Khảo sát thực trạng tương tác thuốc điều trị rối loạn tâm thần trên bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện tâm thần tư 1 - Pdf 29

BỘ Y
TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ
NỘI

NGUYỄN THU HIỀN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TƯƠNG TÁC
THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TÂM THẦN
TRÊN BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC
NGUYỄN THU HIỀN

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TƯƠNG TÁC
THUỐC ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN TÂM THẦN
TRÊN BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC


Người hướng dẫn:
1. TS. Nguyễn Thành Hải
2. ThS. Ngô Văn Nghiệp
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược Lâm Sàng –
trường ĐH Dược Hà Nội
2. Bệnh viện Tâm thần trung
ương 1


học Dược Hà Nội.
Cuối cùng, khóa luận của tôi sẽ không thể hoàn thành tốt nếu như không có
sự tạo điều kiện của gia đình, cũng như sự quan tâm, giúp đỡ của bạn bè. Đặc biệt,
tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ tôi, những người luôn quan tâm đến tiến độ
công việc cũng động viên tôi giúp tôi vững vàng hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thu Hiền

MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1.

Tổng quan về tương tác thuốc 3

1.1.1. Định nghĩa 3

1.1.2. Phân loại tương tác thuốc 3

2.2. Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Mục tiêu 1……………………………………………………………………17

2.2.2. Mục tiêu 2 19

2.3. Nội dung nghiên cứu 20

2.3.1. Đặc điểm liên quan đến sử dụng thuốc trong mẫu 20

2.3.2. Mô tả mức độ tương tác thuốc – thuốc trong mẫu nghiên cứu 20 2.3.3. Các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng 21

2.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng tương tác thuốc trên đơn. 21

2.3.5. Tương tác thuốc – thức ăn, đồ uống 21

2.4. Xử lý số liệu 21

2.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1. Khảo sát tương tác thuốc – thuốc tiềm tàng trên đơn ngoại trú điều trị rối
loạn tâm thần tại Bệnh viện TTTW1 22

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BV TTTW1 Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
CSDL Cơ sở dữ liệu
DĐH Dược động học
DLH Dược lực học
MAO MonoAmin Oxidase
RLTT Rối loạn tâm thần
SPC Summary of Product Characteristics
Tóm tắt đặc tính sản phẩm
SSRI Selective serotonin reuptake inhibitor
Thuốc ức chế thu hồi chọn lọc serotonin
TCA Tricyclic antideprassants
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng
TTT Tương tác thuốc
YNLS Ý nghĩa lâm sàng

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Số thuốc trung bình trên đơn, tỉ lệ đơn thuốc theo số thuốc sử dụng trên
đơn 23


Bảng 3.14. Bảng tổng hợp tương tác thuốc-thức ăn ảnh hưởng tới thời điểm dùng
thuốc 36

Bảng 3.15. Tương tác thuốc – ethanol và tương tác thuốc - thức ăn, đồ uống khác 38
DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình vẽ 2.1. Quy trình tra cứu tương tác thuốc – thuốc 19

Hình vẽ 2.2. Quy trình tra cứu tương tác thuốc-thức ăn, đồ uống 20

Hình vẽ 3.3. Kết quả về tương tác thuốc – thuốc tiềm tàng trên đơn ngoại trú 22

Hình vẽ 3.4. Đồ thị về mối liên hệ số tương tác trên đơn với số thuốc kê trên đơn 33

