Tiểu luận phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh cao su tiểu điền ở tỉnh quảng bình 17 220 - Pdf 37

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây cao su đƣợc nhân trồng ở Việt Nam kể từ năm 1900, đến năm 1920 diện
tích mới đạt trên 10.000 ha nhƣng đến năm 1945 đã có sự phát triển, diện tích đạt
138.000 ha và sản lƣợng đạt 77.400 tấn. Tuy nhiên, giai đoạn 1945 - 1975 cao su
ngừng phát triển và bị thu hẹp lại do ảnh hƣởng của chiến tranh. Sau năm 1975
chiến tranh chấm dứt, cây cao su đƣợc khôi phục và phát triển trở lại. Đến nay, cao
su Việt nam đã có sự phát triển vƣợt bậc, năm 2013 đã trở thành quốc gia sản xuất
cao su thiên nhiên lớn thứ 3 trên thế giới với tổng sản lƣợng đạt 1,043 triệu tấn, tăng
20,8% so với năm 2012. Theo nhận định của Hiệp hội các nƣớc sản xuất cao su
thiên nhiên (Association of Natural Rubber Producing Countries – ANRPC) thì đến
năm 2020 diện tích cao su của Việt Nam sẽ vƣợt mốc 1 triệu ha. Diện tích này đã
vƣợt xa con số quy hoạch đƣợc Chính phủ phê duyệt là 800.000 ha năm 2015 và đạt
1.000.000 ha năm 2020 [10].
Tỉnh Quảng Bình là địa phƣơng có tiềm năng lớn trong việc phát triển cây
công nghiệp (CCN) lâu năm. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 78,22% trong tổng
diện tích đất, đặc biệt có diện tích đất xám feralit chiếm 59,23% là loại đất thuận lợi
cho trồng cây cao su. Mặt khác, cây cao su đƣợc xác định là cây trồng chủ lực và
địa phƣơng đã có nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi để phát triển nên đang chiếm
ƣu thế so với các loại cây công nghiệp khác, năm 2014 diện tích đạt 17.980,9 ha
chiếm 78,07% diện tích cây công nghiệp lâu năm toàn tỉnh, tăng 32,2% so với năm
2013 và tăng gấp 3 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trƣởng bình quân diện tích giai
đoạn 2000 - 2007 là 8,08% và giai đoạn 2007 - 2014 là 11,46%. Với điều kiện
thuận lợi trên cao su Quảng Bình đang phát triển mạnh với hai loại hình là cao su
đại điền và cao su tiểu điền (CSTĐ). Trong đó, cao su tiểu điền triển khai muộn
hơn, bắt đầu từ năm 1993 nhƣng đến nay đã có sự phát triển mạnh, diện tích năm
2008 là 6.515 ha chiếm 57% diện tích cao su, đến năm 2014 là 10.876,8 ha chiếm
60,5% diện tích cao su, tăng 1,67 lần so với năm 2008. Có sự phát triển về diện tích
nhƣng năng suất chỉ đạt từ 0,75 – 0,98 tấn mủ khô/ha thấp hơn nhiều so với các địa

1

cây cao su; các tác giả Jagath Edirisinghe [83], Parinya Cherdchom [98], Ririn
Purnamasari, Oscar Cacho và Phil Simmons [102], Sarba Priya Ray [104] ngoài sử

