Khảo sát thực trạng tương tác thuốc bất lợi của các thuốc an thần kinh trên bệnh nhân điều trị tại bệnh viện tâm thần trung ương 1 - Pdf 37

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ LAN
MÃ SINH VIÊN: 1101280

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
TƢƠNG TÁC THUỐC BẤT LỢI CỦA
CÁC THUỐC AN THẦN KINH TRÊN
BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TRUNG ƢƠNG 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI – 2016


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ LAN
MÃ SINH VIÊN: 1101280

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
TƢƠNG TÁC THUỐC BẤT LỢI CỦA
CÁC THUỐC AN THẦN KINH TRÊN
BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TRUNG ƢƠNG 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:


Nguyễn Thị Lan


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN………………………………………………………...3
1.1. TỔNG QUAN VỀ TƢƠNG TÁC THUỐC. ....................................................3
1.1.1. Khái niệm về tƣơng tác thuốc. ...................................................................3
1.1.2. Phân loại tƣơng tác thuốc. ..........................................................................3
1.1.2.1. Tương tác thuốc dược động học. .........................................................3
1.1.2.2. Tương tác thuốc dược lực học. ............................................................6
1.1.3. Các nghiên cứu về tƣơng tác thuốc và ý nghĩa của tƣơng tác thuốc trên
lâm sàng. ...............................................................................................................8
1.1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tần suất xuất hiện tƣơng tác thuốc. ..................9
1.1.4.1. Các yếu tố thuộc về bệnh nhân. ...........................................................9
1.1.4.2. Các yếu tố thuộc về thuốc. ...................................................................9
1.1.4.3. Các yếu tố thuộc về nhận thức của cán bộ y tế..................................10
1.2. ĐẶC ĐIỂM VỀ TƢƠNG TÁC THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN
PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ. .......................................................................10
1.2.1. Vài nét về bệnh tâm thần phân liệt. ..........................................................10
1.2.2. Nghiên cứu về tƣơng tác thuốc của các thuốc điều trị tâm thần phân liệt.
............................................................................................................................11
1.3. PHÁT HIỆN TƢƠNG TÁC THUỐC VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU TRA CỨU
TƢƠNG TÁC THUỐC .........................................................................................13
1.3.1. Phát hiện tƣơng tác thuốc trong thực hành lâm sàng. ..............................13
1.3.2. Vài nét về cơ sở dữ liệu tra cứu tƣơng tác thuốc......................................15

thuốc. ..................................................................................................................31
3.2.3. Ảnh hƣởng của một số yếu tố nguy cơ đến số lƣợng tƣơng tác thuốc trong
đơn. .....................................................................................................................31
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN…………………………………………………………34
4.1. THỰC TRẠNG TƢƠNG TÁC THUỐC CỦA CÁC THUỐC AN THẦN
KINH TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TÂM
THẦN TRUNG ƢƠNG 1. .....................................................................................34


4.1.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu. .......................................................................34
4.1.2. Tỉ lệ đơn có tƣơng tác thuốc, số thuốc trung bình trên đơn. ....................34
4.1.3. Mƣời cặp tƣơng tác thuốc nghiêm trọng và mƣời cặp tƣơng tác thuốc
thƣờng gặp, tƣơng tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng. .............................................35
4.1.4. Phân loại tƣơng tác thuốc theo ý nghĩa lâm sàng, cơ chế tƣơng tác thuốc
và thời gian khởi phát. ........................................................................................36
4.2. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG GẶP
TƢƠNG TÁC THUỐC. ........................................................................................37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………………………………………......41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH BỆNH NHÂN


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT

NỘI DUNG VIẾT TẮT

ADR


Stockley

Stockley’s Drug Interactions 2010

Stockley Pocket

Stockley’s Drug Interactions Pocket Companion 2010

TTPL

Tâm thần phân liệt

TTT

Tƣơng tác thuốc

TTTW1

Tâm thần trung ƣơng 1

YNLS

Ý nghĩa lâm sàng


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm bệnh nhân. ................................................................................22
Bảng 3.2. Tỷ lệ bệnh nhân TTPL theo khoa điều trị. ................................................23
Bảng 3.3. Danh mục hoạt chất điều trị rối loạn tâm thần đƣợc kê trong đơn. ..........24

