ĐỀ CƯƠNG ÔN THI LỚP TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ
MÔN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC ĐẢNG
1
Câu 1: Vị trí, vai trò, chức năng,`nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
* Vị trí, vai trò:
Điều 21 Điều lệ Đảng xác định: “ TCCSĐ ( chi bộ, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”.
- Là nền tảng, TCCSĐ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự vững mạnh và
năng lực lãnh đạo của Đảng.
- TCCSĐ là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức 4 cấp của Đảng, là cơ sở
để xây dựng toàn bộ hệ thống tổ chức của Đảng, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, bám
sát các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội,
bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng đảng viên, từng đơn vị cơ sở và từng
người dân.
TCCSĐ là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách; nơi kiểm nghiệm và góp
phần hoàn thiện đường lối, chính sách.
TCCSĐ là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng như: kết
nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên; nơi thường xuyên
thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; nơi xuất phát đề cử ra cơ
quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Chất lượng TCCSĐ có ảnh hưởng lớn tới chất
lượng nội bộ Đảng.
TCCSĐ là cầu nối Đảng với nhân dân. Hồ Chí Minh dạy: “ Tác dụng của chi bộ
là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”.
- Là hạt nhân chính trị ở cơ sở, TCCSĐ lãnh đạo tất cả các tổ chức khác trong
HTCT, bảo đảm mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng chính trị của Đảng.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Đối với Đảng ta, xây dựng chi bộ cho tốt, cho vững
mạnh là một việc vô cùng quan trọng”.
Trong mọi thời kỳ, Đảng ta luôn coi xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
đã ban hành chức năng, nhiệm vụ cho từng loại tổ chức cơ sở đảng
3
Câu 2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ
ĐẢNG
* Phương hướng
Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng,
làm cho tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh; làm tốt công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng, quản lý, giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm
vụ và phẩm chất đạo đức, lối sống; đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong
Đảng, thực hiện tốt chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở.
* Những giải pháp chủ yếu
Một là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo
đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ
năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Các cấp uỷ đảng phải quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, học tập lý luận chính trị
- Chủ động khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng; chống chủ nghĩa cơ
hội, thực dụng, vụ lợi, cá nhân; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà
bình” của các thế lực thù địch.
- Xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong đảng
- Cấp uỷ nắm chắc tư tưởng, kịp thời phát hiện đảng viên vi phạm đạo đức, lối
sống, có biện pháp phòng ngừa, giáo dục.
Hai là: Hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo
hướng gắn tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và
lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở
tiếp làm bí thư. Doanh nghiệp nhà nước, chủ tịch hội đồng quản trị hoặc tổng giám
đốc đồng thời là bí thư cấp uỷ…
Bốn là: Nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt
động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo hướng vừa mở rộng dân chủ,
5
vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong
sinh hoạt, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng.
- Tập trung củng cố, xây dựng TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng.
- Thực hiện nghiêm túc, nền nếp chế độ sinh hoạt đảng định kỳ. Nội dung sinh
hoạt chi bộ phải cụ thể, thiết thực. Mỗi quý, chi bộ sinh hoạt chuyên đề một lần để
bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho đảng viên.
- Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc phê bình, tự phê bình trong sinh hoạt đảng
- Thi hành kỷ luật nghiêm minh với đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và đưa ra
khỏi Đảng người không đủ tư cách đảng viên.
- Định kỳ 6 tháng một lần cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ kiểm tra nền nếp,
chất lượng sinh hoạt của các chi bộ và thông báo kết quả kiểm tra trong toàn đảng
bộ
- Thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ cấp uỷ viên, bí thư cấp uỷ về kỹ năng cụ thể
hoá và tổ chức hiệu quả đường lối, chính sách, pháp luật…; bồi dưỡng biện pháp
quy tụ, phát huy sức mạnh tông hợp để thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị của
địa phương, đơn vị
Năm là: Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên;
dựa vào dân để xây dựng Đảng.
