Báo cáo đề tài khoa học cấp trường về sản xuất rau an toàn - Pdf 37

BÁO CÁO THUYẾT MINH ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2015

Tên đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển rau an toàn trên địa bàn huyện Việt
Yên, tỉnh Bắc Giang

Mã số:
Họ tên chủ nhiệm đề tài: Sv. Nguyễn Văn Tâm – Lớp DL-KETOAN 3A
Giảng viên hướng dẫn:Ts. Nguyễn Hải Nam – Giảng viên Khoa Kinh tế - Tài chính

Bắc Giang, Tháng 12 Năm 2015
1


PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã phát triển đã tạo ra nguồn cung
cấp lương thực, thực phẩm phong phú và ổn định cho người tiêu dùng trong nước.Tuy
nhiên, các kỹ thuật sản xuất vẫn còn tập trung chủ yếu vào phát triển số lượng hơn là chất
lượng sản phẩm, đặc biệt còn hạn chế trong việc áp dụng các qui phạm thực hành nông
nghiệp tốt.
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng tăng
cao, chính vì vậy nhu cầu cuộc sống cũng tăng cao hơn, chất lượng hơn, an toàn hơn.
Trước kia chúng ta chỉ cần ăn no, mặc ấm nhưng ngày nay thì muốn ăn ngon mặc đẹp,
đặc biệt là khi chúng ta đang gia nhập AFTA và tổ chức thương mại quốc tế (WTO) và
này 5/10/2015 đã ký kết hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) yêu cầu lớn
nhất trong thời đại hiện nay của chúng ta là sản xuất và bán ra những thực phẩm an toàn
đáp ứng được nhu cầu cao của trong nước và thế giới.
Rau là thực phẩm rất cần thiết đối với con người và là sản phẩm không thể thay
thế, bởi rau xanh cung cấp các chất quan trọng cho sự phát triển của con người như
vitamin và chất khoáng, chất xơ... Rau còn có ý nghĩa kinh tế khác như là loại cây lương

của các tổ chức, trường học, doanh nghiệp có bếp ăn tập thể với số lượng lớn và lâu dài.
Vấn đề cơ bản hiện nay việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý, kết hợp
với đầu tư hệ thống nhà lưới, xây dựng vùng sản xuất tập trung với khối lượng lớn và
chủng loại phong phú, đi liền với việc xây dựng mạng lưới tiêu thụ có sự xác nhận chất
lượng của các cơ quan chức năng để cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn.
Việt Yên là một huyện trung du của tỉnh Bắc Giang , có điều kiện tự nhiên thuận
lợi cho phát triển kinh tế, có tốc độ đô thị hóa nhanh. Với lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ
tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nên sản xuất rau của huyện Việt Yên những năm
qua đạt hiệu quả cao. Một trong những lợi thế để phát triển nông nghiệp sạch ở Việt Yên
là phát triển các vùng rau an toàn cùng với nâng cấp các vùng hoa.Tuy nhiên, để mở rộng
quy mô phát triển nông nghiệp sạch Việt Yên cũng đang đứng trước những khó khăn về
quy hoạch vùng sản xuất và tạo dựng thương hiệu sản phẩm. Đồng thời việc lạm dụng
phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật cùng với tập quán canh tác truyền thống làm
cho chất lượng rau nói chung và rau an toàn nói riêng không đảm bảo làm ảnh hưởng đến
việc phát triển bền vững trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn. Vì vậy việc xây dựng hệ
thống sản xuất rau an toàn theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ góp phần vào việc bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khoẻ người tiêu dùng đang là vấn đề được các cấp,
các ngành và chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm.
Trước những nhu cầu tiêu thụ rau an toàn ngày càng tăng về số lượng và đòi hỏi
nghiêm ngặt về chất lượng rau. Sản xuất rau an toàn bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng,
không chỉ là vấn đề tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện nay, mà còn góp phần nâng
cao tính cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở ra thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và
ngoài nước, khuyến khích phát triển sản xuất. Xuất phát từ lợi ích của người sản xuất rau
và tình hình thực tế sản xuất rau của huyện, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng và
3


giải pháp phát triển rau an toàn trên địa bàn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang ” nhằm
góp phần thực hiện tốt đề án “Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn giai đoạn 2015-2020” ở
Bắc Giang và đưa ra những giải pháp phù hợp với địa phương để phát triển sản xuất rau

