skkn vận dụng kiến thức liên môn hóa học, lịch sử, sinh học, hóa học, tiếng anh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh vào giảng dạy môn giáo dục công dân lớp 10 bài 13 công dân với cộng đồng (tiết 2 – từ phầ - Pdf 37

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2015 - 2016
I. Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH

II. Tên sáng kiến
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN: ĐỊA LÍ, LỊCH SỬ, SINH HỌC,
HÓA HỌC,TIẾNG ANH, HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH VÀO GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
BÀI 13: CÔNG DÂN VỚI CỘNG ĐỒNG (Tiết 2 – Từ phần b mục 2 đến hết bài)

III. Tác giả sáng kiến
- Họ và tên giáo viên: CN. TẠ THỊ QUỲNH HOA
Ngày sinh: 20/11/1991; Môn: Giáo dục công dân
Điện thoại: 0977738784; Email:
- Họ và tên giáo viên: CN. CHU VĂN KHỞI
Ngày sinh: 10/2/1981; Môn: Lịch sử
Điện thoại: 0914483387; Email:
- Họ và tên giáo viên: CN. NGUYỄN THỊ THU THỦY
Ngày sinh: 28/5/1991; Môn: Tiếng anh
Điện thoại: 01649710668; Email:
- Họ và tên giáo viên: CN. VŨ THỊ THU HUYỀN
Ngày sinh: 10/5/1991; Môn: Tiếng anh
Điện thoại: 0918910591; Email:
Địa chỉ: THPT Bình Minh – Kim Sơn – Ninh Bình
Tỉ lệ đóng góp cho sáng kiến:
Họ và tên giáo viên
TẠ THỊ QUỲNH HOA
CHU VĂN KHỞI

Tỉ lệ đóng góp
40%

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GDCD

Giáo dục công dân

HS

Học sinh

GV

Giáo viên

NL

Năng lực

GD

Giáo dục

SGK

Sách giáo khoa

PP

Phương pháp


khô và khổ. Nhiều GV chỉ dạy qua loa, chiếu lệ; còn HS thì coi thường môn học,
coi giờ học GDCD là giờ để giải lao. Chính vì vậy, đòi hỏi mỗi GV dạy bộ môn
GDCD phải có những phương pháp thích hợp để tạo hứng thú cho HS trong các
giờ học, để mỗi giờ học không còn là “nỗi khổ” cho cả thầy và trò.
Trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, qua việc dự giờ một số đồng
nghiệp, tôi nhận thấy đa số các GV vẫn còn nặng về sử dụng các phương pháp
truyền thống như thuyết trình, đàm thoại và tuân thủ tuyệt đối bố cục, cách trình
bày của sách giáo khoa một cách khiên cưỡng, cứng nhắc. Do đó, nhiều khi
phương pháp dạy học của GV không phù hợp với đối tượng HS, giờ học trở nên
nặng nề hoặc nhàm chán, không tạo được sự hứng thú học tập cho các em.
Trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng thì rất cần có phương pháp;
phải giúp cho người học bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, chiếm lĩnh được kiến thức bằng con đường ngắn nhất. Nhiệm vụ của
toàn ngành giáo dục nói chung và mỗi GV dạy bộ môn GDCD nói riêng hiện nay
là đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của HS, phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành thế giới quan, nhân
cách toàn diện cho các em.
Một trong những quan điểm mới, hiện đại trong dạy và học hiện nay là dạy
học theo chủ đề, dạy học tích hợp và tích hợp liên môn. Tích hợp là một trong
những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy
học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều
nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm
tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng việc hiểu và làm đúng quá trình
tích hợp sẽ giúp nâng cao năng lực của người học, đào tạo những người có đầy đủ
phẩm chất, năng lực vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của

4




B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
1. Khái quát về quan điểm dạy học tích hợp liên môn
1.1. Các khái niệm cơ bản
a) Tích hợp
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có
nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau
trong cùng một kế hoạch dạy học”.