- Các cấp uỷ viên cấp trên phải nắm chắc tình hình cơ sở, phân công cấp uỷ viên
trực tiếp phụ trách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề xảy
ra ở cơ sở.
với Nhân dân, đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Cấp ủy còn lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng đảng bộ, chi bộ vững mạnh, năm
2015 được huyện ủy(thành ủy) xếp loại TSVMTB
+ Phát huy tốt vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở
+ Phương thức, phong cách lãnh đạo, làm việc đổi mới.
+ Sinh hoạt được chỉnh đốn. Số CSĐ TSVM ngày càng tăng
7
- Hạn chế, yếu kém:
+Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của CSĐ nhiều nơi còn yếu.
+ Phương thức lãnh đạo nhiều nơi còn lúng túng, chậm đổi mới.
+ Nội dung, hình thức sinh hoạt lúng túng, hiệu quả thấp, Chất lượng sinh hoạt tổ
chức cơ sở đảng chưa cao
+ Công tác cán bộ, CT đảng viên còn một số yếu kém. Vẫn còn những tổ chức cơ
sở đảng chưa quan tâm đến công tác kiểm tra thực hiện nghị quyết; giao nhiệm vụ
cho cấp uỷ viên, cho đảng viên nhưng thiếu đôn đốc, kiểm tra; tính chủ động của
nhiều cấp uỷ viên phụ trách đoàn thể chưa cao; việc thực hiện sơ kết, tổng kết, rút
kinh nghiệm trong sinh hoạt đảng chưa kịp thời.
- Nguyên nhân
Do nhận thức của cấp uỷ và đảng viên về vị trí, yêu cầu sinh hoạt đảng chưa thật
sâu sắc, còn biểu hiện ngại sinh hoạt đảng;
Cấp uỷ cấp trên chưa thực sự chú trọng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực
hiện chế độ sinh hoạt; chưa thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tác đảng
cho cấp uỷ, bí thư chi bộ; một số tổ chức đảng còn chậm đổi mới nội dung, hình
thức, phương pháp sinh hoạt.
Còn có chi bộ chưa xác định đúng, đầy đủ nội dung sinh hoạt chi bộ, đặc biệt là
những vấn đề nẩy sinh trong thực tiễn chưa được nhận diện để đưa vào nội dung
thảo luận, tìm biện pháp giải quyết; tinh thần trách nhiệm của đảng viên trong đấu
tranh tự phê bình và phê bình chưa cao, còn có tình trạng đảng viên thờ ơ không
cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà
nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành
mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của đảng, giữ gìn
9
đoàn kết thống nhất trong đảng” ( Điều 1, chương I- điều lệ ĐCS VN khóa XI2011)
* Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đảng viên
Đảng viên có vai trò to lớn, thể hiện ở 3 mối quan hệ.
Thứ nhất, đảng viên giác ngộ lý tưởng cộng sản, tham gia xây dựng đường lối,
nhiệm vụ chính trị đúng đắn và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách ở cơ sở.
Thứ hai, Đảng viên gắn bó với tổ chức, tổ chức mạnh sẽ có đảng viên tốt và đảng
viên có chất lượng là cơ sở xây dựng tổ chức đảng vững mạnh.
Thứ ba, Đảng viên gắn bó và trưởng thành từ phong trào cách mạng của quần
chúng, đảng viên tiên phong, gương mẫu để nhân dân tin yêu và noi theo.
* Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác đảng viên.
Là một trong những công tác quan trọng trong công tác xây dựng đảng. Chi
phối các công tác khác trong công tác xây dựng đảng.
Thứ nhất, Công tác đảng viên có vai trò quyết định trực tiếp xây dựng đội ngũ
đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
Thứ hai, Là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của đảng
Thứ ba, công tác đảng viên là một bộ phận hết sức quan trọng của công tác tổ chức
xây dựng Đảng.
Câu 4: Nội dung công tác đảng viên của tổ chức cơ sở Đảng (3 nội dung)
Một là: Giáo dục, rèn luyện đảng viên
- Ý nghĩa: Giáo dục, rèn luyện đảng viên nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho ĐV
là việc làm thường xuyên của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ giáo dục,
rèn luyện đảng viên càng trở nên cấp bách…
- Ý nghĩa: Đảm bảo số lượng đi đôi với chất lượng. Tránh tình trạng ĐV đông
nhưng không mạnh. Giữ nghiêm kỷ luật, làm gương nhắc nhở giáo dục ĐV luôn
giữ vững danh hiệu ĐV , hoàn thành mọi nhiệm vụ.
