Vận dụng phương pháp dạy học phức hợp để thiết kế bài lên lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy học những nội dung mới trong chương trình hóa học 12 - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Thanh Nhàn

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHỨC HỢP
ĐỂ THIẾT KẾ BÀI LÊN LỚP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC NHỮNG NỘI DUNG MỚI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 12

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


Lời cảm ơn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cám ơn đến
cô Lê Phi Thúy và thầy Lê Trọng Tín, những người đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô đã dìu dắt, hướng dẫn
tác giả trong suốt quá trình học cao học; đặc biệt là thầy trưởng khoa Trịnh
Văn Biều và quý thầy cô thuộc phòng Khoa học Công nghệ Sau đại học.
Xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã nhiệt

Đối chứng

ĐP

:

Đa Phước

GV

:

Giáo viên

HS

:

Học sinh

LTT

:

Lê Thánh Tôn

PP

:


SBT

:

Sách bài tập

5’

:

5 phút


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới từ
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo
dục… Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết GV còn gặp nhiều khó khăn trong việc giảng
dạy chương trình mới vì nhiều lý do khác nhau. Những lý do thường gặp là:
-

SGK chương trình mới có nhiều nội dung mới, có khi khác hoàn toàn với SGK
cũ. GV chưa có trải nghiệm nên còn thiếu tự tin khi truyền thụ kiến thức và
phương pháp dạy học hợp lý.

-

Để đáp ứng yêu cầu chương trình, GV cần đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH). Mỗi PPDH có những ưu điểm và hạn chế riêng. Điều quan trọng là GV
phải biết phối hợp hợp lý các PPDH để phát huy hiệu quả, khắc phục mặt hạn

chất lượng dạy học những nội dung mới chương trình hóa học 12 ban cơ bản.
4. Mục đích nghiên cứu
Sử dụng phương pháp dạy học phức hợp để thiết kế và thực hiện giáo án những
nội dung mới chương trình hóa học 12 ban cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
dạy học hóa học ở trường THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-

Nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy học phức hợp.

-

Điều tra thực tiễn quá trình dạy học hoá học chương trình 12 ban cơ bản tại
Tp.HCM

-

Nghiên cứu những điểm mới trong chương trình hóa học 12 ban cơ bản.

-

Thiết kế giáo án giảng dạy những nội dung mới sử dụng PPDH phức hợp.

-

Tiến hành thực nghiệm để xác định hiệu quả của đề tài.

6. Phương pháp nghiên cứu
-


ban cơ bản cho đối tượng học sinh có đầu vào tương đối thấp tại Tp HCM.

9. Cái mới của đề tài
-

Thiết kế một hệ thống các giáo án tiêu biểu có vận dụng phương pháp dạy học
phức hợp cho những nội dung mới trong chương trình hóa học 12 ban cơ bản,
phục vụ đắc lực cho giáo viên trong việc dạy học.

-

Tác giả đã thiết kế được 19 giáo án trong đó có 18 giáo án điện tử. Mỗi giáo án
đều có vận dụng các phương pháp dạy học phức hợp, nguyên tắc thiết kế đã đề
ra và sử dụng tối đa khả năng mà phần mềm MS.Powerpoint cho phép để thể
hiện khoa học, sinh động, thẩm mỹ… nội dung bài học.

-

Đề ra nguyên tắc thiết kế cho từng kiểu bài lên lớp nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học các kiểu bài lên lớp.

-

Chia sẻ cách thiết kế các giáo án điện tử có sử dụng các trò chơi học tập, kết hợp
trò chơi học tập với các hoạt động khác nhằm tăng hứng thú học tập bộ môn.

-

Những bài học kinh nghiệm về việc vận dụng phương pháp dạy học phức hợp,
cách tổ chức học nhóm cho lớp học có đông HS và đa số HS thiếu ý thức chia sẻ

trong chương trình hóa học 12 thì còn quá ít và nghiên cứu dành cho đối
lượng HS ở các trường THPT có đầu vào thấp thì càng hiếm hoi.


1.2. Thực trạng việc dạy và học hóa học 12 ban cơ bản năm học 2008 – 2009
1.2.1. Mục đích điều tra
-

Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học hóa học tại trường phổ thông trong năm
đầu tiên giảng dạy theo chương trình chuẩn và nâng cao.

-

Tìm hiểu việc sử dụng phương pháp dạy học của các GV đang dạy lớp 12 ban
cơ bản tại các trường THPT tại Tp. HCM.