6


Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin
(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp các
hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự
hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào
quá trình dạy học các môn học như: tích hợp GD đạo đức, lối sống; GD pháp luật;
GD bảo vệ mội trường; GD chủ quyền quốc gia về biên giới….
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết. dạy
học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới
thực hiện.
b) Dạy học tích hợp liên môn
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học. “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêu của

hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem người học
có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra. Như
vậy, người học để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để
làm tốt công việc gì đó trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến việc đánh
giá kết quả học tập. Người học đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả
năng của mỗi người.
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng
vàogiải quyết những tình huống nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống công việc, đòi
hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ.
Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lý thuyết vừa phải hướng dẫn quy trình,
thực hành chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các dạng sai lầm,
nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập.
c) Dạy và học các năng lực thực hiện
Dạy học tích hợp liên môn có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa
dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó ở người học hình thành một năng lực nào
đó hay kỹ năng nhằm đáp ứng được mục tiêu bài học. Do đó, việc dạy kiến thức lý
thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự
phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học.
Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học về những vấn
đề cơ bản. Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lý thuyết

8


suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn. Do đó, cần gắn lý thuyết
với thực hành trong quá trình dạy học. Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi
kỹ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lý
thuyết. Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý
luận gắn với thực tiễn.
Trong dạy học tích hợp liên môn, người học được đặt vào những tình huống

thể tìm tòi, xây dựng được; diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi. Lúc này, vấn đề đối
với HS xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của GV, vấn đề đó được chính thức diễn đạt.
Nhiệm vụ giao cho HS cần đảm bảo rằng, HS không thể giải quyết trọn vẹn
với kiến thức, kĩ năng đã có mà cần phải học thêm kiến thức mới để vận dụng vào
quá trình giải quyết vấn đề.
b) Giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề
Sau khi đã phát biểu vấn đề, HS độc lập hoạt động, xoay trở để vượt qua khó
khăn, tìm các giải pháp để giải quyết vấn đề. Trong quá trình đó, khi cần phải có sự
định hướng của GV để HS có thể đưa ra các giải pháp theo suy nghĩ của HS.
Thông qua trao đổi, thảo luận dưới sự định hướng của GV, HS xác định được các
giải pháp khả thi, bao gồm cả việc học kiến thức mới phục vụ cho việc giải quyết
vấn đề đặt ra, đồng thời xây dựng kế hoạch hành động nhằm giải quyết vấn đề đó.
c) Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Trong quá trình thực hiện giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề, HS diễn
đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về kết quả thu được, qua đó có thể chỉnh
lý, hoàn thiện tiếp. Trường hợp HS cần phải hình thành kiến thức mới nhằm giải
quyết vấn đề, GV sẽ giúp HS xây dựng kiến thức mới của bản thân trên cơ sở đối
chiếu kiến thức, kinh nghiệm sẵn có với những hiểu biết mới; kết nối/ sắp xếp kiến
thức cũ và kiến thức mới dựa trên việc phát biểu, viết ra các kết luận/ khái niệm/
công thức mới… Trong quá trình đó, HS cần phải học lí thuyết hoặc/ và thiết kế
phương án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và
xem xét, rút ra kết luận. Kiến thức, kĩ năng mới được hình thành giúp cho việc giải
quyết được câu hỏi/ vấn đề đặt ra.
Trong quá trình hoạt động giải quyết vấn đề, dưới sự hướng dẫn của GV,
hành động của HS được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học.
GV cần hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng mới học để giải quyết
các tình huống có liên quan trong học tập và cuộc sống hàng ngày; tiếp tục tìm tòi
và mở rộng kiến thức thông qua các nguồn tư liệu, học liệu khác nhau; tự đặt ra các

10

thực hiện nhiệm vụ học tập; GV cần phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và

11


có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không để xảy ra tình trạng HS bị bỏ quên
trong quá trình dạy học.
- Báo cáo kết quả và thảo luận: yêu cầu về hình thức báo cáo phải phù hợp
với nội dung học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; GV cần khuyến
khích cho HS trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình
huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí.
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: GV tổ chức cho HS trình
bày, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ; nhận xét về quá trình thực hiện
nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hóa các kiến thức mà HS đã học được
thông qua hoạt động.
1.3.3. Về thiết bị dạy học và học liệu
Thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng trong dạy học mỗi chủ đề phải
đảm bảo sự phù hợp với từng hoạt động học đã thiết kế. Việc sử dụng các thiết bị
dạy học và học liệu đó được thể hiện rõ trong phương thức hoạt động học và sản
phẩm học tập tương ứng mà HS phải hoàn thành trong mỗi hoạt động học.
1.3.4. Về kiểm tra, đánh giá
Phương án kiểm ra, đánh giá trong quá trình dạy học phải đảm bảo sự đồng
bộ với phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng. Cần tăng cường
đánh giá về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS thông qua quá
trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, thông qua các sản phẩm học tập mà HS đã
hoàn thành; tăng cường hoạt động tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của HS. Để
thực hiện được điều đó, đối với mỗi hoạt động học trong cả tiến trình dạy học, cần
mô tả cụ thể các sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành cùng với các tiêu chí
đánh giá cụ thể.