chi phí này chủ yếu là chi phí cho BN nội trú, ngoại trú và các thuốc [22], [35].
Nghiên cứu của Rob và cộng sự, 2014 gồm 240 bệnh nhân (BN) với các triệu chứng
TTPL phát hiện 70% BN sử dụng 2 hoặc nhiều loại thuốc an thần kinh cùng 1 lúc,
sau khi phát hiện tỷ lệ TTT, kết quả thu đƣợc: 87,8% TTT trung bình, khoảng 1/4 số
BN gặp TTT nặng và gần 60% có nguy cơ tim mạch cao do kéo dài khoảng QT
[43].
Trên thực tế, chế độ phối hợp thuốc và số thuốc sử dụng trên BN điều trị
TTPL cao hơn ở BN không điều trị dẫn đến khả năng làm tăng nguy cơ gặp TTT
trên những BN này. Đặc biệt là những bệnh nhân TTPL điều trị nội trú, có nhiều
bệnh mắc kèm, sử dụng đồng thời nhiều thuốc và chế độ dùng thuốc dài ngày nên
tần suất gặp TTT của các thuốc an thần kinh rất cao.
Bệnh viện Tâm Thần Trung Ƣơng 1 (TTTW1) đƣợc thành lập năm 1963. Đến
nay, bệnh viện đã phát triển trở thành 1 bệnh viện chuyên khoa tâm thần đầu ngành
của đất nƣớc với 530 giƣờng bệnh. Tuy bệnh viện ngày càng mở rộng nhƣng vẫn


2

không thể đáp ứng số lƣợng BN ngày càng tăng và số lƣợng thuốc sử dụng ngày
càng nhiều. Các nghiên cứu về TTT trên BN tâm thần điều trị nội trú và ngoại trú đã
đƣợc thực hiện nhiều, đặc biệt trên BN điều trị ngoại trú, nhƣng lại có rất ít nghiên
cứu về TTT trên BN nội trú tại bệnh viện TTTW1.
Trên thực tế đó, để có cái nhìn tổng quan về thực trạng TTT của các thuốc an
thần kinh trên BN điều trị nội trú, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát thực trạng
tƣơng tác thuốc bất lợi của các thuốc an thần kinh trên bệnh nhân điều trị tại
bệnh viện Tâm Thần Trung Ƣơng 1” với 2 mục tiêu sau:
Khảo sát tƣơng tác thuốc bất lợi của thuốc an thần kinh trên bệnh nhân
tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện TTTW1.
Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tƣơng tác thuốc bất lợi của các
thuốc an thần kinh trên bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại

 Thay đổi pH dịch vị:
Bình thƣờng pH dịch vị từ 1-2. Khi sử dụng các thuốc làm giảm pH dịch
vị thì những thuốc kém bền trong môi trƣờng acid sẽ bị phá hủy nhiều hơn tại
dạ dày. Ví dụ các kháng sinh thuộc nhóm betalactam hoặc macrolid. Ngƣợc lại


4

các thuốc làm tăng pH dịch vị (giảm tiết acid hoặc trung hòa acid) sẽ làm giảm hấp
thu 1 số thuốc nhƣ griseofulvin, sắt…[3].
 Thay đổi nhu động đường tiêu hóa:
Khi 1 thuốc đƣợc tống nhanh ra khỏi dạ dày sẽ có lợi cho việc hấp thu vì ruột
non là vị trí hấp thu tối ƣu với mọi loại thuốc, còn những thuốc bị tống nhanh ra
khỏi ruột sẽ bị giảm hấp thu. Do đó, khi sử dụng các thuốc làm tăng nhu động ruột dạ dày (thuốc nhuận tràng, thuốc kích thích, phong bế thần kinh…), những thuốc
dùng cùng bị tống nhanh ra khỏi đƣờng tiêu hóa, gây giảm hoặc mất tác dụng [3].
Đặc biệt lƣu ý nếu thuốc dùng cùng là các thuốc giải phóng kéo dài.
 Tạo phức khó hấp thu giữa 2 thuốc khi dùng đồng thời:
Phức tạo thành sẽ khó qua niêm mạc ruột, do đó sự hấp thu bị cản trở. Hay gặp
phức chelat tạo bởi các ion kim loại hóa trị cao nhƣ: Al3+, Ca2+, Mg2+… với các
kháng sinh tetracyclin, fluoroquinolon. TTT này cũng hay gặp khi dùng các kháng
sinh trên với sữa [3].
 Do cản trở cơ học, tạo lớp ngăn cản tiếp xúc của thuốc với niêm mạc đường
tiêu hóa:
Thƣờng gặp do uống thuốc cùng với các thuốc bao niêm mạc đƣờng tiêu hóa
nhƣ kaolin, smecta, sucralfat… [3].
 Do thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột:
Các kháng sinh làm thay đổi hệ vi khuẩn chí ở ruột có thể làm giảm tốc độ
tổng hợp vitamin K của vi khuẩn, do đó làm tăng cƣờng tác dụng của các thuốc
chống đông đƣờng uống (là những chất cạnh tranh với vitamin K). Với một thuốc
đƣợc chuyển hóa bởi vi sinh vật đƣờng tiêu hóa nhƣ digoxin, điều trị kháng sinh có