11
- Nội dung, hình thức
+ Xóa tên:
+ ĐV xin ra khỏi đảng:
+ Khai trừ khỏi Đảng:
+ Nâng cao nhận thức của cấp ủy về sự cần thiết đưa người không đủ tư cách ra
khỏi đảng để làm trong sạch đảng.
+ Căn cứ nhiều kênh thông tin để phát hiện đảng viên vi phạm tư cách để kiểm tra,
giáo dục, nếu không sửa chữa tiếp tục vi phạm phải đưa ra khỏi đảng bằng hình
thức thích hợp.
+ Thủ tục tiến hành phải đúng các bước theo quy định
+ Tăng cường sự lãnh chỉ đạo của cấp ủy cấp trên trong việc đưa người không đủ
tư cách ra khỏi đảng.
LIÊN HỆ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ
- Đặc điểm tình hình Chi , đảng bộ
Hiện nay, toàn bộ Sở có 129 đảng viên, được phân tách theo các tiêu chí sau:
1. - Đảng viên chính thức: 116 đồng chí
- Đảng viên dự bị: 13 đồng chí
2. Trình độ học vấn
- Tốt nghiệp chương trình THPT và tương đương: 129 đồng chí
-
Chưa tốt nghiệp THPT:
3. Trình độ chuyên môn:
- Cấp ủy viên cơ sở: 13 đồng chí
-
- BCH chi bộ: 21 đồng chí
7. Tham gia ban chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội: 26 đồng chí
- Ưu điểm:
Đa số đảng viên thuộc Đảng bộ Sở …được đào tạo bài bản về chuyên môn, có
trình độ đại học (đảng viên có trình độ đại học và thạc sĩ là 121/129 đ/c, chiếm
trên 90% tổng số), nhiều đồng chí đã tốt nghiệp chương trình cao học, có vốn
sống và kinh nghiệm thực tế, tận tụy với công việc, có khả năng đáp ứng và hoàn
thành tốt các công việc được giao.
Cán bộ đảng viên trong Đảng bộ cơ bản xây dựng được bản lĩnh, lập trường tư
tưởng vững vàng, kiên định trước khó khăn, thách thức; có phẩm chất đạo đức tốt,
lối sống lành mạnh; thực hiện đúng các quy định về những điều đảng viên không
được làm, về phòng chống tham nhũng, lãng phí gắn với thực hiện cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy tinh thần đoàn
kết, tương thân, tương ái kịp thời thăm hỏi, động viên lẫn nhau khi ốm đau, khó
khăn, hoạn nạn; luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ được giao, hưởng ứng các phong
trào thi đua, phấn đấu, rèn luyện, vượt qua khó khăn thách thức, hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Nhiều đồng chí đã phấn đấu và được đề bạt giữ các chức vụ
trong quản lý chuyên môn, tham gia cấp ủy cơ sở và được quần chúng tín nhiệm
bầu vào BCH các đoàn thể ở các cấp.
Năm 2015, qua đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm, toàn Đảng bộ có 90%
đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó có 15% - 20% hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng Đảng bộ liên tục đạt danh hiệu tổ chức cơ
sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu, cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ Tỉnh
ủy, HĐND, UBND tỉnh giao.
14
Để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao chất lượng
đội ngũ đảng viên Đảng CSVN nói chung và đảng viên trong Đảng bộ Sở …xin đề
xuất một số giải pháp sau:
Một là: tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt các nội dung nghị quyết Đại hội
XI của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 – Một số vấn đề cấp bách về
xây dựng Đảng hiện nay; tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 03 CT/TW ngày
14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực, đi vào chiều sâu, nêu cao tính gương
mẫu, thực hiện của người đứng đầu các cơ quan đơn vị, của Đảng viên có quyền,
có chức trong thực hiện NQTW 4 và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
tạo chuyển biến rõ nét về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Hai là: Thực hiện tốt việc phân công nhiệm vụ cho Đảng viên theo hướng mỗi
đảng viên đều được phân công một nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với năng lực, sở
trường, sức khỏe; coi trọng việc đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm, tránh hình
thức, cào bằng; gắn đánh giá, xếp loại đảng viên với kết quả thực hiện nhiệm vụ
được giao; biểu dương, khen thưởng kịp thời, xứng đáng những đảng viên có
thành tích tiêu biểu, uốn nắn những biển hiện lệch lạc, xử lý kỷ luật những trường
hợp vi phạm, đảm bảo tính nghiêm minh.