2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp sạch
Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ thống quản lý sản xuất
nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm
không khí, đất và nước, tối ưu về sức khoẻ và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ
thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật nuôi và con người (Codex Alimentarius, FAO/WHO,
2001).
Ngoài ra, còn có thể hiểu “nông nghiệp hữu cơ (còn gọi là nông nghiệp sinh thái,
nông nghiệp sạch) là hệ thống đồng bộ hướng tới thực hiện các quá trình với kết quả đảm
bảo hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và
công bằng xã hội. Hệ thống sản xuất hữu cơ là nhiều hơn hệ thống sản xuất mà bao gồm
hoặc loại trừ một số vật tư đầu vào” (IFOAM - Liên đoàn các phong trào nông nghiệp
hữu cơ quốc tế, 2002).
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có hai quan niệm về nền nông
nghiệp sạch, đó là Nông nghiệp sạch tuyệt đối và Nông nghiệp sạch tương đối.
- Nông nghiệp sạch tuyệt đối là nền nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học. Ở
nền nông nghiệp này, người ta áp dụng các biện pháp hữu cơ và sinh học, trở lại chế độ
canh tác tự nhiên, không dùng các loại phân bón hóa học hay thuốc BVTV. Các loại cây
trồng được sản xuất trong nhà kính, nhà lưới và cách ly với các yếu tố độc hại của môi
trường bên ngoài. Hầu như, nền nông nghiệp này chỉ được áp dụng ở các nước phát triển,
vì họ có điều kiện về tài chính để đầu tư vốn và cơ sở vật chất cho sản xuất nông nghiệp.
- Nông nghiệp sạch tương đối là nền nông nghiệp có sự kết hợp các biện pháp
thâm canh hiện đại, đặc biệt là các thành tựu về khoa học công nghệ sinh học, kỹ thuật
cao với các biện pháp hữu cơ, sinh học để giảm thiểu đến mức thấp nhất việc sử dụng
phân bón hóa học và thuốc BVTV, nhằm hạn chế tối đa tác động xấu của sản xuất đến
môi trường. Đồng thời các sản phẩm sản xuất ra có dư lượng chất hóa học, kim loại nặng
và độc tố ở mức cho phép. Nền nông nghiệp này đang được áp dụng ở các nước đang
phát triển.
5


tốt cho rau quả tươi tại Việt Nam (VietGAP).

6


Theo Trần Khắc Thi [9], sản phẩm rau được xem là an toàn khi đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu sau:
+ Sạch, hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch bụi bẩn và tạp chất, thu và đóng gói đúng
độ chín, không có triệu chứng bệnh, có bao bì vệ sinh, hấp dẫn.
+ Sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau chứa dư lượng thuốc BVTV, dư
lượng nitrat (NO3), dư lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây hại không vượt quá
ngưỡng cho phép của tổ chức Y tế thế giới.
Theo quan điểm của các nhà khoa học thì nông nghiệp hữu cơ là một phương thức
sản xuất cấm dùng các hóa chất tổng hợp mà dựa trên trên cở sở sử dụng các chất hữu cơ
và luân canh cây trồng có mục tiêu tôn trọng môi trường và bảo vệ các mối cân bằng của
đất và hệ sinh thái nông nghiệp. Đây là hướng sản phẩm an toàn, do vậy rau hữu cơ là
rau được canh tác bằng phương pháp canh tác hữu cơ, cùng với sự kiểm soát chặt chẽ từ
khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Tóm lại, rau an toàn là loại rau không dập nát, úa, hư
hỏng, không có đất, bụi bám quanh, không chứa các hóa chất độc hại, hàm lượng nitrat
(NO3), kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV cũng như vi sinh vật gây hại phải được hạn
chế theo tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không bị ô nhiễm kim loại
nặng. Canh tác theo những quy trình kỹ thuật tổng hợp, hạn chế sử dụng phân bón hóa
học và thuốc BVTV.
2.1.2.3 Quy trình công nghệ sản xuất rau an toàn
Hiện nay, ở nước ta đang áp dụng nhiều quy trình sản xuất rau an toàn như quy
trình IPM, quy trình rau hữu cơ... và gần đây nhất Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn đã ban hành quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGap) trong sản xuất rau.
a, Quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM
Quản lý dịch hại tổng hợp (gọi tắt là IPM) là một hệ thống điều khiển dịch hại
bằng cách sử dụng hài hòa những biện pháp kỹ thuật một cách thích hợp trên cơ sở phân

VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices): là những nguyên tắc, trình tự, thủ
tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao
chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu
dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm.
Là quy trình do Bộ Nông nghiệp và nông thôn ban hành vào tháng 1/2008 về các
quy định trong sản xuất rau an toàn từ sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch, chế biến và
vận chuyển nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn, ngăn ngừa hoặc giảm thiểu đến
mức tối đa những mối nguy tiềm ẩn về hóa học, sinh học và vật lý.

8


2.1.2.4 Điều kiện và tiêu chuẩn cơ bản để sản xuất rau an toàn
a, Điều kiện sản xuất rau an toàn
- Nhân lực:
+ Người sản xuất phải được huấn luyện, đào tạo qua các lớp huấn luyện IPM rau
(nếu sản xuất theo VietGAP thì phải được huấn luyện về kỹ thuật sản xuất RAT theo
VietGAP) do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đào tạo và cấp Giấy chứng nhận.
+ Người sản xuất phải thực hiện đúng Quy trình kỹ thuật sản xuất RAT.
+ Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT phải có cán bộ chuyên ngành trồng trọt hoặc
BVTV từ trung cấp trở lên để hướng dẫn, giám sát kỹ thuật sản xuất RAT.
- Đất trồng và giá thể:
+ Vùng đất sản xuất RAT phải ở trong Quy hoạch vùng đủ điều kiện sản xuất
RAT. Không chịu ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ
các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung, nghĩa trang, đường giao
thông lớn.
+ Giá thể sản xuất RAT phải làm từ những vật liệu an toàn, phù hợp với sản xuất
rau, không bị nhiễm bẩn, không được pha trộn các loại hóa chất và phân bón độc hại,
ngoài danh mục phân bón được phép sử dụng ở Việt Nam.
+ Hàm lượng một số kim loại trong đất, giá thể trước khi sản xuất và trong quá

thẩm quyền ban hành đối với từng loại rau. Trường hợp loại rau chưa được ban hành quy
trình thì áp dụng tương tự theo quy trình sản xuất RAT của loại rau khác cùng nhóm.
- Người sản xuất: phải thực hiện nghiêm túc quy trình sản xuất RAT và cam kết đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm.
b, Tiêu chuẩn về quy trình sản xuất rau an toàn
- Môi trường sản xuất rau an toàn: bao gồm đất, nước, không khí... phải
đảm bảo trong lành, không bị bẩn do nước thải của khu công nghiệp, bệnh viện.
- Phương thức và trình độ sản xuất: rau an toàn cần phải được sản xuất trong vùng
đã được quy hoạch, có tổ chức và quản lý chặt chẽ. Người sản xuất phải tự nguyện, tự
giác, có kiến thức và tiếp thu được công nghệ, kỹ thuật mới.
- Đất trồng: phải cao ráo, dễ thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và phát triển
của cây rau. Đất không nhiễm độc kim loại nặng, thuốc BVTV hóa học và dư lượng
nhiều chất hữu cơ chưa phân hủy hết. Bên cạnh đó, đất trồng rau an toàn phải xa khu
công nghiệp, bệnh viện, nghĩa trang, đường quốc lộ ít nhất 200m và các vùng gây ô
nhiễm.
10