Các thuốc an thần kinh chủ yếu xảy ra TTT trong quá trình chuyển hóa do hầu
hết các thuốc điều trị tâm thần chuyển hóa qua các CYP, ngoài ra chúng còn tham
gia vào ức chế hay hoạt hóa các enzym gan [24], [48]. Ví dụ, Ziprasidon chống chỉ
định sử dụng đồng thời với haloperidol, bupropion và các thuốc chống loạn nhịp do
kéo dài khoảng QT. TTT xảy ra giữa quetiapin và atazanavir hay ritonavir có thể
dẫn đến tăng cân nhanh và tăng tác dụng an thần cũng nhƣ rối loạn tâm thần. Nồng
độ trong huyết thanh của quetiapin giảm đáng kể sau khi dùng cùng lamotrigin. Các
bằng chứng khác của sự tƣơng tác có hại đã đƣợc báo cáo trong các tài liệu gần đây


6

[27]. Nghiên cứu hồi cứu của Guo và cộng sự, năm 2012 cũng chỉ ra hầu hết các
cặp TTT của các thuốc chống loạn thần đều liên quan đến các CYP, trong đó chủ
yếu là CYP 1A2, CYP 2D6, CYP 3A4, đặc biệt 5 TTT chiếm tỷ lệ cao nhất trong
nghiên cứu liên quan đến CYP 2D6 đó là: olanzapin-haloperidon là cặp phổ biến
nhất, tiếp theo là risperidon và sertralin, fluoxetin, paroxetin và carbamazepin [27].
 Tƣơng tác thuốc trong quá trình thải trừ:
Các thuốc bị ảnh hƣởng nhiều trong quá trình thải trừ là các thuốc bài xuất chủ
yếu qua thận ở dạng còn hoạt tính. TTT chủ yếu xảy ra theo các cơ chế:
 Thay đổi pH của nước tiểu.
Các thuốc gây kiềm hóa (các antacid, giảm tiết acid…) hay acid hóa nƣớc tiểu
(vitamin C) làm thay đổi quá trình thải trừ qua thận của các thuốc dùng cùng. Khi
nƣớc tiểu bị kiềm hóa, các thuốc có bản chất acid yếu tăng thải trừ, dẫn đến giảm
tác dụng. Ngƣợc lại, các thuốc có bản chất base giảm thải trừ dẫn đến nguy cơ tích
lũy, ngộ độc [3].
 Cạnh tranh chất mang với các thuốc thải trừ qua ống thận theo cơ chế vận
chuyển tích cực.
Hậu quả là tăng nồng độ các thuốc trong máu do làm chậm quá trình bài xuất
các thuốc này, dẫn đến tích lũy thuốc trong cơ thể [3].

thụ thể: chlopromazin không có cùng thụ thể tác dụng với những thuốc khác nhƣng
lại làm tăng rất rõ tiềm lực của chúng, ví dụ khi phối hợp chlopromazin với thuốc
mê, thuốc tê, thuốc giảm đau, thuốc gây nghiện…hậu quả của việc phối hợp này là
rất nghiêm trọng [2].
 Hiệp đồng vượt mức (TTT có lợi).
Phối hợp penicilin với một chất ức chế beta - lactamase giúp cho penicilin
không bị phân hủy và phát huy tác dụng; ví dụ phối hợp amoxicilin với acid
clavulanic hoặc ampicilin với sulbactam hay ticarcilin với acid clavulanic. Acid
clavulanic hoặc sulbactam đơn độc không có tác dụng nhƣ một kháng sinh, nhƣng
có ái lực mạnh với beta - lactamase do plasmid của tụ cầu và nhiều trực khuẩn
đƣờng ruột sinh ra [1].


