skkn hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học cho học sinh trường trung học cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
---------------------------&--------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hoằng Lý

SKKN thuộc lĩnh vực: Hóa học

THANH HOÁ. NĂM 2015

1


A.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoá học ở trường Trung Học Cơ Sở là môn học tương đối khó đối với
học sinh. Vì lên lớp 8 học sinh mới được làm quen môn học. Phần nhiều bài tập
định lượng tập trung ở cuối lớp 8 và lớp 9. Để học sinh tiếp cận được kiến thức
thường thông qua một phương tiện hiệu nghiệm đó là bài tập hoá học. Đây là
một trong những nguồn để hình thành kiến thức cho học sinh. Giải bài tập hoá
học (BTHH) cũng giúp học sinh (HS) tìm kiếm được kiến thức và kỹ năng mới.

năng giải bài tập để từ những phương pháp, kỹ năng được học các em vận dụng
vào những vấn đề cụ thể.
Mặt khác đối với môn Hoá học nếu không giải được các bài toán Hoá học thì
các em cũng sẽ không nắm được kiến thức về lý thuyết một cách cụ thể, về bài
tập để củng cố lý thuyết. Chính vì điều đó mà vấn đề đặt ra ở đây là phải truyền
đạt cho các em một cách đầy đủ và có hệ thống các phương pháp và thành thạo
về kỹ năng giải toán Hoá học, vì các bài toán cũng là thước đo mức độ hiểu bài
và trình độ tư duy của học sinh.
Như vậy qua những luận điểm nêu trên tôi thấy phương pháp giải toán Hoá học
và hình thành kỹ năng giải bài tập Hoá học cho học sinh ở trường trung học
cơ sở thực sự là cần thiết đối với học sinh bậc trung học cơ sở nói riêng và học
sinh phổ thông nói chung.
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC HÓA HỌC 8, 9 Ở
TRƯỜNG THCS.
1. Thực trạng
- Về phía nhà trường, học sinh và nhân dân. Nhiều người quan niệm Hoá học 8
là môn học mới nhiều lý thuyết, ít bài tập chỉ cần học thuộc lý thuyết là được,
cốt lõi khó phải là ở lớp 9 và trên nữa, nhưng ngày nay chủ yếu học sinh, phụ
huynh và toàn xã hội tập trung học Toán, Văn, Anh, ít chú trọng quan tâm học
môn khác nên việc dạy học của giáo viên gặp nhiều khó khăn, nhiều học sinh
3


không theo khối A, B , nhiều học sinh ngại khó, một bộ phận học sinh nhác học,
ham chơi nên chất lượng môn học của các em cuối năm chưa cao.
- Về đặc trưng bộ môn. Đây là môn học khó và mới đối với học sinh, vì lần đầu
tiên các em được học và nó đặt nền móng cho việc học bộ môn của các em ở các
lớp trên, nếu không vững kiến thức và kỹ năng giải bài tập ở lớp 8 thì sẽ không
giải được bài tập ở lớp 9 bao gồm cả bài tập định tính và bài tập định lượng, một
bài tập có nhiều cách giải khác nhau.

67,5
4
10
- Trước thực trạng đó, để việc dạy của giáo viên và việc học tập bộ môn của học
sinh đạt kết quả cao hơn tôi đề ra một số phương pháp và hình thành kỹ năng
khi dạy phần Giải bài tập Hoá học 8, 9 để học sinh dễ tiếp thu và có hứng thú
học tập bộ môn.
III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Các giai đoạn của việc hình thành kĩ năng giải bài tập hoá học.
Sự hình thành kĩ năng giải bài tập hoá học (BTHH) là quá trình diễn ra trong
suốt thời gian học tập hoá học của học sinh. Có thể thấy gồm các giai đoạn
chính sau.
- Giai đoạn 1: Học sinh vận dụng lí thuyết để giải những BTHH. Khi học sinh
giải những bài tập sơ đẳng này sẽ tạo nên những thao tác cần thiết để giải các bài
tập hoá học cơ bản.
Ví dụ: Viết tên hoặc kí hiệu của nguyên tố hoá học, viết công thức theo hoá trị,
tính hoá trị dựa vào công thức, viết tên và công thức hoá học của một số đơn
chất , hợp chất (oxit, axit, bazơ, muối...), tính phân tử khối, khối lượng mol...