3. Quy trình tổ chức dạy học tích hợp liên môn
a) Thiết kế giáo án vận dụng kiến thức liên môn
- Các bước để soạn một giáo án theo chủ đề tích hợp liên môn…….
- Giáo án vận dụng kiến thức liên môn không phải là một bản đề cương kiến
thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản
thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho HS thực hiện trong giờ lên lớp
để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo dục và
giáo dưỡng của bộ môn. Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một

13


là, hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài
dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hai là, một hệ thống
các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ
chức hợp lí nhằm hướng dẫn HS từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách
tích cực và sáng tạo.
- Thiết kế giáo án vận dụng kiến thức liên môn phải bám chặt vào những
kiến thức các bộ môn có liên quan.
- Thiết kế giáo án vận dụng kiến thức liên môn phải bảo đảm nội dung và
cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra
những chân trời mở ra sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học
sinh, trên cơ sở bảo đảm được chủ đích, yêu cầu chung của giờ học.
- Nội dung dạy học của giáo án vận dụng kiến thức liên môn phải làm rõ
những tri thức và kĩ năng cần hình thành, tích luỹ cho HS qua phân tích, chiếm lĩnh
kiến thức; mặt khác, phải chú trọng nội dung tích hợp giữa tri thức bộ môn mình
dạy với các bộ môn khác.
- Giáo án vận dụng kiến thức liên môn theo quan điểm tích hợp phải chú
trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các hoạt động phức hợp để
học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí các

đầu đến kết thúc.
Thông thường giáo án soạn theo phương pháp cũ được GV xây dựng theo
cấu trúc của một giờ học gồm các bước như sau:
- Kiểm tra bài cũ.
- Giới thiệu bài mới.
- Dạy bài mới.
- Luyện tập, củng cố kiến thức hình thành ở HS.
- Hướng dẫn HS làm việc ở nhà.
Cấu trúc một bài soạn GDCD theo phương pháp truyền thống ở trên cho
thấy sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết, đầy đủ những việc làm
của GV và HS theo một trình tự nhất định.
* Các phương pháp GV thường sử dụng trong bài dạy GDCD là:
1.1. Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
- Là phương pháp để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết,
dễ hiểu cho HS tiếp thu. Đối với HS qua nghe giảng giải nhanh chóng hiểu được

15


vấn đề và học được PP trình bày vấn đề học tập một cách có hệ thống. GV thường
sử dụng PP này khi tiến hành nội dung các kiến thức cần nhớ trong bài học, thể
hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần hoặc toàn bộ chương trình.
- Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS rơi vào tình trạng thụ động,
phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội trình bày ý kiến riêng của
mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích của GV.
1.2. Làm việc với sách giáo khoa
- Ưu điểm: HS làm việc một cách độc lập, tích cực, tạo không khí sôi nổi
trong học tập và phát huy năng lực tư duy của HS.
- Nhược điểm: Kiến thức trong sách giáo khoa chỉ hạn chế trong lượng kiến
thức của môn học, chưa đề cập được hết tất cả các kiến thức, tình huống mà HS sẽ