8

Phối hợp thuốc nhóm cephalosporin với aminoglycosid cho tác dụng hiệp
đồng vƣợt mức, đƣợc ƣu tiên sử dụng phối hợp trong 1 số trƣờng hợp nhiễm khuẩn
nặng do Klebsiella spp, Enterobacter spp, Proteus spp, Providencia spp, Serratia
spp… gây ra, tuy nhiên có thể làm tăng độc tính trên thận nên cần theo dõi chức
năng thận của BN trong quá trình điều trị (lƣợng nƣớc tiểu, creatinin máu) [12].
1.1.3. Các nghiên cứu về tƣơng tác thuốc và ý nghĩa của tƣơng tác thuốc trên
lâm sàng.
Tỷ lệ xuất hiện TTT ở các nghiên cứu khác nhau là khác nhau. Do tần suất
TTT phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: đối tƣợng nghiên cứu, địa điểm tiến hành
nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thuốc tiến hành nghiên cứu… Phát hiện TTT bằng
các cơ sở dữ liệu khác nhau cũng cho các kết quả khác nhau [32].
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về TTT: năm 2002, Egger và cộng sự
tiến hành 1 nghiên cứu hồi cứu trên 500 bệnh án của BN xuất viện (56,6% nam giới,
tuổi trung bình là 67,0 ± 15,9 năm, thời gian nằm viện trung bình là 13 ngày) đƣợc
chỉ định trung bình 6 thuốc (khoảng 2-18 thuốc) lúc xuất viện, kết quả có 300 BN

bằng warfarin cho kết quả: thời gian nằm viện của nhóm BN có xuất hiện TTT
trong bệnh án tăng lên đáng kể so với nhóm BN không có TTT.
Trong thực hành kê đơn và chăm sóc dƣợc, việc phát hiện và quản lý
TTT giúp cho việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý. Đặc biệt đối với trƣờng
hợp đa bệnh lý, đa trị liệu và các thuốc có khoảng điều trị hẹp thì việc quản lý
và phát hiện TTT giảm thiểu đáng kể các biến cố bất lợi xảy ra trên lâm sàng
[7], [12].
1.1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tần suất xuất hiện tƣơng tác thuốc.
1.1.4.1. Các yếu tố thuộc về bệnh nhân.
Các đối tƣợng đặc biệt: trẻ sơ sinh, ngƣời cao tuổi, phụ nữ có thai và cho con
bú có những đặc điểm DĐH khác với ngƣời khỏe mạnh, dẫn đến nguy cơ xảy ra
TTT cao hơn. Bên cạnh đó, nữ giới, ngƣời béo phì, ngƣời suy dinh dƣỡng cũng là
đối tƣợng nhạy cảm với TTT [3].
1.1.4.2. Các yếu tố thuộc về thuốc.
Tần suất TTT là 3% - 5% khi dùng vài thuốc và tới 20% khi dùng 10 - 20
thuốc [2].


10

Số TTT tăng theo số thuốc phối hợp, trong đó số TTT có YNLS tăng từ 34%
khi dùng 2 thuốc lên tới 82% khi dùng trên 7 thuốc [26].
1.1.4.3. Các yếu tố thuộc về nhận thức của cán bộ y tế.
Các bác sỹ kê đơn cũng nhƣ các dƣợc sỹ không thể nhớ toàn bộ các cặp TTT.
Cán bộ y tế (CBYT) có thể lấy thông tin về TTT từ nhiều nguồn tra cứu TTT nhƣ:
tờ hƣớng dẫn sử dụng trong sản phẩm, dƣợc thƣ quốc gia, thông tin từ các dƣợc sỹ
lâm sàng hoặc sử dụng các phần mềm tra cứu TTT online sẽ giảm thiểu đáng kể các
TTT bất lợi cho BN, đặc biệt là các thuốc có khoảng điều trị hẹp.
1.2. ĐẶC ĐIỂM VỀ TƢƠNG TÁC THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TÂM
THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ.