- Giống và thời vụ gieo trồng: phải chọn giống tốt, những cây con phải khỏe
mạnh, không mang mầm bệnh, có khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Trước khi gieo
trồng, hạt giống cần được xử lý cẩn thận theo đúng quy trình hướng dẫn. Thời vụ gieo
trồng phải thích hợp với từng loại giống.
- Nước tưới: do rau chiếm 90% là nước nên nước tưới ảnh hưởng rất lớn đến sản
lượng và chất lượng của rau. Rau an toàn cần phải tưới bằng nước sạch hay nước đã qua
xử lý, lọc bẩn và các chất ô nhiễm khác.
- Phân bón: nghiêm cấm dùng phân tươi để bón hay tưới cho cây rau, chỉ được
dùng phân chuồng đã ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ hỗn hợp, khoáng
theo tỷ lệ cân đối. Sử dụng phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng của các đơn vị
được phép sản xuất, dùng đúng liều lượng theo hướng dẫn.
- Phòng trừ sâu bệnh: thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng

của các chỉ tiêu nêu trên không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn quy định.
Trong đời sống hàng ngày, rau an toàn thường được gọi là rau sạch. Vì vậy, cần có sự
phân biệt một cách chính xác hơn. Khái niệm rau sạch sử dụng để chỉ các loại rau có chất
lượng tốt, với dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd...), nitrat
cũng như các vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ con người ở dưới mức tiêu chuẩn cho
phép theo tiêu chuẩn của FAO, WTO hoặc tiêu chuẩn Việt Nam. Đây là các chỉ tiêu quan
trọng nhất nhằm xác định mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm cho rau quả “sạch”.
Rau sạch (sạch hoàn toàn) là loại rau được sản xuất bằng công nghệ sinh học, hoàn toàn
không sử dụng phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật. rau sạch được sản xuất theo quy
trình vệ sinh đồng ruộng, bón phân sinh học và phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh
học. Mức độ đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau sạch cao hơn
nhiều so với rau an toàn.
Sản xuất rau an toàn là một bộ phận của ngành sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh
những đặc điểm chung thì sản xuất rau an toàn còn có những đặc điểm riêng:
Khi trồng rau an toàn người sản xuất phải xử lý kỹ vườn ươm để phòng chống
sâu, bệnh cho cây giống.
Rau an toàn là loại rau yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư vật chất cũng như lao động
lớn hơn cây trồng khác.
Là sản phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng nên có nhiều loại sâu bệnh hại, cần phải
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đúng quy định (về liều lượng, chủng loại, thời
gian…) và tổ chức sử dụng lao động hợp lý, khoa học để vừa cho năng suất, sản lượng
cao, vừa đảm bảo chất lượng.
Có sự đòi hỏi rất nghiêm ngặt của thị trường tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, người
sản xuất phải tôn trọng các tiêu chuẩn chất lượng thì sản phẩm mới tồn tại được trên thị
12


trường.
Rau an toàn là sản phẩm tươi sống, có hàm lượng nước cao, cồng kềnh, dễ hư
hỏng, khó vận chuyển và bảo quản nên thường được tiêu thụ tại chỗ.


Cần thu hoạch tại thời điểm rau đạt chất lượng tốt nhất (đúng tiến độ chín của sản
phẩm và đúng thời gian cách ly). Rau cần được phân loại theo tiêu chí chất lượng và phải
được bán ngay. Đồng thời phải có điều kiện chế biến và bảo quản theo đúng kỹ thuật
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất.