4


- Giai đoạn 2: Học sinh vận dụng kiến thức, thao tác để giải bài tập hoá học cơ
bản.
- Giai đoạn 3: Học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng giải bài tập cơ bản để giải
các bài tập phân hoá (BTPH) đa dạng, phức tạp hơn.
Ta thấy khi phát triển tri thức thì các kĩ năng tương ứng cũng nảy sinh. Kiến
thức hoá học ngày càng được mở rộng, nâng cao thì kĩ năng cũng mở rộng và

- Kĩ năng giải bài tập thực nghiệm định lượng
Trong các kĩ năng trên bao gồm kĩ năng giải bài tập cơ bản và kĩ năng giải bài
tập phân hoá. Qua quá trình dạy hoá học 8, 9 tôi rút ra được sơ đồ chung định
hướng cho học sinh khi gặp các loại bài tập trên
3. Sơ đồ định hướng giải bài tập hoá học.
- Trong thực tiễn dạy các lớp, có rất nhiều học sinh không nắm được ngay cả
hành động, thao tác giải những bài tập mẫu đơn giản phổ biến nên không thể
giải được các bài tập khó. Vạch ra sơ đồ để định hướng cho học sinh sẽ có nhiều
tác dụng.
Chỉ dẫn ra được phương hướng chung sẽ tìm kiếm lời giải bài tập, tạo điều kiện
cho học sinh có thói quen xác định được phương hướng và cách hành động
trước khi bắt tay vào hành động cụ thể. Mặt khác mỗi chỉ dẫn nêu ra cần phải
làm gì, còn phải thực hiện trình tự thao tác nào ?
- Giải bài tập hoá học theo sơ đồ định hướng chuẩn bị cho học sinh giải bài tập
hoá học độc lập, sáng tạo. Vì trong khi hướng dẫn học sinh giải bài tập mẫu ,
những thao tác tư duy và kĩ năng giải bài tập của học sinh được hình thành, đồng
thời học sinh sẽ thực hiện các thao tác ấy đến mức thành thạo từ bài tập mẫu
sang bài tập tương tự hoặc bài tập phân hoá.
- Giải bài tập hoá học theo sơ đồ định hướng giảm khó khăn cho học sinh trong
quá trình nắm vững kĩ năng giải bài tập và có thể dạy mọi đối tượng học sinh,
Đặc biệt với học sinh trung bình, khá và kém. Riêng với học sinh giỏi có thể tự
rút ra phương pháp giải mỗi loại bài tập và vận dụng để giải bài tập tương tự và
bài tập biến đổi. Nhưng học sinh trung bình khá trở xuống thì không có khả
năng này. Sơ đồ định hướng sẽ giúp học sinh phương hướng tìm kiếm lời giải dễ
hơn.
6


Tạo cho học sinh có thói quen làm việc theo quy trình chặt chẽ, đặt kế hoạch
trước khi thực hiện cụ thể , có thói quen lập luận và hành động chặt chẽ, chính