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phối hợp thuốc (đa trị liệu) là một cách thức hữu ích để điều trị các trường
hợp đa bệnh lý, nhưng đồng thời phối hợp thuốc có thể làm giảm hiệu quả và/ hoặc

nhân ngoại trú tại bệnh viện TTTW1 với các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Khảo sát tương tác thuốc - thuốc tiềm tàng trên đơn ngoại trú
điều trị rối loạn tâm thần tại Bệnh viện TTTW1.
Mục tiêu 2: Khảo sát tương tác thuốc – thức ăn, đồ uống của các thuốc điều
trị rối loạn tâm thần trên đơn bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện TTTW1
Từ đó, đưa ra những ý kiến đề xuất cho bệnh viện, khoa dược, nhà thuốc
bệnh viện, góp phần hạn chế các tương tác bất lợi và thiết lập kế hoạch thời điểm sử
dụng thuốc điều trị rối loạn tâm thần trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú nhằm nâng
cao chất lượng điều trị và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý cho bệnh nhân tại Bệnh
viện TTTW1.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Tổng quan về tương tác thuốc
1.1.1. Định nghĩa
Tương tác thuốc được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tương tác
thuốc có thể được định nghĩa là sự thay đổi tác dụng của 1 thuốc bởi sự có mặt của
1 thuốc khác, thuốc có nguồn gốc thảo dược, thức ăn, đồ uống, 1 tác nhân của môi
trường nào đó [2], [22], [31]. Tương tác thuốc bao hàm cả trường hợp tương tác lý
hóa (tương kỵ thuốc) khi trộn lẫn thuốc trong dung dịch: gây kết tủa, đổi màu, vẩn
đục, gây mất tác dụng… [22], [14]. Tương tác thuốc cũng được dùng để nêu ảnh
hưởng của 1 thuốc tới kết quả xét nghiệm sinh hóa, huyết học [22].
1.1.2. Phân loại tương tác thuốc
Tương tác thuốc có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng
cách phân loại thường gặp nhất là theo thành phần gây ra tương tác: tương tác thuốc
– thuốc, tương tác thuốc – thức ăn [2],[ 14],[ 31]. Bên cạnh đó, tương tác thuốc
cũng được phân loại theo cơ chế gây tương tác: tương tác dược động học và tương
tác dược lực học [2],[ 14],[ 22].

vòng [44].
- Do cản trở cơ học, tạo lớp ngăn cản tiếp xúc của thuốc với niêm mạc ống
tiêu hóa:
Các thuốc bao niêm mạc tiêu hóa có khả năng cản trở tiếp xúc và làm giảm
sinh khả dụng của các thuốc khác [14].
Tương tác dược động học xảy ra trong quá trình phân bố:
Thuốc sau khi hấp thu vào hệ tuần hoàn, phần lớn sẽ được vận chuyển tới cơ
quan dưới dạng liên kết với protein huyết tương (globulin và albumin). Trong thực
tế, luôn tồn tại một cân bằng động giữa dạng thuốc liên kết và dạng thuốc tự do.
Dạng thuốc tự do là dạng có tác dụng, còn dạng thuốc liên kết với protein huyết
tương giống như một kho dự trữ thuốc, khi nồng độ dạng tự do giảm, dạng kết hợp
với protein huyết tương giải phóng thành dạng tự do, nhằm thiết lập lại cân bằng
động. Tương tác xảy ra khi phối hợp hai thuốc có vị trí liên kết trên cùng protein
huyết tương, thuốc có ái lực với protein cao hơn đẩy thuốc có ái lực thấp hơn ra
khỏi vị trí liên kết, làm tăng nồng độ tự do của thuốc đó trong máu. Tuy nhiên,
5
tương tác này chỉ có ý nghĩa với các thuốc có tỉ lệ liên kết protein huyết tương cao
(>80%) và khoảng điều trị hẹp. Khi thuốc có tỉ lệ liên kết huyết tương cao, tương
tác kiểu này có thể đẩy nồng độ thuốc tự do trong máu tăng lên gấp nhiều lần so với
bình thường. Khoảng điều trị hẹp đồng nghĩa với việc chỉ một biến đổi nhỏ trong
nồng độ thuốc tự do có thể dẫn đến tác dụng quá mức hoặc độc tính thuốc [2], [22],
[14]. Ví dụ: diazepam do đẩy phenytoin ra khỏi các protein trong huyết tương làm
tăng nồng độ phenytoin tự do và làm tăng nguy cơ độc tính của thuốc [44], tuy
nhiên trên thực tế lâm sàng, nhờ vào cơ chế đã nêu ở trên, tương tác này không gây
ra hậu quả bất lợi, trừ khi đồng thời cũng xảy ra tương tác thuốc ở giai đoạn chuyển
hóa phenytoin [31].
Tương tác dược động học xảy ra trong quá trình chuyển hóa:

- Thay đổi pH nước tiểu:
Các thuốc gây kiềm hóa nước tiểu (ví dụ như các thuốc làm giảm tiết acid
dịch vị, các thuốc antacid ) làm giảm bài xuất các thuốc có bản chất base dẫn đến
tăng thời gian bán thải [2], có thể dẫn đến hiện tượng chồng liều khi nồng độ thuốc
trong máu vẫn còn tác dụng mà lại nạp thêm liều mới. Tuy nhiên làm kiềm hóa
nước tiểu sẽ làm tăng bài xuất các thuốc có bản chất acid và ngược lại.
- Cạnh tranh chất mang với các thuốc thải trừ qua ống thận theo cơ chế vận
chuyển tích cực:
Khi sử dụng phối hợp 2 thuốc cùng thải trừ qua thận bằng cơ chế vận chuyển
tích cực với cùng chất mang, thuốc có ái lực cao hơn với chất mang sẽ đẩy thuốc
còn lại ra khỏi liên kết chất mang [2], [14]. Do đó, thuốc phối hợp sẽ qua trở lại tích
lũy trong dịch kẽ, có thể gây tăng, kéo dài tác dụng hoặc gây độc.
 Tương tác dược lực học:
Là tương tác xảy ra khi tác động dược lực của một thuốc bị thay đổi khi dùng
một thuốc khác. Tương tác dược lực học có thể xảy ra trên cùng một thụ thể hoặc
trên các thụ thể khác nhau. Tương tác này gặp phải khi phối hợp các thuốc cùng
hướng tác dụng dược lý hoặc cùng tác dụng phụ. Tương tác dược lực học có thể gây
ra tác động đối kháng hay tác động hiệp đồng: làm tăng hiệu quả của 2 thuốc phối
hợp, làm giảm hoặc mất tác dụng của 2 thuốc phối hợp, làm giảm hoặc tăng độc
tính. Đây là các tương tác hay gặp nhất trong thực hành lâm sàng.
7
Tương tác thuốc gây tác động đối kháng là trường hợp khi sử dụng phối hợp
2 thuốc làm giảm hoặc mất tác dụng của 2 thuốc thành phần. Nhiều trường hợp
tương tác thuốc đối kháng có lợi, đặc biệt trong trường hợp giải độc morphin bằng
naloxon do cạnh tranh receptor µ [4]. Ngược lại, các thuốc chống loạn thần làm
giảm hiệu quả của levodopa trong bệnh Parkinson bằng cách ngăn levodopa gắn
vào các thụ thể dopamin trong thể vân [44].