2


dụng phƣơng pháp điều tra mẫu, còn sử dụng các mô hình hàm sản xuất Cobb Douglas, phân tích độ nhạy để đánh giá hiệu quả và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng
đến sản xuất cao su tiểu điền; các tác giả Phùng Thị Hồng Hà [25], Bùi Dũng Thể
[53] đã sử dụng các chỉ tiêu kinh tế nhƣ NPV, IRR, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng
để đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh; các tác giả Claire SchaffnitChatterjee [78], Ulrich Hess [110], Ririn Purnamasari, Oscar Cacho và Phil
Simmons [102] đánh giá các rủi trong sản xuất nông nghiệp (SXNN) đến từ các
nguyên nhân nhƣ thời tiết, sâu bệnh, biến động giá cả, sản lƣợng theo mùa,... Về
biện pháp giảm thiểu rủi ro, các tác giả đều có quan điểm thực hiện các giải pháp đa
dạng hoá cây trồng, phân cấp rủi ro, bảo hiểm nông sản, hay bảo hiểm giá. Nhƣ vậy,
về lý luận đã có nhiều công trình bàn về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả
kinh tế trong sản xuất cao su. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập
chung về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp; chƣa có công trình nào đề cập, xây
dựng khung lý luận về phân tích rủi ro, đánh giá hiệu quả kinh tế trong bối cảnh rủi
ro trong sản xuất cao su và cao su tiểu điền tại một địa phƣơng hay quốc gia.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nghiên cứu trên, đòi hỏi phải có một công
trình nghiên cứu về phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất cao
su góp phần vận dụng và bổ sung vào lý luận kinh tế nông nghiệp; đồng thời kết
quả nghiên cứu cho một trƣờng hợp điển hình ở Việt Nam sẽ làm phong phú thêm
về phát triển triển nông nghiệp trong điều kiện các nƣớc đang phát triển và là nguồn
tham khảo quan trọng, hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển
nông nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su. Vì vậy, đề tài
“Phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh cao su
tiểu điền ở tỉnh Quảng Bình” đƣợc chọn làm đề tài luận án Tiến sỹ.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.2.2 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp: Thu thập trong giai đoạn 2000 – 2014.
- Số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin về rủi ro và HQKT của các hộ CSTĐ đƣợc
thu thập trong năm 2014;
- Các giải pháp đƣợc nghiên cứu và đề xuất cho giai đoạn 2015 – 2020.
3.2.3 Phạm vi nội dung
- Phân tích rủi ro và đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ;
- Đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro, không nghiên cứu mối quan hệ giữa
HQKT và rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ.

4


- Một số giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao HQKT sản xuất
kinh doanh CSTĐ.

4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Luận án đã góp phần vận dụng và bổ sung vào lý luận
kinh tế nông nghiệp; đồng thời trình bày kết quả nghiên cứu cho một trƣờng hợp
điển hình ở Việt Nam, những kết quả cụ thể này đƣợc tổng kết lại là sự bổ sung và
làm phong phú thêm về phát triển nông nghiệp trong điều kiện các nƣớc đang phát
triển.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tham khảo quan
trọng và hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và
các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su ở tỉnh Quảng Bình.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Vận dụng và bổ sung vào lý luận kinh tế nông nghiệp về các khái niệm,
phƣơng pháp và nội dung phân tích rủi ro, đánh giá HQKT trong sản xuất kinh
doanh cao su. Đây là nguồn tham khảo hữu ích và quan trọng cho các nhà nghiên
cứu phát triển nông nghiệp trong nƣớc và quốc tế.

Rủi ro về thời tiết, về các yếu tố đầu vào, hay là rủi ro về giá.
Khi đánh giá về rủi ro trong SXNN, các tác giả Claire Schaffnit-Chatterjee
[78] đánh giá sự bất ổn trong SXNN diễn biến theo chiều hƣớng càng ngày càng
phức tạp, những bất ổn đó có thể đến từ những nguyên nhân nhƣ: Thời tiết, biến
động giá cả, sản lƣợng theo mùa, tƣơng quan cung - cầu, biến động giá năng
lƣợng… Chris Bastian [80] nhấn mạnh tất cả rủi ro trong nông nghiệp đều ảnh
hƣởng đến doanh thu của ngƣời sản xuất và việc kiểm soát các rủi ro nhƣ thời tiết,
sâu bệnh, dịch bệnh của ngƣời sản xuất còn hạn chế. World Bank [96] đã tổng hợp
ý kiến khác nhau của các chuyên gia về giải pháp giảm thiểu rủi ro gồm: Các chính
sách của Chính phủ, bảo hiểm rủi ro, bảo hiểm mùa vụ và đa dạng hoá cây trồng.
Không chỉ khái quát các khía cạnh về rủi ro trong SXNN nhƣ trên, Claire SchaffnitChatterjee [78] còn nhấn mạnh việc quản trị rủi ro trong nông nghiệp là hết sức
quan trọng, mặc dù việc giảm rủi ro không phải luôn luôn cải thiện phúc lợi xã hội
nhƣng thất bại trong việc quản trị rủi ro lại làm ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập
của ngƣời nông dân, bình ổn thị trƣờng và khả năng đảm bảo an ninh lƣơng thực.

