ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA VĂN – XÃ HỘI
BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Câu hỏi:
1. Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh được tài chính khu vực tư?
Tài chính công chi phối điều chỉnh tài chính khu vực tư như thế nào?
2. Hãy chứng minh bằng lý luận và thực tiễn vai trò quan trọng của ngân
sách nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?
3. Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
Họ và tên
: Đào Thị Mùi
Lớp
: KHQL K8
Mã sinh viên
: DTZ1056120072
Lớp học phần
: Tài chính công - LO2
Thái Nguyên ngày 10/5/2013
Thị trường tài chính gồm có hai bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính ngắn hạn. Thị trường vốn là thị trường tài chính
dài hạn gồm có thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính và thị
trường chứng khoán.
Các tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ tiết kiệm cho nền kinh tế các chi phí
giao dịch và chi phí thông tin, bao gồm các tổ chức tài chính chính thức và các tổ chức
tài chính không chính thức.
Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thương mại, các công ty
tài chính và các quỹ tín dụng. Các tổ chức tài chính không chính thức tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau mà trước hết và quan trọng nhất là các công ty bảo hiểm.
Sơ đồ hệ thống tài chính Việt Nam:
Các định chế
tài chính
Vố
n
Vốn
Vốn
Các định chế cung
Các đinh chế cần
vốn
vốn
-Tài chính công
Các bộ, ngành
Bộ tài chính
Tổng cục thuế
Cục thuế
Kho bạc nhà nước
Khoa bạc NN
tỉnh
Tổng cục QL vốn
Cục quản lý
vốn
T. cục Đ. tư
Ph.triển
Cục đầu tư
Tổng cục hải quan
Cục hải quan
Cục dự trữ quốc
gia
Các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN
-
Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước
-
Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước
Trong các bộ phận cấu thành hệ thống tài chính công thì Ngân sách nhà nước là
bộ phận quan trọng nhất, chi phối các thành tố khác.
Ở đây, cần đề cập đến 3 thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và liên quan trực
tiếp tới tài chính công hiện nay. Đó là NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính
các đơn vị hành chính sự nghiệp.
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu - chi của NSNN thể hiện quá
trình phân phối và phân phối lại một bộ phận giá trị tổng sản phẩm xã hội. Quy mô phân
phối lại phụ thuộc vào mức độ động viên của NSNN.
Về chức năng, NSNN có 3 chức năng cơ bản. Đó là: công cụ thực hiện việc phân
bổ nguồn lực trong xã hội; thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập và chức năng
điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Với các chức năng đó, NSNN tác động trực tiếp
và gián tiếp tới hầu hết các chủ thể, các đơn vị và các tổ chức trong xã hội. Điều này
cũng giải thích tại sao NSNN lại là thành tố quan trọng nhất của tài chính công.
Các quỹ tài chính nhà nước, về nguyên tắc, NSNN phải được quản lý một cách
toàn diện, nhưng không có nghĩa là tất cả các khoản chi phải được quản lý theo quy
trình thống nhất. Vì vậy, ở nhiều nước, một số khoản chi của Chính phủ đã được quản lý
thông qua các quy trình đặc biệt, mà chủ đạo là các quỹ tài chính nhà nước, tạo nên sự
Trong thực tế, NSNN có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính công. Nếu
không có NSNN, thì Tài chính công không thể đáp ứng các nhu cầu về nguồn lực để
Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninh
quốc phòng.
NSNN giúp Tài chính công đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy
Nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy Nhà nước cần phải có nguồn tài
chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước
được đáp ứng bởi NSNN. Vai trò kể trên được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Một là, khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ,
kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.
Hai là, phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được vào tay Nhà nước cho các
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Ba là, kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được
sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
của quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
NSNN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, TCC có vai trò chi phối các hoạt động của khu vực phi Nhà nước
thông qua thu chi NSNN. Một mặt, doanh nghiệp có nhiệm vụ nộp thuế để tạo nguồn
thu NSNN, đóng góp cho việc thực hiện các nhu cầu chung của xã hội. Mặt khác,
với quy mô lớn NSNN, TCC có thể đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội tạo thuận lợi cho kinh doanh sản xuất, đồng thời có thể thực hiện sự trợ giúp về
tài chính nhằm duy trì và đẩy mạnh hoạt động.
Thứ hai, TCC có vai trò hướng dẫn các hoạt động của khu vực phi Nhà nước.
Chẳng hạn, chính sách thuế có tác dụng hướng dẫn đầu tư, hướng dẫn tiêu dùng, đầu tư
của Nhà nước có tác dụng “châm ngòi” thu hút đầu tư và hướng dẫn đầu tư của khu vực
phi Nhà nước…
Thứ ba, TCC có vai trò điều chỉnh các hoạt động của khu vực phi Nhà nước. Vai
trò này được thể hiện, thông qua hoạt động kiểm tra NSNN có thể phát hiện những
công cụ chi NS vào việc trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu và trợ cấp xã hội cho
những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.