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau an toàn
Quá trình sản xuất rau an toàn không chỉ bó hẹp trong các hoạt động sản xuất mà
còn cả trong thu hoạch, chế biến, lưu thông và phân phối. Vì vậy, để có thể sản xuất ra
các loại rau an toàn đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cần phải
tính đến các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất rau an toàn.
2.1.4.1 Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật
Điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, chất đất, nguồn nước phục vụ cho quá
trình sản xuất là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng sản phẩm.
Đồng thời, do rau an toàn là loại cây trồng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư cơ sở hạ
tầng lớn nên nếu khu vực nào mà cơ sở hạ tầng không đảm bảo thì khó có thể tổ chức sản
xuất rau an toàn được.
Chính vì vậy, khác với việc sản xuất rau truyền thống, sản xuất rau an toàn đòi hỏi
phải có sự đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật chuyên ngăn dùng như các loại nhà che, nhà
lưới, nhà vòm, nhà kính... Nhà lưới, nhà vòm là những phương tiện sự xâm nhập của côn
trùng, bướm gây hại rau, qua đó hạn chế được sự sử dụng thuốc bảo vệ thực vật - một
yêu cầu khắt khe của sản xuất rau an toàn. Ngoài ra, nhà che còn hạn chế những tác động
bất lợi của thiên nhiên như mưa to, gió lớn, nắng gắt, mưa đá, sương muối…, từ đó giúp
cho rau không bị thương tổn do va chạm cơ học. Điều này góp phần đáng kể vào việc giữ
chất lượng cho rau an toàn.
Bên cạnh hệ thống nhà che là hệ thống tưới nước khoa học, phù hợp với yêu cầu
của cây trồng trong từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Yếu tố thứ ba là các trang
thiết bị phục vụ khâu thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch như dao, kéo, các loại rổ,
khay đựng sản phẩm…Sử dụng công cụ chuyên dùng làm cho rau không bị tổn thương
trong quá trình thu hoạch, giữ được vẻ đẹp tự nhiên, làm tăng vẻ hấp dẫn của sản phẩm.

rau. Sử dụng phân bón đúng chủng loại, liều lượng, thời gian bón và cách bón theo quy
trình trồng trọt rau an toàn cho từng loại rau.
Nước tưới cho rau phải là nguồn nước không bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật và hoá
chất độc hại. Không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua xử lý; nước thải từ các
bệnh viện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các lò giết mổ gia súc, nước
phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau.
Người sản xuất cần có ý thức và tuân thủ các quy định về luân canh, xen canh hợp
lý giữa các loại rau và giữa rau và các cây trồng khác để không tạo điều kiện cho sâu
bệnh phát triển. Thực hiện thường xuyên khâu vệ sinh đồng ruộng để hạn chế nguồn sâu
bệnh hại và ô nhiễm khác.
15


Áp dụng kỹ thuật quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên rau và sản xuất rau an toàn
theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP). Sử dụng nhà lưới, nhà màng cách ly côn
trùng phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của mỗi loại rau và điều kiện sinh thái của từng
vụ, từng vùng. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm sâu bệnh hại để phòng
trừ kịp thời, áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, đặc biệt là biện pháp bắt sâu, bắt
bướm và diệt ổ trứng sâu vào thời điểm thích hợp. Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hoá
học để phòng trừ sâu bệnh cho rau. Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuốc hoá học
phải tuân thủ 4 nguyên tắc; đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng cách và đúng thời
gian.
Rau an toàn được thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng thời điểm để đảm bảo năng suất
chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Rau sau khi thu hoạch phải được bảo quản
bằng biện pháp thích hợp để giữ được hình thái và chất lượng của sản phẩm.
2.1.4.3 Yếu tố về tổ chức sản xuất
Sản xuất rau an toàn muốn thành công và ngày càng phát triển thì cần có vùng
chuyên canh trồng rau an toàn vì không thể có rau an toàn khi ruộng trồng rau an toàn
nằm sát ruộng trồng hoa hoặc canh các cây trồng khác hoặc cạnh ruộng của gia đình khác
trồng rau truyền thống. Trên cơ sở quy hoạch vùng chuyên canh, cần tổ chức sản xuất