-

Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của GV và HS trong năm đầu tiên học
hóa học 12 ban cơ bản.

1.2.2. Đối tượng điều tra
-

GV đang giảng dạy lớp 12 ban cơ bản tại TP HCM: 79 phiếu; trong đó có 68
đại diện của các trường và 11 GV tại 4 trường thực nghiệm.

-

547 HS học chương trình hóa học 12 ban cơ bản tại các trường thực nghiệm bao


Trong quá trình tiến hành thực nghiệm đề tài, tác giả gửi phiếu điều tra cho các
GV giảng dạy và HS ở tất cả các lớp thực nghiệm và đối chứng.


1.2.5. Kết quả điều tra
1.2.5.1. Kết quả điều tra GV
Câu 1: Khi thiết kế bài giảng hóa học, nhiệm vụ nào Thầy (Cô) cho là cần thiết?

Bảng 1.1. Bảng tổng kết các ý kiến của GV về các nhiệm vụ quan trọng
khi thiết kế bài giảng hóa học.
% GV đồng ý
Xác định mục tiêu bài học
Lựa chọn nội dung dạy học
Lựa chọn phương pháp dạy học
Lựa chọn phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học...
Xác định hình thức tổ chức hoạt động dạy học
Xác định thông tin phản hồi
Lập trình tự các bước lên lớp
Thiết kế phiếu học tập
Những công việc khác

%
84,8
81,0
86,1
44,3
70,9
60,8
26,6


-

Xác định mục tiêu bài học (84,8%), lựa chọn nội dung dạy học (81%) , lựa chọn
phương pháp dạy học (86,1%), xác định hình thức tổ chức dạy học (70,9%), xác
định thông tin phản hồi (60,8%) là những công việc cần thiết nhất.

Câu 2: Khi lựa chọn phương pháp dạy học, Thầy (Cô) thường chọn phương
pháp nào?
Kết quả thu được cho thấy khi lựa chọn phương pháp dạy học, đa số GV đồng ý:
-

Không có phương pháp dạy học nào tối ưu cho tất cả các kiểu bài lên lớp.

-

Phương pháp đàm thoại được GV sử dụng nhiều nhất và được sử dụng trong tất
cả các kiểu bài lên lớp, kế đến là dạy học cộng tác nhóm nhỏ


-

Thí nghiệm hóa học được sử dụng nhiều trong giờ thực hành và bài về chất. Tuy
nhiên, tỉ lệ 61,2% GV sử dụng thí nghiệm trong bài thực hành cho thấy việc tổ
chức cho HS học giờ thực hành chưa được quan tâm ở nhiều trường. Rất ít GV
làm thí nghiệm trong giờ luyện tập, ôn tập, khi dạy lý thuyết, định luật, sản xuất
hóa học.

-


Algorit dạy học

các
định luật,
lý thuyết
chủ đạo
75,9
35,4
7,6
16,5
8,9
35,4
10,1
5,1
8,9

chất
hóa
học
7,6
45,6
65,8
40,5
19,0
35,4
30,4
5,1
5,1

sản

24,1
40,5
26,6
26,6

8,9
40,5
6,3
10,1
49,4
24,1
35,4
27,8
20,3

7,6
19,0
61,2
20,3
7,6
10,1
39,2
0,0
6,3


Câu 3: Theo Thầy (Cô), việc phối hợp hợp lý các phương pháp dạy học là
Kết quả thu được cho thấy hầu hết GV đề cao việc lựa chọn phương pháp dạy
học thích hợp và phối hợp hợp lý các phương pháp dạy học là rất quan trọng.
Trong một giờ lên lớp, có 76/79 GV (96,2 %) không chọn duy nhất một phương

sử dụng

Không
sử dụng

Thí nghiệm biểu diễn của GV
Thí nghiệm ảo, mô phỏng…
Dùng hình ảnh và lời nói để mô tả thí nghiệm
Thí nghiệm HS làm khi nghiên cứu bài mới
Thí nghiệm thực hành
Thí nghiệm ngoại khóa
Thí nghiệm ở nhà

15,2
7,6
20,3
7,6
10,1
1,3
1,3

49,4
25,3
36,7
32,9
58,2
5,1
1,3

24,1


Hầu hết các trường không sử dụng thí nghiệm trong giờ ngoại khóa hóa học.

