trên
mọi phương diện về kết quả học tập, nhận thức, thái độ, hành vi... đáp
ứng tốt với các yêu cầu mà thực tiễn xã hội, quân đội, cương vị chức
trách sau khi tốt nghiệp ra trường đặt ra
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ những năm giữa thế kỷ XX cho đến nay, việc nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung đã được nhiều tác giả ở trong và ngoài
nước nghiên cứu, đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau. Đặc biệt, ở nước
ta, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu vận dụng các quan điểm
giáo dục nổi bật của Người vào lĩnh vực GD&ĐT đã được nhiều nhà khoa


23
học, nhà giáo dục nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ dưới nhiều góc độ và
có ý nghĩa lớn lao trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
Đối với lĩnh vực GD&ĐT trong quân đội, bằng thực tiễn hoạt
động cách mạng, hoạt động giáo dục phong phú và tư duy lý luận sâu
sắc; trên cơ sở kế thừa, phát triển những tinh hoa các tư tưởng giáo
dục tiến bộ trong lịch sử nhân loại, dân tộc, Hồ Chí Minh đã có

Để cho QTDH các môn KHXH&NV ở CTĐH trong quân đội ngày
càng có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt với yêu cầu của thực tiễn xã
hội, quân đội, bên cạnh việc làm sáng tỏ về mặt lý luận, chúng tôi đưa ra


24
4 biện pháp hoàn thiện QTDH các môn KHXH&NV ở CTĐH trong
quân đội hiện nay theo quan điểm “Huấn luyện cốt thiết thực, chu đáo
hơn tham nhiều” của Hồ Chí Minh, cụ thể là: Xây dựng, hoàn thiện
MTDH các môn KHXH và NV sát với yêu cầu về phẩm chất nhân cách
người sĩ quan quân đội trong tình hình mới; hoàn thiện chương trình, nội
dung dạy học các môn KHXH&NV theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, đảm bảo tính hệ thống, cơ bản, thiết thực; đổi mới PPDH theo
hướng phát triển năng lực nghề nghiệp và năng lực tư duy lý luận cho
học viên; tối ưu hóa các điều kiện sư phạm cơ bản trong QTDH. Đồng
thời, để đánh giá tính khả thi, đúng đắn, hiệu quả của các biện pháp đưa
ra, chúng tôi tiến hành thực nghiệm có đối chứng các biện pháp này ở 2
CSTN là trường Sĩ quan Chính trị, Sĩ quan Lục quân 1. Sau quá trình
thực nghiệm, bằng việc phân tích kết quả cả về mặt định tính, định
lượng, chúng tôi đưa ra kết luận các biện pháp mà luận án đề xuất là
hoàn toàn có cơ sở, có tính khả thi cao. Nếu cả chủ thể của QTDH các
môn KHXH&NV ở CTĐH trong quân đội thực hiện tốt 4 biện pháp
trên, thì chất lượng dạy học các môn KHXH&NV ngày càng được nâng
cao; đội ngũ học viên sau khi tốt nghiệp ra trường sẽ có đầy đủ phẩm
chất, năng lực, kỹ năng toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên
cương vị, chức trách được giao.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Bộ Quốc phòng
- Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, quán triệt nhằm tạo sự
chuyển biến tích cực, sâu sắc trong nhận thức các tổ chức, lực lượng

2.2. Đối với từng các nhà trường quân đội
- Thực hiện tốt các khâu, các bước của quá trình tuyển chọn nguồn đầu
vào là học viên, cũng như nguồn đào tạo giáo viên KHXH&NV.
- Có những cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút những
nhà khoa học ở ngoài quân đội thuộc ngành KHXH&NV tham gia vào
giảng dạy ở nhà trường; đồng thời, ĐNGV ở nhà trường yên tâm công
tác, phát huy hết vai trò, tinh thần trách nhiệm, năng lực phục vụ cho sự
nghiệp GD&ĐT của nhà trường.
- Tăng cường cử giảng viên KHXH&NV, nhất là những cán bộ
trẻ, ít kinh nghiệm, cán bộ nguồn đi thực tế ở các đơn vị trong toàn
quân để trau dồi kinh nghiệm thực tiễn và chuẩn hóa chức vụ tương
đương theo quy định.
- Bố trí ĐNGV giảng dạy các môn KHXH&NV được giảng dạy
theo đúng với chuyên ngành đào tạo.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để ĐNGV giảng dạy các môn
KHXH&NV được chuẩn hóa trình độ đào tạo và các chức danh giáo sư,
phó giáo sư.
- Phát huy tính tự chủ trong thực hiện xã hội hóa các cơ sở vật chất,
điều kiện đảm bảo phục vụ cho QTDH các môn KHXH&NV dựa trên
cơ sở đúng với các văn bản quy định của nhà nước, Bộ Quốc phòng và
đặc thù của từng nhà trường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status