6


Qua đó, đề cập các rủi ro trong SXNN gồm: Rủi ro sản xuất, rủi ro pháp lý, rủi ro
tài chính, rủi ro nguồn nhân lực và rủi ro về giá. Trong đó rủi ro mà ngƣời nông dân
có thể gặp phải là sự thay đổi khí hậu dẫn đến tần suất xảy ra những sự kiện thời tiết
khắc nghiệt tăng, kết hợp thêm vào đó là tình trạng khan hiếm nƣớc, đất canh tác và
năng lƣợng. Về biện pháp quản trị rủi ro, tác giả có cùng quan điểm với các tác giả
trƣớc nhƣ việc đa dạng hoá các hoạt động trên cùng diện tích đất để làm giảm nguy
cơ, phân bổ hợp lý đất đai, các yếu tố đầu vào, bảo hiểm rủi ro về giá và các bảo
hiểm nông nghiệp khác.
Ulrich Hess và các cộng sự [110] nhấn mạnh việc SXNN phụ thuộc rất nhiều
vào thời tiết, các nƣớc đang phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết
mà còn phải chịu đựng gánh nặng của các thảm họa tự nhiên (do điều kiện môi
trƣờng độc hại) qua đó đề cập công cụ quản trị rủi ro thời tiết áp dụng cho các nƣớc

các giải pháp bảo hiểm rủi ro về giá để đảm bảo nguồn thu nhập cho nông dân.
Từ tình hình nghiên cứu rủi ro trong SXNN và sản xuất cao su cho thấy, ngƣời
sản xuất thƣờng phải đối mặt với nhiều rủi ro do các yếu tố tự nhiên nhƣ thời tiết,
khí hậu; rủi ro do sâu bệnh, kỹ thuật canh tác; rủi ro do sự biến động của giá cả và
rủi ro do sự thay đổi chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Và để giảm thiểu các rủi
ro này cần thực hiện các giải pháp nhƣ đa dạng hoá cây trồng, phân cấp rủi ro, bảo
hiểm nông sản, hay bảo hiểm giá.
1.2 Đánh giá HQKT trong SXNN và cao su
Trong SXNN và cao su, HQKT là vấn đề quan tâm hàng đầu của Nhà nƣớc,
chính quyền địa phƣơng, đặc biệt là ngƣời sản xuất nên đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này. Wickremasinghe và các cộng sự [117] đã tổng hợp các
nghiên cứu về sản xuất CSTĐ với những mục tiêu khác nhau đƣợc thực hiện ở Sri
Lanka. Qua đó kết luận, những nghiên cứu trƣớc đây đƣợc sử dụng chủ yếu theo
phƣơng pháp điều tra mẫu; đƣợc kể đến đầu tiên là công trình của Dissanayako
(1963, 1968 và 1978), họ đã cung cấp thông tin sơ bộ về các khía cạnh cụ thể nhƣ
tuổi thọ kinh tế của cây và xu hƣớng trong phƣơng pháp mở rộng cao su; tiếp đến
Jayasuriya và Carrad (1977) đã phân tích kinh tế toàn diện việc trồng lại các cây cao
su dựa trên điều tra mẫu của 165 hộ sản xuất CSTĐ ở các huyện Colombo, Kalutara
và Ratnapura. Tuy nhiên, do sự bất cập của kích thƣớc mẫu đối với những ngƣời
thực sự liên quan đến trồng lại cao su nên kết quả của nghiên cứu này vẫn chƣa
thuyết phục đƣợc. Barlow và các cộng sự [74] đã thực hiện một nghiên cứu kinh tế
toàn diện của CSTĐ dựa trên một khu vực đƣợc lựa chọn khác bằng cách sử dụng

8


một mẫu gồm 289 hộ CSTĐ. Mặc dù kích thƣớc mẫu của nghiên cứu này là khá đầy
đủ nhƣng nghiên cứu thiên vị cho CSTĐ, khi chỉ nhắc đến những khía cạnh tích cực
của việc sản xuất kinh doanh CSTĐ mà không đại diện đƣợc cho mức trung bình
của CSTĐ trong khu vực đó. Nghiên cứu của Somboonsuke [105] đã trình bày tình