Ba là: Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên, thông qua các phong
trào thi đua; thông qua việc giao nhiệm vụ, tổ chức đảng phát hiện nguồn để bồi
dưỡng, kết nạp quần chúng vào Đảng; chú trọng quan tâm đến đối tượng là thanh
niên, cán bộ nữ, người có trình độ cao; thực hiện tốt công tác kết nạp đảng viên
gắn
với
xây
Năm là: Làm tốt công tác quản lý đảng viên nơi làm việc và nơi cư trú, Chi bộ
nơi đảng viên công tác phải thường xuyên giáo dục, kiểm tra đảng viên về đạo
đức, lối sống bằng nhiều phương pháp, hình thức tác động khác nhau; có trách
nhiệm quản lý toàn diện đảng viên về lập trường, tư tưởng, tinh thần trách nhiệm,
ý thức tổ chức kỷ luật, phong cách và lối sống. Mặt mạnh, yếu của đảng viên
không chỉ thể hiện ra ở nơi công tác mà còn ở những nơi khác, trong đó có nơi cư
trú. Chi bộ nơi đảng viên công tác cần có phương pháp thích hợp, hiệu quả để uốn
nắn, nắm chắc, nắm kịp thời các thông tin cần thiết có liên quan đến phẩm chất
đạo đức của Đảng viên thể hiện trong mối quan hệ giữa đảng viên và gia đình với
việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương và
mối quan hệ của đảng viên với quần chúng nhân dân nơi cư trú.
Chi bộ nơi đảng viên công tác có thể phối hợp với Chi bộ nơi đảng viên cư trú
phát động phong trào quần chúng nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của
đảng viên, góp ý về đảng viên để có đánh giá toàn diện về đảng viên trong công
tác cũng như cuộc sống.
Câu 5: Vai trò của cán bộ và công tác cán bộ của tổ chức cơ sở Đảng
*Khái niệm công tác cán bộ của Đảng
Công tác cán bộ của Đảng thực chất là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, bao gồm
việc đề ra tiêu chuẩn, quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển,
điều động, quản lý, khen thưởng, chính sách đãi ngộ cán bộ... nhằm phục vụ cho
nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời gian nhất định.
Công tác cán bộ của Đảng ở cơ sở là những công việc mà cấp ủy, đảng bộ, chi
bộ tiến hành nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có chất lượng tốt, đảm bảo cho
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị
16
quyết, quyết định của cấp ủy các cấp được thực hiện nghiêm túc và đem lại hiệu
quả thiết thực tại cơ sở.
dân.
- Cán bộ là người trực tiếp điều hành các hoạt động ở xã, phường, thị trấn. Cán bộ
là lực lượng nòng cốt bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong đảng bộ, chi bộ và
nhân dân. Qua cán bộ cơ sở, vai trò lãnh đạo và uy tín lãnh đạo của Đảng được
thể hiện và nâng lên.
- Thực tiễn chỉ rõ nơi nào có cán bộ tốt thì phong trào quần chúng, kinh tế - xã hội
phát triển. Vì thế, Đảng ta khẳng định: “Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt
xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách
có ý nghĩa cách mạng”. “ Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hóa, thể chế hóa và
từng bước nhất thể hóa chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở” ( NQ TW 6 K. X)
* Vai trò của công tác cán bộ ở tổ chức cơ sở đảng
Hồ Chí Minh nêu công tác cán bộ gồm: huấn luyện cán bộ; dạy cán bộ; dùng cán
bộ; lựa chọn cán bộ; cách đối với cán bộ; chính sách cán bộ...