Câu 5: Khi thực hiện những nội dung mới trong chương trình hóa học 12 ban
cơ bản, Thầy (Cô) gặp khó khăn gì?
Kết quả thu được cho thấy:
-

Có 63 GV (79,7%) được điều tra đồng ý chương trình hóa học 12 có nhiều nội
dung mới và khó.

-

Có 52/79 GV (65,8%) chưa hài lòng với bài tập hóa học trong SGK và SBT.

-

Có 55/79 GV (69,6%) các trường thiếu tư liệu tham khảo, thiếu thời gian chuẩn
bị bài, phòng thí nghiệm thiếu hóa chất và dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy.

Bảng 1.5. Bảng tổng kết các ý kiến của GV về những khó khăn khi thực hiện những
nội dung mới trong chương trình hóa học 12 ban cơ bản (%GV đồng ý)
Những khó khăn thường gặp khi dạy nội dung mới
Thiếu tư liệu tham khảo
Thiếu hóa chất và dụng cụ thực hành thí nghiệm
Thiếu kinh nghiệm giảng dạy những nội dung mới
Không có nhiều thời gian chuẩn bị bài
Bài tập hóa học đa dạng nhưng chưa hợp logic
Nhiều nội dung khó không phù hợp với HS


Rất muốn GV sử dụng thí nghiệm hóa học. Thí nghiệm biểu diễn của GV
được nhiều HS tại các trường thực nghiệm ưa chuộng (480/547 HS chiếm
87,75%). Nhiều HS cũng rất muốn được tự mình làm thí nghiệm khi nghiên
cứu bài mới (441/547 HS chiếm 80,7%).

-

Hứng thú khi GV dạy học nêu vấn đề và hướng dẫn HS giải quyết vấn đề
(76,8%).

-

Hài lòng với phương pháp học nhóm, thảo luận và chia sẻ kiến thức với các
bạn nhưng còn e ngại khi nhận nhiệm vụ nghiên cứu và làm bài báo cáo.
Bảng 1.6. Bảng tổng kết các ý kiến của HS
về hứng thú học tập trong giờ học về chất hóa học (%HS đồng ý)
Thích
Khá
Bình
Hình thức tổ chức
nhất

thích

thường

Ít
thích

27,2 30,0 38,2

thích

2,0
8,6
2,6
1,3
2,6
10,4
2,7
2,7
19,0

Kết quả thu được cho thấy, có 86,2% HS rất muốn được GV hướng dẫn từng
bước giải bài tập và có ví dụ minh họa (sử dụng algorit dạy học). 58,7% HS


thích GV sử dụng sơ đồ, biểu bảng để tổng kết kiến thức cơ bản cần nắm vững
hơn những hình thức khác. Có 72,8% HS rất hứng thú khi tham gia trò chơi học
tập trong giờ luyện tập, ôn tập.
Bảng 1.7. Bảng tổng kết các ý kiến của HS
về hứng thú học tập trong giờ luyện tập, ôn tập (%HS đồng ý)
Hình thức tổ chức

Thích
nhất

Khá
thích

Bình


35,3

4,4

1,0

26,1

33,6

32,0

4,8

3,5

17,2

32,2

38,2

9,0

3,5

11,9
46,8



Bình
thường

Ít
thích

Không
thích

GV hướng dẫn từng thí nghiệm, các nhóm làm,
GV tổng kết rút kinh nghiệm.
GV hướng dẫn tất cả các thí nghiệm, các nhóm
làm thí nghiệm, GV tổng kết, rút kinh nghiệm tiết
thực hành.

38,4

41,1

19,6

0,4

0,5

20,1

35,5


Thí nghiệm ảo (mô phỏng thí
12,8
22,1
nghiệm…)
Tranh ảnh, hình vẽ có liên
12,6
30,7
quan
Sơ đồ sản xuất hóa học
22,1
30,0
Bảng tổng kết kiến thức dùng
47,3
26,7
luyện tập, ôn tập

Bình
thường
4,9

Ít cần Không
thiết
cần thiết
1,0
0,0

23,0
43,5

9,9

kiến thức sau các hoạt động học tập (%HS đồng ý)
Mức độ tiếp thu kiến thức của HS (% HS đồng ý)
Tự đọc sách nghiên
cứu bài mới
Sau khi học xong bài
mới
Sau khi hoàn thành
các bài tập trong
SGK
Sau khi hoàn thành
các bài tập trong SBT
Sau tiết luyện tập, ôn
tập.
Sau tiết thực hành.
Sau tiết kiểm tra.