doanh. Hiện nay, RAT sản xuất ra nhưng chưa đến được với người tiêu dùng là do thiếu
hoặc chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và người lưu thông phân phối. Vì
vậy, đang xảy ra tình trạng rau an toàn có nguy cơ không đứng vững được trong siêu thị.
Tuy nhiên, để có thể đứng vững trên thị trường, chất lượng rau an toàn và cung
cấp rau đều đặn quanh năm là yếu tố mang tính quyết định. Muốn vậy, người sản xuất
phải thay đổi cách thức tổ chức gieo trồng truyển thống, thực hiện gieo trồng rải vụ để
giải quyết tốt đầu ra cho sản xuất, đảm bảo cung cấp rau thường xuyên và ổn định, hạn
chế tính thời vụ trong cung ứng rau. Cùng với việc cung cấp rau đầy đủ, đều đặn về số
lượng là sự đảm bảo về chất lượng sản phẩm. Có như vậy, sản xuất rau an toàn mới có
thể tồn tại và đứng vững được.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
2.2.1 Tình hình phát triển rau an toàn trên thế giới
Trên thế giới, nhu cầu đảm bảo lương thực thực phẩm cho con người về số lượng
và chất lượng luôn được quan tâm, nhất là khi thế giới đang phảỉ đối mặt với các nguy cơ
ô nhiễm các loại nông sản. Trong đó, chất lượng của các loại rau xanh luôn được chú
trọng nhằm đảm bảo sức khoẻ cho con người. Vì vậy, vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn được đặt ra và nhận được sự quan tâm và hưởng ứng của nhiều nước trên thế giới.
Trên cơ sở đó, các nhà sản xuất có thể đưa vào trồng trọt một lượng lớn các loại rau an
toàn khác nhau và khối lượng rau an toàn đáp ứng được khá đầy đủ nhu cầu của người
tiêu dùng.
Hiện nay có khoảng 120 chủng loại rau được sản xuất ở khắp các lục địa nhưng
chỉ có 12 loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau toàn thế giới. Loại được trồng
17


nhiều nhất là cà chua 3,17 triệu ha, thứ hai là hành với 2,29 triệu ha và thứ ba là bắp cải
với 2,07 triệu ha. Riêng ở châu Á, rau được trồng nhiều nhất là đậu Hà Lan, kế đến là các
loại rau như cà chua, dưa chuột, hành, cải bắp…
Sản lượng rau trên thế giới tăng nhanh qua từng năm, theo thống kế năm 2001 của
FAO, sự gia tăng về sản lượng rau trên thế giới qua các năm đạt 375 triệu tấn vào năm