Đảng ta chỉ ra các khâu công tác cán bộ như: xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; quy
hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; nhận xét, đánh giá, luân chuyển; nhân dân tham gia xây
dựng và giám sát cán bộ; kiểm tra; quản lý; chính sách cán bộ.
- Công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng, tạo nên đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ từng thời kỳ cách mạng. Lê nin chỉ rõ muốn có cán bộ tốt phải đào
tạo, bồi dưỡng, tìm ra cán bộ có năng lực tốt để giao trọng trách.
Hồ Chí Minh dạy: “ Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.
- Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của công tác cán bộ và chỉ rõ mục tiêu
xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có chất lượng.
Ở cơ sở cần xác định rõ các chức danh cán bộ chủ chốt, các chức danh chuyên
môn để bố trí đúng người, đúng việc theo tiêu chuẩn và cơ cấu. Các cấp ủy, nhất là
cấp ủy cơ sở phải tiếp tục quan tâm và đổi mới công tác cán bộ nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ có chất lượng tốt.
18
chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ. Phải dựa vào nhân dân để phát hiện,
kiểm tra và giám sát cán bộ.
Thứ sáu, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ
chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị.
LIÊN HỆ. Thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay
- Khái quát đặc điểm tình hình đảng bộ, chi bộ cơ quan
- Ưu điểm:
Về đội ngũ cán bộ ở cơ sở
+ Đã phát huy truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước
số lượng cán bộ xã: Nhìn chung đội ngũ cán bộ cấp xã đáp ứng được yêu cầu
về số lượng;
Lập trường chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng: hầu hết đội ngũ cán
bộ cấp xã đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là những người có uy tín,
được nhân dân tín nhiệm, luôn hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đội
ngũ cán bộ xã phần lớn vững vàng về chính trị, nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện
và trưởng thành từ cơ sở; một số được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn và
lý luận chính trị. Về năng lực lãnh đạo, quản lý và công tác không ngừng được
nâng lên, góp phần thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của địa
phương, cơ sở.
trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị: Đã từng bước được nâng lên đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Công tác đánh giá, qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng: cán bộ có bước chuyển
biến trong nhận thức của cấp uỷ đảng. Bước đầu khắc phục được tình trạng chủ
quan, bị động, chắp vá trong công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ này.
Công tác tạo nguồn qui hoạch cán bộ: được tập trung chỉ đạo và thực hiện có
hiệu quả, đa dạng hoá các loại hình đào tạo theo từng loại đối tượng cán bộ, chú
trọng cả đào tạo lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; quan tâm đào tạo cán
20
21
và phẩm chất đạo đức cách mạng: vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy
thoái về chính trị, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, xa
rời quần chúng nhân dân.
+ Bệnh cơ hôi, CN cá nhân, quan liêu, tham nhũng trong 1 bộ phận CBCC diễn ra
nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi...
Trong công tác cán bộ:
+ Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm khắc phục, nhất là
quản lý giáo dục cán bộ.
+ Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp, quy trình đánh giá, bổ nhiệm, từ chức với
cán bộ
+ Chưa kiên quyết và thiếu những quy chế có hiệu lực để bố trí, sắp xếp lại đội
ngũ cán bộ
+ Chưa có chính sách đủ hiệu lực khơi dậy tài năng, thu hút nhân tài vào các lĩnh
vực quan trọng
+ Chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở các địa phương,
ngành.
- Nguyên nhân
Vẫn còn một số cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vị trí, vai
trò của cán bộ và công tác cán bộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ.
Năng lực nhận thức và tổ chức triển khai các qui chế, qui định, qui trình về
công tác cán bộ của cấp uỷ còn nhiều hạn chế. Sự phối hợp của các cấp, các ngành
và các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa chặt chẽ, thường xuyên.
Sức ép trong việc chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở cơ sở đã gây áp lực rất lớn
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chính sách đối với cán bộ cơ sở chưa
thật sự phát huy hết tài năng, sự sáng tạo của đội ngũ cán bộ. Một bộ phận cán bộ
ở cơ sở thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống nên ý thức
học tập tại các cơ sở đào tạo kém, uy tín đối với quần chúng không cao thậm chí