10
12,8

20
10,4

30
22,9

40
16,1

50
19,6

21,9

11,7

3,7

1,6

1,3

2,4

5,7

11,2

10,6

20,1

20,5

18,5

8,2

1,5

1,5


23,4

21,2

12,8

1,8
1,8

0,5
2,4

3,3
4,0

2,2
5,9

12,8
10,8

10,4
13,0

18,1
15,7

17,6
14,1


19,9

bình
thường
bình
thường
bình
thường

24,9

khá ít

3,8

quá ít

1,0

34,4

khá dễ

4,6

quá dễ

0,7

17,9


quá ít

1,0

rất khó

10,6

khá khó

62,5

bình thường

23,8

khá dễ

2,2

quá dễ

1,0

đầy đủ

23,9

khá đầy đủ

pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp nghiên cứu, thí nghiệm
hóa học, bài tập hóa học.
1.3.1. Phương pháp thuyết trình
GV dùng lời trực tiếp điều khiển luồng thông tin đến HS. HS nghe, cùng tư duy
theo lời giảng của GV, ghi chép và ghi nhớ. Trong các PPDH, thuyết trình được
xem là phương pháp dạy học ít tích cực nhất. Để phát huy hiệu quả của thuyết
trình nên chọn kiểu thuyết trình nêu vấn đề ơrixtic.
1.3.2. Phương pháp đàm thoại (vấn đáp)
GV đặt ra hệ thống câu hỏi để HS trả lời. GV và HS có thể trao đổi qua lại.
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS lĩnh hội được kiến thức. Căn cứ vào tính chất của
hoạt động nhận thức, có ba kiểu vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích –
minh họa, vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic).
1.3.3. Phương pháp nghiên cứu
GV nêu lên đề tài nghiên cứu, giải thích rõ mục đích cần đạt được, giới thiệu tài
liệu tham khảo, tổ chức cho HS tự lực nghiên cứu vấn đề. Trong quá trình HS
nghiên cứu, GV theo dõi giúp đỡ các em khi cần thiết.
1.3.4. Phương pháp trực quan
1.3.4.1. Thí nghiệm hóa học
Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hoá học
-

Thí nghiệm giúp HS dễ hiểu bài và hiểu bài sâu sắc.


-

Thí nghiệm giúp nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học và phát triển tư
duy của HS.

-


Căn cứ vào nội dung bài học, trình độ HS, GV lựa chọn phương pháp thích
hợp, định số slide, nội dung thiết kế từng slide (không nên có nhiều slide).

-

Sử dụng hiệu ứng hoạt hình có sẵn trong PowerPoint (không nên sử dụng
những hiệu ứng làm rối mắt, phân tán sự tập trung vào nội dung chính) hay
hyperlink với các phần mềm khác, movie…


1.3.5. Phương pháp sử dụng bài tập hóa học
1.3.5.1. Khái niệm
Bài tập hóa học cung cấp cho HS cả kiến thức, cả con đường để giành lấy kiến
thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức.
1.3.5.2. Sử dụng bài tập hóa học ở trường phổ thông
-

Dùng bài tập hóa học tổ chức hoạt động học tập hình thành khái niệm, kiến thức
mới.

-

Bài tập thực nghiệm giúp HS rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng
thực hành, phương pháp làm việc khoa học.

-

Bài tập thực tiễn giúp HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề
thực tiễn có liên quan đến bài học.


Thảo luận, tranh luận, phát biểu ý kiến bình đẳng, không khí học tập sôi nổi.

-

Hình thành và phát triển khả năng hợp tác làm việc và năng lực xã hội, đào tạo
con người trong xã hội mới, biết sống và làm việc theo sự phân công, biết chia
sẻ, hợp tác với tập thể cộng đồng.

b. Nhược điểm
-

Hiện tượng ăn theo, một số thành viên ỷ lại không làm việc.

-

Hiện tượng chi phối tách nhóm khi lệch hướng thảo luận.

-

Thiếu sự bình đẳng do một số thành viên khá giỏi quyết định quá trình.

-

Thiếu công bằng nếu lấy kết quả chung của nhóm làm kết quả học tập của các
thành viên trong nhóm.

-

Dễ nhàm chán nếu GV áp dụng cứng nhắc và quá thường xuyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status