rằng hạn chế sinh học và kinh tế là nghiêm trọng hơn cả so với những khó khăn về
thể chế và xã hội. Hệ thống canh tác ít đa dạng về loại cây cũng dễ bị tổn thƣơng
hơn so với những hệ thống canh tác nhiều loại nông sản kết hợp.
Kế tiếp các công trình trên, các công trình sau này ngoài việc điều tra mẫu,
còn sử dụng các mô hình kinh tế để đánh giá hiệu quả và phân tích các yếu tố ảnh
hƣởng đến sản xuất CSTĐ, nhƣ mô hình hàm sản xuất Cobb - Douglas, ma trận
phân tích chính sách (PAM – Policy Analysis Matrix), phân tích độ nhạy. Trong đó
công trình của Jagath Edirisinghe và các cộng sự [83] nghiên cứu ở Sri Lanka đã tập
trung phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sản xuất kém hiệu quả. Các tác giả
đã tìm ra nguyên nhân chính làm giảm HQKT sản xuất CSTĐ là sự biến động của
giá cả, đây chính là nguyên nhân ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập của ngƣời trồng
cao su. Nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng không có hiệu quả các yếu tố đầu vào
và kết luận không cần tăng các yếu tố đầu vào mà chỉ cần nâng cao hiệu quả sử
dụng là có thể nâng cao lợi nhuận cho các hộ CSTĐ. Công trình của Sarba Priya
Ray [104] nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến tốc độ tăng trƣởng năng lực sản
xuất trong ngành cao su đã kết luận các chính sách cải cách của Chính phủ về việc
cấp phép tự do hoá thƣơng mại không giúp ngành công nghiệp và nông nghiệp mở
rộng năng lực, các ngành phần lớn sử dụng năng lực sản xuất của ngành mình và
chƣa sử dụng hết năng lực này.
Cũng bàn về vấn đề này Parinya Cherdchom và các cộng sự [98] ngoài việc hệ
thống hoá các trang trại cao su, sự hình thành và phát triển của các hình thức canh
tác, còn trình bày về tổ chức hoạt động sản xuất CSTĐ trong hệ thống các trang trại
ở Thái Lan và tầm quan trọng của cây cao su đối với nền kinh tế của đất nƣớc này.
Mặt khác, công trình sử dụng các mô hình phân tích tính kinh tế thông qua các chỉ
tiêu nhƣ giá trị thu nhập, đo lƣờng HQKT, năng lực tài chính và năng suất sản xuất
của mô hình; sử dụng các chỉ tiêu kinh tế khác nhƣ NPV, IRR đánh giá thẩm định
đầu tƣ. Thực hiện ở một địa phƣơng khác, nhóm tác giả Vongpaphane Manivong và
R.A. Cramb [115] nghiên cứu đánh giá hiệu quả sản xuất của mô hình CSTĐ ở Lào
bằng phƣơng pháp phỏng vấn và quan sát thực tế, kết hợp với dữ liệu không gian
nhằm dự đoán khả năng mở rộng cao su dựa vào tài nguyên thiên nhiên và khả năng

nhiều lao động từ địa phƣơng hơn do chu kỳ sống của cây cao su dài.

11


2. PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRONG SXNN VÀ CAO SU Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG BÌNH
2.1 Phân tích rủi ro trong SXNN và cao su ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghiên cứu về rủi ro đã có rất nhiều tác giả thực hiện nhƣng chủ
yếu đề cập đến những vấn đề chung về rủi ro và rủi ro dự án. Trong lĩnh vực SXNN
và cao su, rủi ro đƣợc xem nhƣ là đặc điểm nội tại nhƣng những nghiên cứu mang
tính điển hình về rủi ro trong lĩnh vực này lại không có nhiều hoặc ít đƣợc công bố.
Các thông tin về rủi ro này phần lớn đƣợc tìm thấy trong các báo cáo điều tra hoặc
báo cáo phát triển của các tổ chức. Tuy nhiên, về lý luận đã có một số tác giả bàn về
rủi ro trong SXNN và cao su, tiêu biểu là công trình của Bùi Thị Gia [21] nghiên
cứu về quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đã đề cập
tƣơng đối đầy đủ các lý thuyết về quản trị rủi ro trong nông nghiệp. Trong đó khẳng
định: “Rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp là những tổn thất, những bất trắc, khả
năng không đạt được kết quả mong muốn và rủi ro có thể đo lường được”. Tác giả
đã đề cập đến nhiều cách phân loại rủi ro của các tác giả qua đó đã phân loại rủi ro
trong SXNN thành: Rủi ro sản xuất, rủi ro giá, rủi ro marketing, rủi ro thể chế, rủi
ro liên quan đến con ngƣời gây ra hoặc rủi ro cá nhân, rủi ro tài chính. Bên cạnh đó,
khi nghiên cứu về các mô hình hoá và công cụ nhận dạng rủi ro, tác giả đã đề cập
đến các phƣơng pháp lƣu đồ, phƣơng pháp thanh tra hiện trƣờng, phƣơng pháp
nghiên cứu số liệu thống kê; nghiên cứu về đo lƣờng rủi ro, tác giả đã đề cập đến
phƣơng pháp sử dụng ma trận rủi ro qua các thang đo ảnh hƣởng và thang đo khả
năng xảy ra rủi ro để sắp xếp ƣu tiên các rủi ro, sử dụng phƣơng pháp chuyên gia để
đo lƣờng các rủi ro có thể xảy ra từ đó xác định những rủi ro cần đƣợc ƣu tiên kiểm
soát và tài trợ khi cần thiết. Trên cơ sở đó, tác giả xác định quy trình rủi ro từ việc
xác định rủi ro, phân tích rủi ro, đánh giá rủi ro, quản trị rủi ro và theo dõi, giám sát