đạt. Nội dung cần truyền đạt này chỉ căn cứ vào nội dung bài học trong SGK. Như
vậy, lôgic của bài soạn chỉ dựa vào SGK và lập luận của người trình bày mà không
tính đến khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh vốn là nhân vật trung tâm của
hoạt động dạy - học.
Hiện nay, việc thực hiện chương trình và SGK mới đã góp phần tích cực vào
việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa HS. SGK đã được thiết
kế cho GV dễ dàng tổ chức các hoạt động học tập. Các tình huống có vấn đề, các
câu hỏi tìm tòi cũng được đặt ra, mặc dù chưa nhiều nhưng đã mang tính gợi ý
giúp cho GV định hướng phương pháp. Bài 13: Công dân với cộng đồng, phần
phạm trù “hòa nhập”, “hợp tác” cũng được SGK xây dựng trên tinh thần đó. Khi
dự giờ một số GV, tôi thấy phương pháp chủ đạo của đa số GV khi dạy hai phạm
trù này là nêu vấn đề, thuyết trình kết hợp với đàm thoại để làm rõ từng vấn đề,
cuối cùng là làm bài tập củng cố. Phương pháp dạy học trên về ưu điểm đã tạo
được sự hứng thú cho HS khi bắt đầu bài học bằng cách nêu vấn đề. HS được GV
giảng giải kĩ lưỡng từng vấn đề cùng với một số câu hỏi phát vấn cũng phần nào
phát huy được tính tích cực của các em trong hoạt động học tập. HS nắm được một
số kiến thức cơ bản của bài. Tuy nhiên, với bài học trên, ta hoàn toàn có thể sử
dụng thêm các phương pháp dạy học khác để phát huy tính chủ động, tích cực cũng
như sự hứng thú đối với môn học, giảm bớt sự căng thẳng cho HS theo định hướng
phát triển năng lực học sinh.
Sau đây, tôi xin đề xuất một phương án như sau:
III. Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề ( giải pháp mới cải tiến)

17


Phương án dạy học phạm trù “hòa nhập” và “hợp tác” – bài 13: “Công dân
với cộng đồng” – GDCD 10.
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN: ĐỊA LÍ, LỊCH SỬ, SINH HỌC,
HÓA HỌC,TIẾNG ANH, HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC


Mô tả được một số sự kiện của lịch sử Việt Nam những năm 1968 - 1973 để giải
quyết câu hỏi phần “hợp tác”.
4. Môn Sinh học
Bài 65: Đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người

18

- SINH HỌC 8 -


Nhớ được phương thức lây truyền HIV/AIDS để giải quyết tình huống phần “hòa
nhập”.
5. Môn Tiếng anh
- Môn Tiếng anh
Bài 12: Sports and pastimes

- TIẾNG ANH 6-

HS nhớ được một số từ vựng liên quan đến các môn thể thao để giải quyết nhiệm
vụ phần “hợp tác”.
6. Môn hóa học
Bài 18: Nhôm

- HÓA HỌC 9-

HS nhớ được kí hiệu hóa học, nguyên tử khối, tính chất vật lí của nhôm.
Bài 19: Sắt

- HÓA HỌC 9-

nhân sống trong đó phải có nghĩa vụ tuân thủ. Đối với tập thể lớp học, nhà trường
và cộng đồng dân cư nơi cư trú, hòa nhập và hợp tác là những chuẩn mực đạo đức
quan trọng nhất mà công dân hiện nay cần phải có. Bài học ngày hôm nay chúng ta
cùng nhau đi tìm hiểu thế nào là hòa nhập, hợp tác.
4. Học bài mới
Hoạt động của GV và HS
Hoạt động 1: Thảo luận, đàm thoại, kể

Nội dung bài học
1. Cộng đồng và vai trò của

chuyện tìm hiểu thế nào hòa nhập, biểu

cộng đồng đối với cuộc sống

hiện của sống hòa nhập.

của con người

- Mục tiêu:

2. Trách nhiệm của công dân

Nêu được thế nào là hòa nhập.

đối với cộng đồng

Nêu được các biểu hiện đặc trưng của hòa

a) Nhân nghĩa

hỏi sau:

mâu thuẫn, mất đoàn kết.

Nhóm 1: Dựa vào các phương thức lây truyền + Tích cực tham gia các hoạt
HIV/AIDS, theo em việc các bạn không dám động tập thể, hoạt động xã hội;
nói chuyện với Lan, không dám đến gần Lan đồng thời vận động bạn bè và
vì sợ lây nhiễm HIV có đúng không?

mọi người cùng tham gia.