thể mua rau tươi quanh năm. Những năm gần đây, rau Trung Quốc chuyển sang thời kỳ
mới. Chính phủ Trung Quốc đã triển khai giai đoạn 3 của Chương trình quốc gia về rau.
Trước những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, giai đoạn này được xây dựng với mục
tiêu là cung cấp rau an toàn và có chất lượng cho người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của đất nước Trung Quốc, rau Trung Quốc cũng có những
bước phát triển mạnh mẽ, xu hướng phát triển đang chuyển dịch từ tăng trưởng về số
lượng sang phát triển về cơ cấu chủng loại và nâng cao chất lượng. Chính phủ Trung
Quốc đang dần hoàn thiện về hành lang pháp lý cho sự phát triển của rau, đặc biệt là rau
an toàn và có chất lượng cao. Từ đó đảm bảo sự phát triển sản xuất bền vững rau an toàn,
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Đối với nền nông nghiệp Mỹ sản xuất rau quả là một ngành sản xuất quan trọng
và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Dù sản xuất trong nước không
đáp ứng đủ nhu cầu nội địa nhưng nó chính là công cụ để cân bằng cán cân thương mại
cho Mỹ trong nhập khẩu hàng nông sản.
Công nghệ trồng rau chủ yếu là trồng trong nhà lưới (xấp xỉ 90%). Mặc dù sản
xuất dưới hình thức hộ nông dân nhưng mỗi nông dân có một hệ thống nhà lưới cho
trồng rau. Tuy nhiên, sản xuất rau trong nhà lưới ở Mỹ chi phí rất cao, phải mất
30.000USD đến 50.000USD cho 4000 dặm vuông nhà lưới với những chi phí chủ yếu là
các dụng cụ và thiết bị xây dựng nhà lưới, chưa tính đến các đầu vào biến đổi
(R.C.Hochmuth và cộng sự, 2007)
Mặc dù sản xuất dưới quy mô hộ gia đình nhưng diện tích bình quân/hộ là rất lớn,
trung bình khoảng từ 5 đến 10 ha. Sản phẩm rau phải có đầy đủ giấy chứng nhận về chất
lượng trước khi đưa ra thị trường. Bên cạnh các sản phẩm hữu cơ thì trồng rau ở Mỹ vẫn
sử dụng các đầu vào bình thường cho một quy trình sản xuất rau như phân bón hoá học,
thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, Người nông dân sử dụng đúng quy trình kỹ thuật như đúng liều
lượng và thời gian cách ly. Người nông dân Mỹ xem sự không an toàn của rau, cũng như
chất lượng rau là một vấn đề rủi ro cuả họ mà họ luôn luôn phải đề phòng.
Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau sạch đã được hoàn thiện ở một trình

hiện đang có tại đồng ruộng và thị trường rau Việt Nam khoảng hơn 60 loại, trong đó có
các giống rau nhập nội và lai tạo (gần 10 loại). Rau mùa đông có nhiều chủng loại hơn
rau vụ hè và năng suất cao hơn nên rau vụ đông là thế mạnh của ta so với các nước trong
khu vực. Phân nhóm theo cách sử dụng thì loại rau ăn thân và lá chiếm từ 55-56%, rau ăn
củ quả chiếm 30-35%, rau thơm và rau gia vị chiếm từ 2-3%.
Trong những năm gần đây, trước nhu cầu về thực phẩm sạch nói chung và rau an
toàn nói riêng nhằm bảo vệ sức khoẻ và chống ô nhiễm môi trường, thực hiện chủ trương
của Nhà nước, nhiều địa phương trong cả nước đã hình thành và phát triển các vùng
trồng rau an toàn gắn với tiêu thụ.
Bên cạnh các hợp tác xã rau, các doanh nghiệp cũng tích cực tham gia sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm rau an toàn như Trung tâm Sao Việt thuộc Công ty Dịch vụ bảo vệ
thực vật An Giang (thành lập từ năm 2002). Công ty cổ phần công nghệ nông lâm nghiệp
20


Việt Nam là một trong những đơn vị đi tiên phong trong việc đăng ký mã vạch với
thương hiệu Bảo Hà tại thị trường Hà Nội.
Sản xuất rau an toàn đang được tạo điều kiện nhằm phát triển nhanh, mạnh trong
thời gian tới. Sự phát triển của quy trình rau an toàn đã được đảm bảo và có những kết
quả đáng khích lệ. Từ đó, đang dần dần từng bước làm biến đổi thói quen tiêu dùng của
những khách hàng dễ dãi nhất và góp phần vào việc giảm thiểu những rủi ro về ô nhiễm
sinh thái, những vấn đề đang tạo ra nguy cơ thực sự cho một nước nông nghiệp như Việt
Nam. Vì vậy, phát triển bền vững sản xuất rau an toàn là một xu hướng tất yếu nhằm đáp
ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng hàng hoá.
2.2.2 Tình hình phát triển rau an toàn ở Bắc Giang
Theo Quyết đinh số 245/QĐ – UBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của UBND
Tỉnh Bắc Giang về việc quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn và rau chế biến tỉnh Bắc
Giang đến năm 2020 trong đó có nhiều cơ chế chính sách tạo điều kiện cho phát triển rau
an toàn. Năm 2013, toàn tỉnh Bắc Giang có diện tích trồng rau chế biến và rau an toàn
lên 2.100 ha, trong đó vụ xuân 500 ha, vụ mùa 100 ha và vụ đông 1.500 ha. Các huyện có