[11] sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR để tính HQKT sản xuất cam cho các hộ nông
dân; Đoàn Công Qùy [38] sử dụng hệ thống chỉ tiêu nhƣ giá trị sản xuất, giá trị gia
tăng, giá trị sản xuất trên lao động, giá trị gia tăng trên lao động để đánh giá HQKT
sử dụng đất canh tác; Trần Đình Thao [51] sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb –
douglas phản ánh năng suất tối đa để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và tính toán chỉ số
hiệu quả kỹ thuật giao động từ 0,5 đến 0,9 mức bình quân là 0,82%; Nguyễn Khắc
Quỳnh (2010) sử dụng các phƣơng pháp thống kê mô tả, phân tích tài chính từng
phần (Partial Budget Analysis – PBA), phân tích chỉ số VCR gia tăng (Incremental
Value Cost Ratio – IVCR), phân tích điểm hòa vốn (Break – Even Analysis (BA))

13


để đánh giá HQKT sản xuất lúa lai thƣơng phẩm; Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc
Nghi [29] sử dụng các mô hình tỷ suất lợi nhuận để đánh giá tác động của từng
nhóm rủi ro, cấp độ rủi ro đến HQKT trong chăn nuôi heo thịt và Đỗ Văn Xê [67]
sử dụng phƣơng pháp phân tích kinh tế để đánh giá HQKT của mô hình SXNN.
Bàn về phát triển sản xuất cao su và đánh giá HQKT sản xuất cao su các tác
giả đã sử dụng nhiều phƣơng pháp đánh giá ở các khía cạnh khác nhau. Bùi Dũng
Thể [53] áp dụng phƣơng pháp liên ngành và phƣơng pháp tiếp cận ngành hàng
nông sản để nghiên cứu thực trạng phát triển CSTĐ, đề xuất mô hình trồng cao su
cho các hộ sản xuất và hệ thống giải pháp kinh tế kỹ thuật để phát triển cây cao su
đáp ứng yêu cầu phát triển nông thôn mới; Mai Văn Xuân (2011) sử dụng hệ số chi
phí nguồn lực trong nƣớc - DRC, mô hình kim cƣơng của M.Porter (Porter „s
Diamond), ma trận phân tích chính sách – PAM để đánh giá khả năng cạnh tranh
của sản phẩm cao su; Phùng Thị Hồng Hà [25] sử dụng phƣơng pháp hiện giá và
phƣơng pháp hạch toán để xác định kết quả và hiệu quả sản xuất cao su, các yếu tố
tác động đến sự phát triển cây cao su ở Thừa Thiên Huế; Nguyễn Minh Hiếu [28] đã
tiến hành đánh giá hiệu quả của việc phát triển CSTĐ ở thừa Thiên Huế và sử dụng
ứng dụng công nghệ GIS để quản lý cao su trang trại tại Thừa Thiên Huế; Phạm

trên, Nguyễn Minh Hiếu [28] đã sử dụng các phƣơng pháp thu thập số liệu thứ cấp
từ các cơ quan quản lý và số liệu cơ cấp từ các hộ trồng cao su; phƣơng pháp đo
đếm trực tiếp một số chỉ tiêu trên vƣờn cây nhƣ năng suất, hàm lƣợng mủ, qua đó
phân tích đánh giá khả năng sinh trƣởng của các loại giống, diễn biến năng suất mủ
tƣơi và mủ khô cá thể; đánh giá bệnh hại ở các giống nghiên cứu và đánh giá HQKT
ở các giống cao su nghiên cứu trên địa bàn Huyện Bố Trạch.