tuần đến vài tháng do xuất hiện các biểu hiện cấp tính: triệu chứng loạn thần rầm rộ,
kích động mạnh, có hành vi nguy hiểm, có hành vi tự sát hoặc không chịu ăn [15].
Do vậy việc kết hợp thuốc trên bệnh nhân TTPL nội trú là không thể tránh khỏi: kết
hợp với thuốc chống động kinh, chống loạn thần, chống trầm cảm...
Kể từ khi thuốc chống loạn thần đƣợc giới thiệu nhiều vào năm 1950, điều trị
bằng thuốc loạn thần đã là nền tảng của bệnh nhân TTPL. Các thuốc chống loạn
thần thế hệ đầu tiên có hiệu quả trong việc quản lý các triệu chứng dƣơng tính của
TTPL, chẳng hạn nhƣ ảo giác hay ảo tƣởng [27]. Tuy nhiên chúng có thể gây suy
nhƣợc, ngoại tháp và rối loạn vận động. Các thuốc chống loạn thần thế hệ mới có
nguy cơ thấp hơn và hiệu quả tốt hơn trên các triệu chứng tiêu cực của TTPL, chẳng
hạn nhƣ thiếu cảm xúc, năng lƣợng thấp [24], [34].
Tại Hoa Kỳ, điều trị TTPL tiêu tốn 2,5% chi phí chăm sóc sức khỏe cho ngƣời
lớn hàng năm (khoảng 16-19 tỷ dolla) [46]. Đáng chú ý là những chi phí gián tiếp
của rối loạn này đem lại: mất năng suất lao động và trở thành gánh nặng cho gia
đình hết 46 tỷ dolla năm 1995 [59], tỷ lệ thất nghiệp đối với bệnh nhân TTPL lên
đến 70% -80% [18], TTPL cũng khiến tỷ lệ mắc các bệnh nội khoa nói chung và tử
vong tăng lên, đặc biệt là tự tử [54].
1.2.2. Nghiên cứu về tƣơng tác thuốc của các thuốc điều trị tâm thần phân liệt.
Bệnh nhân TTPL thƣờng nhận đƣợc nhiều loại thuốc cùng 1 lúc, đặc biệt trong
đó có sử dụng ít nhất một thuốc an thần kinh. Chwastiak và cộng sự [20] chỉ ra rằng
53% bệnh nhân TTPL đƣợc sử dụng thuốc loạn thần cùng với một thuốc điều trị
cho một bệnh mạn tính kèm theo, chẳng hạn nhƣ tăng huyết áp, đái tháo đƣờng,


12

bệnh mạch vành, suy nhƣợc, nhiễm trùng, hen suyễn, suy tim sung huyết và bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính.
Hiện nay, trên thế giới có rất ít các nghiên cứu về TTT của các thuốc điều trị
RLTT nói chung. Hầu hết là các nghiên cứu đánh giá TTT của các thuốc điều trị