- Đặc điểm địa hình: Địa hình không đồng đều, đồi núi thấp ở một số xã phía bắc và phía
nam huyện, gò đồi thấp ở các xã phía bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía đông và giữa
huyện. Độ nghiêng theo hướng từ bắc xuấng nam và tây tây bắc sang đông đông nam.
22


- Khí hậu: Việt Yên cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung
bình hàng năm là 23oC - 24oC, nóng nhất vào các tháng 6, 7, 8 và lạnh nhất vào các
tháng 1, 2.Lượng mưa trung bình là 1.500 mm.
* Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 1.150 ha, chiếm 59%
tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp là 715 ha, chiếm 4,2%... Nhìn chung đất đai khá
đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm và công nghiệp.
Nguồn nước: Huyện có nguồn nước tự nhiên khá dồi dào từ sông Cầu, ngòi Sim,
hệ thống kênh dẫn thuỷ nông sông Cầu hàng năm cung cấp nước tưới cho phần lớn diện
tích đất nông nghiệp toàn huyện. Ngoài ra còn có gần 500 ao hồ mặt nước phục vụ sản
xuất và đời sống.
3.1.2. Điều kiện về kinh tế - Xã hội
* Nguồn nhân lực
Năm 2014, dân số toàn huyện là 17,3 vạn người. Số người trong độ tuổi lao động
70.000 người, chiếm 45% dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp, chiếm 95%.
Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội: là
đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 37, tỉnh lộ 298, nối vùng
đồng bằng tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và Bắc của tỉnh và các
tỉnh lân cận ; có các tuyến giao thông huyết mạch Xuyên Việt như quốc lộ 1A, đường sắt
Bắc Nam và giao thông đường thuỷ trên sông Cầu ; Nằm tương đối gần với thủ đô Hà
Nội (cách 42 km) và một số trung tâm kinh tế - văn hoá - du lịch như thành phố Bắc
Giang, thành phố Bắc Ninh,… . Với vị trí của mình Việt Yên có điều kiện để phát huy
tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa

– HĐH của đất nước, cùng với quá trình đô thị hóa đã lấy dần đất nông nghiệp sang dành
cho xây dựng các khu công nghiệp, các khu dân cư... làm cho diện tích đất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp .
Trong diện tích đất nông nghiệp thì diện tích đất trồng rau tăng, giảm không ổn
định qua các năm. Năm 2013 thì diện tích trồng rau 2.200 ha chiếm 24,43% trong tổng
diện tích đất nông nghiệp, đến năm 2014 thì tăng lên ở mức 2.230 ha nhưng đến năm
2015 thì diện tích trồng rau 2.240ha chiếm 25,18% trong tổng số.

24


Bảng 3.1:Phân bố sử dụng đất nông nghiệp theo các xã của huyện Việt Yên
Tổng

17014,8
TỔNG SỐ
Phân theo đơn vị cấp xã
Việt Tiến
1140,6
876,6
Tự Lạn

Trong đó
Đất sản xuất
nông nghiệp

Tỷ lệ

9002,7


31%

Bích Sơn

670,9

345,6

52%

Trung Sơn

1230,9

706,1

57%

Ninh Sơn

810,4

575,3

71%

Tiên Sơn

1434,1


590,4

343,5

58%

Nghĩa Trung

1479,1

715,5

48%

Minh Đức

1834,9

950,9

52%

Thượng Lan

988,0

558,1

56%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status