3. KẾT LUẬN
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT
trong SXNN và cao su cho thấy:
- Về lý luận và thực tiễn phân tích rủi ro: Đã có các nghiên cứu về rủi ro trong
SXNN theo 3 phƣơng diện gồm: Các yếu tố tác động của thiên nhiên nằm ngoài tầm
kiểm soát của con ngƣời (thiên tai, biến đổi khí hậu…), các yếu tố đầu vào (giống,
phân bón, đất, trình độ của nông dân…) và các yếu tố tác động của chính phủ các
nƣớc về chính sách cũng nhƣ về khung pháp lý. Một số nghiên cứu khác đề cập việc
kiểm soát rủi ro trong SXNN với các phƣơng pháp nhƣ bảo hiểm theo chỉ số, phân
cấp rủi ro và đƣa ra những công cụ quản trị rủi ro. Về thực tiễn, đã có các nghiên
cứu bàn về rủi ro trong SXNN, các nghiên cứu đề cao vai trò và trách nhiệm của

15


ngƣời nông dân, ngƣời nông dân phải biết tối ƣu hoá các công cụ của thị trƣờng để
đối phó với rủi ro; đã đề cập đến khung pháp lý của chính phủ các nƣớc để quản lý
các rủi ro có thể gặp phải về mặt pháp luật; nghiên cứu mặt hạn chế của nguồn ngân
sách các chính phủ khi đầu tƣ vào SXNN và hạn chế trong việc đàm phán cũng gây
ảnh hƣởng không nhỏ đến việc trợ giúp của chính phủ; nghiên cứu các giải pháp
kiểm soát rủi ro nhƣ đa dạng hoá sản phẩm (phân cấp rủi ro), bảo hiểm mùa vụ, bảo
hiểm theo chỉ số và đƣa ra các công cụ quản lý rủi ro ở các nƣớc phát triển và các
nƣớc đang phát triển.

đƣờng giới hạn (Data Envelopment Analysis - DEA).
Qua kết quả phân tích trên cho thấy trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều
công trình nghiên cứu về rủi ro và HQKT trong SXNN nói chung và cao su nói
riêng nhƣng ở tỉnh Quảng Bình chƣa có một nghiên cứu nào về phân tích rủi ro và
đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ. Mặt khác, các công trình nghiên cứu
chỉ đề cập chung về rủi ro và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và cao su;
chƣa có công trình nào đề cập, xây dựng khung lý luận về phân tích rủi ro, đánh giá
hiệu quả kinh tế trong bối cảnh rủi ro trong sản xuất cao su và CSTĐ tại một địa
phƣơng hay quốc gia. Vì vậy, để thực hiện để thực hiện nội dung nghiên cứu, luận
án dựa trên các lý luận chung về rủi ro và HQKT để kế thừa các quan điểm, khái
niệm, phƣơng pháp nghiên cứu chung về rủi ro và HQKT từ đó phát triển cụ thể các
lý luận về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro. Đồng thời, dựa
trên thực tiễn các công trình đã nghiên cứu, luận án đã kế thừa cách sử dụng các
phƣơng pháp phân tích, đối tƣợng phân tích rủi ro và đánh giá HQKT để từ đó hình
thành khung nghiên cứu và xây dựng các phƣơng pháp cụ thể để nghiên cứu phân
tích rủi ro và đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ
ở tỉnh Quảng Bình.

17


PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT KINH DOANH CSTĐ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CSTĐ
1.1.1 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa kinh tế của cây cao su
1.1.1.1. Đặc điểm của cây cao su
- Nguồn gốc cây cao su: Cây cao su có tên khoa học là “Hévéa Brasillensis”
thuộc họ Euphorbriaceae (họ thầu dầu) và đƣợc tìm thấy trong tình trạng hoang dại