1.3.1. Phát hiện tƣơng tác thuốc trong thực hành lâm sàng.
Trong quá trình sử dụng thuốc và thực hành lâm sàng, các cán bộ y tế (CBYT)
có thể sử dụng một số cơ sở dữ liệu (CSDL) để tra cứu TTT nhƣ: tờ hƣớng dẫn sử
dụng thuốc, các tài liệu cấp 3: MIMS, VIDAL, Dƣợc thƣ, tài liệu liên quan về TTT
(TTT và chú ý khi chỉ định, Drug interactions fact, Stockley’s Drug Interactions,
Drug Interactions Analysis and Management…) hoặc sử dụng các phần mềm tra
cứu TTT.
Tuy nhiên, trong khi sử dụng có thể gặp một số khó khăn. Thứ nhất, rào cản
về ngôn ngữ. Đa số các phần mềm, tài liệu, nghiên cứu viết bằng tiếng nƣớc ngoài,
khó tiếp cận nên gây ra những khó khăn nhất định trong việc đọc và hiểu. Thứ hai,
những công cụ tra cứu nhƣ sách chuyên khảo, tờ hƣớng dẫn sử dụng dƣờng nhƣ
không thích hợp trong môi trƣờng bệnh viện do yêu cầu cần thông tin nhanh, đặc
biệt các phòng cấp cứu và ICU (khoa hồi sức tích cực). Thêm vào đó, tính cập nhật
thông tin của sách thƣờng chậm, không đáp ứng đƣợc tính chính xác của thông tin
mà CBYT cần. Trái lại, khi sử dụng các phần mềm tra cứu, ví dụ hệ thống kê đơn
điện tử có tích hợp chức năng cảnh báo và sử dụng phần mềm trên máy tính, điện
thoại để duyệt TTT là 1 giải pháp có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu về cả tính cập nhật
và thời gian. Tuy nhiên, cảnh báo quá nhiều, thông tin không rõ ràng về hậu quả,
cách quản lý, đƣa ra cảnh báo không có YNLS là một hạn chế của hệ thống này
[55], [56]. Một nghiên cứu tổng quan tiến hành năm 2006 chỉ ra rằng: có 49% đến
96% trƣờng hợp các bác sĩ bỏ qua các cảnh báo của hệ thống kê đơn [55]. Một
nghiên cứu khác cho thấy, trong 176 cảnh báo an toàn trong quá trình nhập đơn thì
có 51% nhân viên bỏ qua cảnh báo, trong đó có đến 96 cảnh báo về TTT [56].
Nghiên cứu tại 500 nhà thuốc ở tiểu bang Washington kết luận: mặc dù sử dụng 9
phần mềm tra cứu nhƣng vẫn có hàng ngàn BN tiếp xúc với TTT mà không đƣợc
phát hiện bởi các phần mềm này [29], [58].


14


15

Tóm lại, việc sử dụng các phần mềm tra cứu có ý nghĩa thực tế trong thực
hành lâm sàng. Nhƣng để đem lại lợi ích cao nhất và tránh sai sót trong quá trình sử
dụng thì không thể thiếu vai trò của các CBYT. Cavuto và cộng sự tiến hành 1
nghiên cứu trên 50 hiệu thuốc cho thấy mặc dù có 48 hiệu thuốc đƣợc trang bị phần
mềm tra cứu nhƣng vẫn có 16 hiệu thuốc kê đơn chứa đồng thời erythromycin và
terfenadin, đây là TTT nghiêm trọng có thể gây tử vong cho BN do tai biến trên tim
mạch [47]. Do vậy, bác sĩ nên xem xét mỗi loại thuốc thƣờng xuyên, kiểm tra TTT
và nắm rõ các TTT thƣờng xảy ra trong khoa của mình. Dƣợc sĩ cần phát hiện các
TTT xuất hiện trong đơn, hỗ trợ bác sĩ trong việc lựa chọn thuốc thay thế và theo
dõi các biến cố bất lợi của thuốc. Điều dƣỡng cần đánh giá và theo dõi việc sử dụng
thuốc của bệnh nhân cũng nhƣ phát hiện kịp thời các biến cố bất lợi trong quá trình
sử dụng thuốc [41].
1.3.2. Vài nét về cơ sở dữ liệu tra cứu tƣơng tác thuốc.
Chúng tôi quyết định chọn cơ sở dữ liệu https://www.drugs.com để phát hiện
các TTT vì:
 Phần mềm có tính khoa học.
 Phần mềm tra cứu miễn phí.
 Phần mềm cung cấp thông tin về TTT khá đầy đủ.
Là một trang web tra cứu thông tin thuốc đƣợc quản lý bởi Drugsite Trust, một
nhà cung cấp thông tin y học có uy tín trên Internet. Https://www.drugs.com có
CSDL đƣợc cung cấp bởi Micromedex, Fact and Comparisons và Multum.
Trang web này chủ yếu là cung cấp thông tin thuốc, trong đó có một phần tra
cứu tƣơng tác thuốc (Drug Interactions Checker).
Thông tin về các tƣơng tác bao gồm tƣơng tác thuốc-thuốc, thuốc-thức ăn và
đồ uống. Nội dung thông tin của 1 TTT gồm:
 Mức độ nghiêm trọng: có 3 mức độ:
 Nặng: Major.
 Trung bình: Moderate.

có thể gặp (kí hiệu dấu hỏi trong ô vuông).
 TTT không có YNLS hoặc có thể không xảy ra TTT (kí hiệu dấu tích trong
hình tròn).
TTT ở mức độ 1 và mức độ 2 đƣợc đánh giá là có YNLS.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status