Số mol O2 cần dùng là x =

0,5.1
= 0,25 mol
2

Hay 0,25 . 22,4 = 5,6 (l) O2
b/ Số mol C đã dùng là: nC =

22,4
= 2mol C
12

Phương trình phản ứng: C +

O2



CO2

1mol 1mol
7


2mol xmol
Số mol O2 đã dùng theo phương trình phản ứng là: x =

2.1
= 2 mol O2


- Tính thể tích dung dịch A có nồng độ C để tác dụng với một lượng xác định
chất B...
- Tính thành phần % về khối lượng nguyên tố trong hợp chất của nó.
Với mỗi dạng bài tập này giáo viên cần cho học sinh nắm vững được sơ đồ cụ
thể
Bài tập ví dụ:
Ví dụ 1: Tính thể tích khí H 2 sinh ra ở (đktc) khi cho 28 (g) Fe tác dụng vừa đủ
với HCl.
Giải:
Theo em: ? Đề bài cho biết gì ? Tìm gì ?
? Nêu thuận lợi của bài toán ? (lượng HCl vừa đủ )
? Đề bài cho biết 28 (g) Fe nghĩa là ta dễ dàng tìm được đại lượng nào
trước ?
? Một em nêu hướng giải ?
Theo đề lượng Fe đem dùng là: nFe =
Phương trình phản ứng: Fe

28
= 0,5 mol Fe
56

+ 2HCl

=

FeCl2

+


MAl = 27 .2 = 54
54.

⇒ % Al = M
. 100 =
. 100 = 53%
102
Al O
2

3

9


4. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ, tìm kiếm lời giải bài tập hoá học.
Nếu giáo viên đã hướng dẫn học sinh sơ đồ định hướng bài tập hoá học rồi thì
việc hướng dẫn học sinh tìm kiếm lời giải với mỗi bài tập hoá học là việc mang
tính gợi mở, dẫn dắt và gồm các bước sau:
4.1. Đặt vấn đề: (nêu tình huống) trong bài tập.
Nhằm kích thích tư duy và gây hứng thú cho học sinh nếu giáo viên chỉ đọc
sách giáo khoa sẽ rất hạn chế.
Ví dụ: Khi dạy học sinh tính theo PTHH, thay cho việc đọc bài tập. Giáo viên
nêu vấn đề như sau: Một nhà sản xuất muốn có 2,7 tấn nhôm thì phải dùng bao
nhiêu tấn nhôm oxit (Al2O3) ? Làm thế nào để tính được ?
4.2. Dùng hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm kiếm lời giải bài tập hoá học.
Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để học sinh suy nghĩ và thực hiện bằng vận dụng
kiến thức, kĩ năng đã biết, câu hỏi cô đọng, chính xác và phải hướng theo sơ đồ
định hướng chung và sơ đồ cụ thể mà giáo viên hướng dẫn cho học sinh.
Ví dụ: Khi giải bất kì bài tập hoá học nào tính theo PTHH ta đều phải hỏi gợi

Ví dụ 1: Bài tập đề xuất vần đề khi học bài Canxi oxit. Giáo viên nêu câu hỏi: ?
liệu Canxi oxit có đầy đủ tính chất hóa học của oxit bazơ không ? khi hướng dẫn
học sinh giải bài tập tính theo PTHH, giáo viên đặt vấn đề: làm thế nào thu được
khối lượng, thể tích sản phẩm mong muốn mà lại tiết kiệm được hoá chất (lấy
vừa đủ chất tham gia phản ứng).
Khi nêu bài tập như vậy sẽ kích thích tính tò , tư dy tích cực của học sinh.
Ví dụ 2: Để hình thành khái niệm của một số hợp chất: oxit , axit... thường qua
một số ví dụ cụ thể. Giáo viên yêu cầu học sinh phân tích tìm ra đặc điểm chung
trong thành phần phân tử của các chất cụ thể và khái quát hoá để hình thành khái
niệm.
Ví dụ 3: Nhận xét trạng thái, màu sắc, mùi, vị của các chất... trước khi tham gia
phản ứng, nhận xét hiện tượng khi phản ứng xảy ra, nhận xét, giải thích hiện
tượng, kết luận về sản phẩm của phản ứng, những kết luận rút ra. Viết phương
trình phản ứng.
Ví dụ 4: Đây là các bài tập cũng cố, nhằm vào các tình huống học sinh dễ mắc
sai lầm, hoặc muốn khắc sâu kiến thức kĩ năng nào đó, hoặc mở rộng nâng cao...
11