từ đó nắm bắt các đặc tính sinh học của chúng trong từng giai đoạn để thuận tiện
cho quản lý sản xuất, thông thƣờng chia thành các giai đoạn nhƣ sau [30], [64]:
+ Giai đoạn cây non trong vƣờn ƣơm: Bắt đầu từ khi gieo hạt đến lúc xuất
khỏi vƣờn ƣơm, có thể kéo dài 6 tháng đến 24 tháng (stump lở, stump bầu,…).
+ Giai đoạn KTCB: Khoảng thời gian khoảng 6 đến 8 năm đầu tiên tính từ khi
trồng, là thời gian cần thiết để vòng thân cây cao su đạt 50cm đo cách mặt đất 1m.
+ Giai đoạn khai thác mủ (hay giai đoạn KD): Đây là giai đoạn dài nhất bắt
đầu từ khi cây có thể khai thác mủ đến lúc cây bị thanh lý. Căn cứ vào sự biến thiên
về năng suất hàng năm ngƣời ta chia thành 3 thời kỳ:
Thời kỳ khai thác cao su non: Cây vẫn tiếp tục sinh trƣởng mạnh, số lƣợng
cành, nhánh, chu vi thân (vanh), độ dày vỏ, sản lƣợng mủ tăng nhanh theo các năm.
Tốc độ tăng sản lƣợng hàng năm phụ thuộc nhiều vào giống, chế độ khai thác và
chăm sóc. Thời kỳ này kéo dài chừng 10 – 12 năm.
Thời kỳ khai thác cao su trung niên: Năng suất không tăng thêm và giữ vững ở
mức năng suất đó theo năm. Tuy nhiên, tùy theo chế độ chăm sóc, khai thác trƣớc
đó, hiện tại và giống mà thời kỳ này kéo dài hay ngắn. Nếu vƣờn cây không đƣợc
chăm bón tốt trong giai đoạn KTCB và khai thác cao su non thì khi cây bƣớc vào
thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong một khoảng thời gian ngắn và sau đó
giảm năng suất.
Thời kỳ khai thác cao su già: Là thời kỳ vƣờn cây có hiện tƣợng giảm năng
suất trong nhiều năm liền nhƣng mức giảm và tốc độ giảm năng suất nhanh hay
chậm tùy thuộc vào giống, chế độ chăm sóc và khai thác các thời kỳ trƣớc đó .

19


1.1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất cao su
Cây cao su là loại CCN có chu kỳ kinh doanh kéo dài nên có nhiều yếu tố ảnh
hƣởng đến năng suất và sản lƣợng nhƣ sau [30], [64]:
- Các nhân tố tự nhiên: Là những nhân tố ảnh hƣởng lớn đến năng suất sản

Nam, mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nƣớc. Mặt khác, cây cao su đem lại thu
nhập cao và ổn định cho ngƣời sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và khi hết niên
hạn phải thanh lý thì gỗ cao su là một nguồn kinh tế đáng kể [1].
- Về xã hội: Sản xuất kinh doanh cao su đòi hỏi một lực lƣợng lao động khá
lớn và tƣơng đối ổn định lâu dài trong 20 đến 30 năm. Hiện nay, phát triển sản xuất
kinh doanh cao su đã giải quyết việc làm cho trên 110.000 lao động khối quốc
doanh và trên 77.000 hộ CSTĐ. Nhiều địa phƣơng đã sử dụng cây cao su nhƣ một
giải pháp xóa đói, giảm nghèo. Mặt khác do nhu cầu đi lại để sản xuất và vận
chuyển mủ nên đƣờng sá vùng trồng cao su đƣợc phát triển tốt hơn nhờ đó hệ thống
giao thông vùng nông thôn đƣợc nâng cấp [1].
- Về môi trường: Cây cao su khi trồng với diện tích lớn còn có tác dụng phủ
xanh đất trống, đồi trọc, chống xói mòn, bảo vệ môi trƣờng rất tốt nhờ vào tán lá
cao su rậm che phủ toàn bộ mặt đất và với chu kỳ trong khoảng 30 năm nên thuận
lợi trong bảo vệ vùng sinh thái đƣợc bền vững [1]. Mặt khác, cây cao su đã hoàn lại
một khối lƣợng chất dinh dƣỡng cho đất nhƣ cây rừng do bộ lá rụng hàng năm. Sản
phẩm của cây cao su là mủ đƣợc tổng hợp từ nƣớc và các bon, nên cây cao su có
nhu cầu phân bón không cao và là cây có khả năng hấp thụ khí các bonic rất lớn. Do
vậy cây cao su đang đƣợc xem là một giải pháp để giảm tác hại của hiệu ứng nhà
kính do khí các bonic từ các ngành công nghiệp thải ra môi trƣờng.
- Về an ninh quốc phòng: Cây cao su đƣợc trồng nhiều địa bàn khác nhau nhƣ
vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới. Những nơi này thƣờng chƣa có ngƣời ở nên
khi trồng cao su phải đƣa lao động từ nơi khác đến chăm sóc, khai thác và chế biến
đã tạo ra một vùng dân cƣ mới. Sự tập trung dân cƣ ở đây góp phần để giữ gìn an
ninh quốc phòng.
1.1.2 Cao su tiểu điền
1.1.2.1 Khái niệm CSTĐ
CSTĐ là hình thức tổ chức sản xuất quy mô nhỏ, hộ nông dân tự bỏ vốn ra đầu
tƣ hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh.
CSTĐ có diện tích nhỏ (dƣới 4 ha/hộ) thƣờng trồng không tập trung, nằm rải rác
quanh khu vực cƣ trú của nông dân [59].