thuốc kém bền trong môi trường acid dạ dày, khi thuốc bị giữ lại trong dạ dày lâu sẽ
bị giảm sinh khả dụng (ví dụ: ampicillin, levodopa ). Bữa ăn có nhiều chất béo, quá
mặn hoặc quá chua đều làm chậm thêm tốc độ rỗng dạ dày [10].
- Ảnh hưởng tới độ hấp thu của thuốc:
Tùy thuộc vào dạng bào chế, đặc tính dược chất (đặc điểm tính tan, đặc tính
hấp thu ) mà thức ăn có tác động khác nhau đến độ hấp thu của thuốc. Một số thuốc
bào chế ở dạng lỏng có độ tan tốt hơn bào chế ở dạng rắn, thức ăn hầu như không
ảnh hưởng tới sinh khả dụng của thuốc [10]. Một số dược chất được bào chế dưới
dạng bào chế đặc biệt giải phóng phụ thuộc pH (viên bao tan trong ruột), thức ăn sẽ
làm tăng pH dạ dày, tăng thời gian lưu giữ thuốc trong dạ dày, lớp bao ngoài có thể
bị phá vỡ làm ảnh hưởng tới việc hấp thu thuốc. Những thuốc có đặc tính thân dầu,
cần hấp thu nhờ muối mật hoặc thuốc hấp thu nhờ các enzym màng ruột sẽ được
tăng độ hấp thu khi dùng cùng thức ăn. Những thuốc có độ tan kém hoặc thuốc mà
kích thước hạt có ảnh hưởng đến cường độ hấp thu nên được dùng cùng thức ăn để
tăng độ tan.
Thức ăn gây ảnh hưởng tới chuyển hóa thuốc:
- Bữa ăn làm tăng lưu lượng máu qua gan:
Sau bữa ăn lượng máu về gan tăng lên. Điều này làm tăng đưa thuốc về gan
và có thể gây bão hòa thuốc ở vòng tuần hoàn đầu, gây tăng hoạt tính, đặc biệt với
những thuốc có hệ số thanh thải qua gan lớn như thuốc chẹn beta, hormon Một số
thành phần trong thức ăn ảnh hưởng tới hoạt động hệ enzym chuyển hóa thuốc. Thịt
nướng than kiểu "barbecue" gây cảm ứng enzym CYP1A2 dẫn đến tăng chuyển hóa
và làm giảm tác dụng của cafein, theophyllin Một số thành phần khác trong thức
ăn có thể gây ức chế enzym chuyển hóa thuốc như bưởi chùm (grapefruit) dẫn đến
9
tăng nồng độ các thuốc được chuyển hóa bằng enzym đó (haloperidol, clozapin )
[2], [10].

Tương tác thuốc có thể dẫn tới tăng gặp phải phản ứng bất lợi của thuốc, thất
bại điều trị, tăng chi phí điều trị, tăng bệnh mắc kèm, yêu cầu nhập viện thậm chí
gây tử vong [2],[ 3],[ 26]. Tuy nhiên cũng có những TTT không yêu cầu bất cứ can
thiệp y tế nào. Do đó, trong thực tế lâm sàng, những TTT cần quan tâm là tương tác
có ý nghĩa lâm sàng (YNLS).
TTT có YNLS là những TTT làm biến đổi độc tính hoặc thay đổi tác dụng
điều trị của thuốc, cần thiết phải có can thiệp y khoa hoặc yêu cầu hiệu chỉnh liều.
Các yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ ý nghĩa của 1 cặp TTT là mức độ nghiêm
trọng, phạm vi điều trị của 1 thuốc, ghi nhận bằng chứng lâm sàng và khả năng sử
dụng kết hợp của 2 thuốc trên lâm sàng [40].
Tần suất TTT xuất hiện ở những mức độ khác nhau là khác nhau. Phần lớn
tương tác gặp phải ở mức độ nhẹ; các TTT có YNLS chỉ chiếm 4,7% – 8,8%, tuy
nhiên có nguy cơ gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng thậm chí gây tử vong [30].
Đặc điểm khoa khám bệnh và một số nghiên cứu về tương tác
thuốc điều trị rối loạn tâm thần trên bệnh nhân điều trị
ngoại trú
1.2.1. Đặc điểm bệnh nhân điều trị rối loạn tâm thần ngoại trú
 Đặc điểm bệnh nhân ngoại trú
Bệnh nhân ngoại trú là đối tượng điều trị tại nhà, tự dùng đơn của bác sĩ kê
mà không có điều kiện để theo dõi cũng như giám sát biến cố bất lợi có thể xảy ra
trên bệnh nhân. Ngoài ra bệnh nhân cũng có thể tự dùng thêm các thuốc không kê
đơn, do vậy, nguy cơ gặp tương tác cũng như biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh
nhân ngoại trú tăng lên [3]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn về đánh giá tương
tác thuốc bất lợi trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Hà Đông
cho kết quả tỉ lệ đơn thuốc xuất hiện tương tác thuốc là 17,8%, trung bình 0,25
tương tác trên 1 đơn. Trong đó, tỉ lệ tương tác có YNLS là 2,9% tương ứng với 0,04
tương tác trên 1 đơn [11].
 Đặc điểm bệnh rối loạn tâm thần: dịch tễ, gánh nặng xã hội và mối liên
quan với các bệnh lý khác
11