Qua các tình huống của bài tập học sinh thấy rõ sâu sắc hơn kiến thức và kĩ
năng. Sau khi học sinh biết khái niệm oxit, axit..., giáo viên có thể phân loại
ngay bài tập lựa chọn.
Bài tập: Hãy cho biết công thức nào dưới đây là ôxit, axit, bazơ, muối... ?
CaO ; NaOH ; H2SO4 ; CaCl2 ; SO2...
Giải:
- Ôxit: CaO ; SO2.
- Axit: H2SO4
- Bazơ: NaOH
- Muối: CaCl2.
5.2. Sử dụng BTHH trong tiết luyện tập, ôn tập...

- Giáo viên yêu cầu học sinh nhớ trình tự thực hiện, hiện tượng trước và sau
phản ứng. Giải thích kết quả. Nếu khó quá, giáo viên biểu diễn để học sinh quan
sát và sau đó thực hiện các nhiệm vụ đặt ra:
Cuối cùng giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập ở nhà theo mẫu:
+ Nêu tên thí nghiệm
+ Cách tiến hành
+ Hiện tượng xảy ra. Giải thích hiện tượng
+ Viết phương trình phản ứng xảy ra
Với bất cứ cách sử dụng nào thì bài tập hoá học giáo viên đưa ra nên đảm bảo
yêu cầu:


Hình thành, cũng cố và vận dụng các kiến thức vào bài học



Cũng cố, phát triển kĩ năng trước đó



Bài tập đưa ra phù hợp với nội dung bài



Lựa chọn bài tập phù hợp với các đối tượng học sinh



Bài tập hoá học nên kế thừa, dựa vào bài đã học hoặc tương tự bài tập cơ



Số học sinh tích cực, chủ động học tập nhiều hơn, các em có hứng thú học tập
bộ môn hơn, nhiều em đạt kết quả cao hơn trong học tập và rèn luyện, việc học
môn Hóa học không còn là khó khăn, trở ngại, bế tắc đối với các em, tâm lý
ngại khó, ngại học đã được khắc phục nhiều ở học sinh, các em hứng thú hăng
say học tập, biết phân loại bài toán để giải nên kết quả học tập tăng lên rõ rệt:
Loại Giỏi tăng: 7,2 %, Khá tăng 12,5 %,Trung bình giảm 9%, Yếu giảm 10,7 %
2.

Kết quả đạt được
Kết quả học tập bộ môn Hóa học 8, 9 học kỳ I năm học 2014 – 2015
Số học sinh

Kết quả học tập bộ môn
14


Lớp 8:
Lớp 9:

40
56

Giỏi
SL
%
5 12,5
8 14,3

Khá

mắc trong việc học tập HOÁ HỌC.
Tuy nhiên đó mới chỉ là một số kinh nghiệm của bản thân. Để đạt được
hiệu quả như mong muốn còn cần thêm một số điều kiện cũng rất thiết yếu:
Giáo viên phải chuẩn bị bài tốn thời gian hơn (đầu tư kiến thức và bài soạn kĩ

15


hơn), đồ dùng giảng dạy phải đầy đủ (mô hình, thí nghiệm, thực hành, tranh
vẽ...) .
Do thời gian làm đề tài còn hạn chế, nên đề tài chưa thật hoàn hảo. Rất mong
được sự trao đổi, đóng góp ý kiến, ủng hộ của các đồng nghiệp để đề tài được
hoàn thiện hơn, việc tạo điều kiện của nhà trường để tôi thực hiện tốt nhiệm vụ
của mình trong những năm công tác tiếp.
Xin trân trọng cảm ơn.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

TP Thanh hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết

Nguyễn Thị Thu
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

MỤC LỤC
A.
ĐẶT VẤN ĐỀ
B.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status