hại,...” ; trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “Rủi ro là sự tổn
thất về tài sản hoặc là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” hay
“Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”. Tóm

22


lại, theo cách nghĩ truyền thống thì “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hay những vấn đề không
chắc chắn có thể xảy ra cho con người” [21], [61].
1.2.1.2 Trường phái trung hòa
Theo trƣờng phái này có một số định nghĩa nhƣ sau: “Rủi ro là sự bất trắc có
thể đo lường được” (Frank Knight); “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự
xuất hiện những biến đổi không mong đợi” (Allan Willett); “Rủi ro là một tổng hợp
ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” (Irving Preffer) hay “Rủi ro là giá
trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến” và theo C. Arthur William, Jr.Micheal
L.Smith đã viết: “Rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả; xuất hiện
trong hầu hết mọi hoạt động của con người, khi có rủi ro người ta không thể dự
đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, nguy cơ
rủi ro có thể xảy ra bất cứ khi nào, một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất
không thể đoán trước”[21], [61].
Nhƣ vậy, theo trƣờng phái này thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”
Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau nhất định khi nhìn nhận về
rủi ro, do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực sản xuất và đời sống ở mỗi
thời điểm xảy ra rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, các định nghĩa đều quan tâm, đề cập
đến một số vấn đề có mối liên hệ nhƣ sau: (1) Đề cập đến sự không chắc chắn trong
tƣơng lai, sự kiện bất ngờ và không mong đợi. (2) Đề cập tới hậu quả do một hoặc
nhiều nguyên nhân gây ra và sự không chắc chắn về hậu quả, gây ra tổn thất cho
con ngƣời trong tƣơng lai.

“Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn của người sản xuất như
thiên tai, dịch bệnh, giá cả biến động, sự thay đổi luật pháp, kỹ thuật canh tác,...
ảnh hưởng và gây thiệt hại đến kết quả và hiệu quả SXNN; những mức thiệt hại
này có thể đo lường được”.
1.2.2.2 Rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su
- Khái niệm: Trên cơ sở phân tích các khái niệm về rủi ro và đề xuất khái niệm
rủi ro, rủi ro trong SXNN, luận án xác định khái niệm rủi ro trong sản xuất cao su
nhƣ sau “Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn của người sản xuất như
thiên tai, dịch bệnh, giá cả biến động, sự thay đổi luật pháp, kỹ thuật canh tác,...
ảnh hưởng và gây thiệt hại có thể đo lường được đến kết quả và hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao su.

24


- Phân loại: Việc phân loại rủi ro có nhiều loại khác nhau do các cách tiếp cận
khác nhau. Theo phƣơng pháp quản trị rủi ro truyền thống có 4 loại rủi ro, rủi ro
thảm họa, rủi ro tài chính, rủi ro tác nghiệp và rủi ro chiến lƣợc; theo đối tƣợng rủi
ro gồm 3 loại, rủi ro tài sản, rủi ro nhân lực và rủi ro trách nhiệm; theo môi trƣờng
hoạt động gồm 2 nhóm, rủi ro môi trƣờng vĩ mô và rủi ro môi trƣờng vi mô. Thực
hiện nội dung nghiên cứu luận án, chúng tôi tiếp cận phân loại rủi ro sản xuất kinh
doanh cao su theo nguồn hình thành nhƣ sau:
Rủi ro trong sản xuất: Đến từ những sự kiện không đoán trƣớc đƣợc của thời
tiết cũng nhƣ những bất định trong sản xuất cao su. Vì SXNN nói chung và cao su
nói riêng chịu tác động nhiều của các yếu tố không kiểm soát đƣợc nhƣ thời tiết,
dịch bệnh, giống,…thậm chí hàng năm sử dụng đầu vào và đầu ra nhƣ nhau nhƣng
năng suất vẫn khác nhau.
Rủi ro về giá cả hay rủi ro về thị trường: Xuất hiện do những thay đổi không
báo trƣớc của thị trƣờng đầu vào và đầu ra trong sản xuất cao su. Giá đầu vào và
đầu ra cao su thay đổi hàng năm, giá đầu vào có thể thay đổi theo tháng, giá đầu ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status