nhiều nhất: cứ 10 người Mĩ trên 6 tuổi thì có 1 người sử dụng thuốc chống trầm cảm
[34].
12
Hơn nữa, ngoài việc sử dụng thuốc điều trị RLTT cho bệnh chính, còn có thể
bắt gặp các thuốc điều trị RLTT với mục đích điều trị các bệnh lý khác. Nhóm
chống loạn thần có tác dụng an thần kinh, giảm tiết dịch có thể sử dụng trong
trường hợp nôn mửa, hỗ trợ điều trị loét dạ dày do căng thẳng. Nhóm thuốc chống
trầm cảm và chống động kinh còn được sử dụng điều trị đau mạn tính [19],[ 31].
Các nghiên cứu trên thế giới về việc sử dụng thuốc điều trị rối loạn tâm thần
cũng chỉ ra thực trạng phối hợp thuốc có liên quan đến thuốc điều trị rối loạn tâm
thần. Nghiên cứu của Mark Olfson năm 2009 chỉ ra rằng trong khoảng 27 triệu
người sử dụng thuốc chống trầm cảm, 38% sử dụng thêm ít nhất 1 thuốc điều trị rối
loạn tâm thần thuộc nhóm khác thuốc chống trầm cảm: 24% dùng thuốc chống lo âu
hay thuốc hưng thần, 9% sử dụng thuốc chống loạn thần, 6% sử dụng thuốc điều
hòa khí sắc và 6% sử dụng nhiều hơn 2 thuốc thuộc nhóm khác thuốc chống trầm
cảm [34]. Một nghiên cứu khác về việc kê đơn thuốc điều trị RLTT trên dịch vụ
chăm sóc sức khỏe tâm thần thực hiện tại Trinidad vào năm 2002 đã cho kết quả
83/127 bệnh nhân ngoại trú khai thác được tình trạng sử dụng các thuốc RLTT đồng
thời với các thuốc “nonpsychotropic, thuốc không điều trị bất cứ chứng rối loạn tâm
thần nào”. Các thuốc “nonpsychotropic” bao gồm cả thuốc kê đơn và thuốc không
kê đơn. Các thuốc dùng cùng thường gặp lần lượt là thuốc điều trị tăng huyết áp,
thuốc điều trị đái tháo đường và thuốc chống viêm [39].
Do đối tượng sử dụng là bệnh nhân ngoại trú, đường dùng chủ yếu của thuốc
là đường uống. Tuy đường uống an toàn và dễ sử dụng hơn đường tiêm truyền,
nhưng đồng thời yêu cầu bệnh nhân cần được hướng dẫn sử dụng và tư vấn hợp lý,
đặc biệt liên quan đến thời điểm dùng, để đảm bảo tránh được các tác dụng phụ và
tương tác thuốc - thức ăn, đồ uống, và tương tác thuốc với các tác nhân khác cũng