HS vận dụng kiến thức môn Sinh học về các

c) Hợp tác

phương thức lây truyền HIV/AIDS để giải - Khái niệm: Hợp tác là cùng
thích việc một người nói chuyện, đến gần chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ
người bị nhiễm HIV/AIDS thì có bị nhiễm trợ lẫn nhau trong một công
HIV/AIDS không?

việc, một lĩnh vực nào đó vì mục

Nhóm 2: Nếu em là bạn cùng lớp với Lan, em đích chung.
sẽ làm gì để Lan và các bạn trong lớp có thể - Biểu hiện của hợp tác
hòa nhập với nhau? Từ đó, em hiểu thế nào là + Cùng bàn bạc.
sống hòa nhập?

+ Phối hợp nhịp nhàng.

Nhóm 3: Từ việc Lan mặc cảm, tự ti, sống thu + Biết về nhiệm vụ của nhau.


Sau đó GV đặt câu hỏi:

giữa các dân tộc hoặc giữa các

? Thông qua câu chuyện, em thấy được gì ở quốc gia.
lối sống của Bác? Em đã học được điều gì từ * Bài học rút ra cho bản thân
câu chuyện của Bác?

Rèn luyện tinh thần hợp tác với

- Kết luận: GV định hướng HS

bạn bè và mọi người trong các

+ Nhóm 1

hoạt động học tập, lao động,

HIV/AIDS lây truyền qua 3 con đường:

hoạt động tập thể và hoạt động

Một là, qua quan hệ tình dục không an toàn

xã hội.

Virus HIV có rất nhiều trong máu, trong các
chất dịch sinh dục. Do vậy, virus có thể xâm
nhập vào máu bạn tình qua cơ quan sinh dục.

với Lan giúp Lan bớt mặc cảm, tự ti. Việc nói
chuyện với Lan sẽ giúp các bạn khác thấy
HIV không nguy hiểm tới chúng ta nếu như
chúng ta nhận thức rõ về nó.
Cùng các bạn trong lớp tổ chức các hoạt động
tập thể có Lan tham gia, giúp đỡ Lan trong
học tập và cuộc sống để Lan cảm thấy mình
không đơn độc, không mặc cảm với bản thân.
+ Nhóm 3
Sống hòa nhập giúp chúng ta có được những
mối quan hệ tốt đẹp, có thêm nhiều niềm vui
và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trong
cuộc sống. Ngược lại, người sống không hòa
nhập sẽ cảm thấy đơn độc, buồn tẻ, cuộc sống
kém ý nghĩa.
+ Nhóm 4
Để hòa nhập với tập thể lớp học, trường học,
cộng đồng nơi ở, thì thanh niên học sinh
chúng ta cần:
Tôn trọng, đoàn kết, quan tâm, gần gũi, vui
vẻ, cởi mở, chan hòa với thầy cô giáo, bạn bè
và những người xung quanh; không xa lánh,
23


bè phái, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết với
người khác.
Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt
động xã hội do nhà trường, địa phương tổ
chức; đồng thời vận động bạn bè và mọi

Sau đó đặt câu hỏi:
? Những hình ảnh trên gợi cho em nhớ tới
chiến thắng hào hùng nào của quân và dân ta?
? Theo em, yếu tố nào làm nên chiến thắng
lừng lẫy của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên
không” năm 1972?
Nhóm 3,4: Chiếu một số hình ảnh về tổ chức
ASEAN.
Sau đó đặt câu hỏi:
? Em hãy cho biết nguyên tắc hoạt động của
ASEAN?
? Những thành tựu mà ASEAN đã đạt được?
HS vận dụng kiến thức Lịch sử, Địa lí đã
học để trả lời câu hỏi.
- Kết luận: GV định hướng HS:
Nhóm 1, 2: Trước hết, chúng ta đã phát huy
sức mạnh truyền thống cả nước đồng lòng,
toàn dân đánh giặc; chủ động xây dựng thế
trận phòng không nhân dân, nghiên cứu đề
xuất kịp thời cách đánh B-52.
Hai là, tổ chức hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ
giữa các lực lượng; kết hợp vũ khí tương đối
hiện đại và hiện đại, đánh địch bằng nhiều
mưu kế sáng tạo.
Ba là, chúng ta đã kết hợp đúng đắn sức mạnh
của dân tộc với sức mạnh của thời đại; giữa
đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị,
ngoại giao.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status