đã giúp ích rất nhiều trong việc phát hiện và quản lý tương tác thuốc. Tuy nhiên, do
các thông tin thuốc trong điều trị thay đổi không ngừng nên tính cập nhật của các
sách đều khó đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ngoài ra, việc tra cứu tương tác thuốc
trên sách cũng tốn thời gian và công sức của người tra cứu [6].
Do nhu cầu thực tế và sự phát triển công nghệ thông tin, các cơ ở dữ liệu tra
cứu tương tác thuốc online ra đời với nhiều ưu điểm nổi bật: cung cấp đầy đủ thông
14
tin về tương tác thuốc trong một khoảng thời gian ngắn, cung cấp nhiều chức năng
hỗ trợ khác như tra cứu về thông tin sản phẩm, chuyển đổi tên biệt dược và hoạt
chất, tra cứu độc tính của thuốc [6]. Tuy nhiên những cơ sở dữ liệu online không
thống nhất về phân loại mức độ nghiêm trọng cũng như việc đưa ra khuyến cáo dẫn
đến khó khăn cho quá trình quản lý tương tác thuốc: các tương tác thuốc có ý nghĩa
lâm sàng bị bỏ qua trong khi một số tương tác không có ý nghĩa lâm sàng lại được
nhận định là có ý nghĩa lâm sàng [6], [5]. Cụ thể nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn
trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú đưa ra kết quả có 6 tương tác được Micromedex
nhận định là có ý nghĩa lâm sàng (chống chỉ định, ngiêm trọng) nhưng lại bị Mims
online bỏ qua và ngược lại 154 tương tác được Mims online nhận định là có ý nghĩa
lâm sàng (nghiêm trọng, cân nhắc nguy cơ/lợi ích) lại không được đánh giá tương
đồng bởi Micromedex [12].
Tuy có một số nhược điểm nhưng không thể phủ nhận lợi ích của các cơ sở dữ
liệu trong việc cảnh báo, kiểm tra tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng.
1.3.1. Một số cơ sở dữ liệu online thường dùng.
 Cơ sở dữ liệu DRUG – REAX Micromedex 2.0 (MM 2.0) của Thomson
Reuters.

Đây là CSDL tra cứu tương tác thuốc có uy tín và được nhiều nghiên cứu
đánh giá cao, được áp dụng phổ biến rộng rãi trên thực hành lâm sàng tại nhiều

đơn, kết quả tra cưu cũng rất dễ thực hiện. Do vậy, Drugs.com được sử dụng khá
phổ biến ngay từ thời điểm ban đầu để tra cứu các cặp tương tác trên thực hành lâm
sàng.
1.3.2. Quy trình tra cứu tương tác thuốc trên đơn ngoại trú
Nghiên cứu do Abarca J. và cộng sự tiến hành năm 2006 đã cho thấy, tuy
khác nhau về khả năng phát hiện tương tác thuốc nhưng điểm trung bình độ nhạy và
điểm trung bình độ đặc hiệu của 8 cơ sở dữ liệu duyệt tương tác tại nhà thuốc lần
lượt là 0,88 (khoảng dao động 0,81 - 0,94) và 0,91 (khoảng dao động 0,67 – 1,00).
Trong khi đó, cơ sở dữ liệu duyệt tương tác thuốc của khoa Dược bệnh viện chỉ đạt
trung bình độ nhạy 0,3 (khoảng dao động 0,15 - 0,94) [18]. Bên cạnh đó, hầu hết
các cơ sở dữ liệu tra cứu tương tác thuốc hiện nay đều gặp phải vấn đề về độ nhạy
và độ đặc hiệu [28], việc chỉ chọn và sử dụng một cơ sở dữ liệu tra cứu có nguy cơ
16
dẫn tới sai sót trong thực hành lâm sàng. Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi
tiến hành mô tả một quy trình tra cứu tương tác thuốc trên đơn cho bệnh nhân ngoại
trú được thực hiện dễ dàng trên thực hành lâm sàng tại các Bệnh viện. Đồng thời,
chúng tôi tiến hành thẩm định quy trình thông qua mẫu nghiên cứu nhằm khắc phục
nhược điểm của các cơ sở dữ liệu tra cứu kể trên. Từ đó, có thể áp dụng quy trình
tra cứu tương tác thuốc cho các đơn vị lâm sàng sau này.
17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status