Trong việc giải quyết các đề xã hội, NSNN được sử dụng để tài trợ cho phát triển
các dịch vụ công cộng như văn hoá, giáo dục, y tế, đặc biệt là dịch vụ nhà ở, tài trợ cho
việc thực hiện các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; hỗ trợ tài chính cho việc
thực hiện các biện pháp phòng chống các tệ nạn xã hội; hỗ trợ tài chính cho giải quyết
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp...
Thứ ba, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định của
kinh tế vĩ mô.
Sự phát triển ổn định của một nền kinh tế được đánh giá trên nhiều tiêu chí như:
Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng lao động
ở tỷ lệ cao; thực hiện được cân đối cán cân thanh toán quốc tế; hạn chế sự tăng giá đột
ngột, đồng loạt và kéo dài tức là cầm giữ được lạm phát ở mức vừa phải…
Do đó, NSNN luôn là biện pháp để TCC can thiệp kịp thời vào thị trường bằng
cách : Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó với
những biến động của thị trường; tạo lập quỹ bình ổn giá; tạo lập và sử dụng quỹ quốc
gia hỗ trợ việc làm…
Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, biện pháp đưa ra là: Cắt giảm chi
tiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư; …
Tóm lại, vai trò của TCC là rất quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi
nước. Để phát huy hết vai trò của TCC, thì NSNN chính là nội dụng quan trọng hàng
đầu đảm bảo cho TCC thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của NN, giúp phát triển
kinh tế, ổn định xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng.
4.
Tính quyền lực của tài chính công
Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước phản ánh các
mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ
tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối
hiệu quả kinh tế - xã hội không được đảm bảo.
Phân phối thu nhập không công bằng. Sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn
đến sự phân hóa giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình
người.
Một nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết thuần túy khó tránh khỏi những
thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chất chu kỳ và thất nghiệp.
Nguyên nhân dẫn đến những thất bại, khuyết tật của thị trường là do: Sức mạnh
thị trường; Thông tin không hoàn hảo; Ngoại ứng; Cung cấp hàng hóa công cộng; Phân
phối thu nhập không công bằng…
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận
hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, trong đó, Chính phủ đóng vai
trò đặc biệt quan trọng.
Chính phủ là tổ chức mang tính giai cấp được thiết lập để thực thi những quyền
lực nhất định, điều tiết hành vi của các tổ chức cá nhân sống trong xã hội, nhằm phục vụ
lợi ích chung của xã hội đó và tài trợ cho việc cung cáp những hàng hoá dịch vụ thiết
yếu mà xã hội có nhu cầu.
Chính phủ thể hiện vai trò điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trường
trong việc can thiệp vào những nội dung như: Đánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm; Qui
định chuẩn ô nhiễm; Thu phí gây ô nhiễm; Cấp giấy phép xả chất thải, có thể mua, bán,
chuyển nhượng được.
Ví dụ như vụ Công ty Vedan Việt Nam vi phạm các quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường xả nước thải ra sông Thị Vải gây ô nhiễm môi trường. Và ngày 6
tháng 10, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính về bảo vệ môi trường đối với Vedan với tổng số tiền phạt là 267,5 triệu
đồng, buộc truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỉ đồng.
Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện các giải phát khác can thiệp vào vấn đề môi
trường như xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng khu công nghiệp xa khu dân
cư, xây dựng kỹ thuật xử lý rác thải…
Một vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc can thiệp vào vấn đề bảo vệ môi
trường đó là việc đánh thuế về môi trường. Tác động của thuế là đánh vào ý thức bảo vệ
đa dạng trong nền kinh tế.
* Tài chính của các tổ chức xã hội dân cư
Bao gồm tài chính của các tổ chức chính trị, xã hội các đoàn thể xã hội được
NSNN Nhà nước đảm bảo, còn kinh phí của các tổ chức khác, các hội nghề nghiệp sẽ
hoạt động bằng nguồn đóng góp hội phí, quyên góp ủng hộ của dân cư, các tổ chức xã
hội và các tổ chức trong hộ gia đình, các quỹ tiền tệ hình thành từ thu nhập tiền lương
của các thành viên trong gia đình do lao động sản xuất kinh doanh hoặc do thừa kế tài
sản.
Đặc trưng của khâu tài chính này kà các quỹ tiền tệ chủ yếu chi cho tiêu dùng.
Khi nhàn rỗi có thể tham gia thị trường tài chính qua các định chế tài chính trung gian
hoặc có thể góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu
* Tài chính các doanh nghiệp
Bao gồm: tài chính các đơn vị, các tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
thuộc mọi thành phần kinh tế
Trong hệ thống tài chính nước ta, ngân sách giữ vai trò chủ đạo. Các định chế tài
chính trung gian có vai trò hỗ trợ. Tài chính đôi với các tổ chức xã hội và hộ dân cư bổ
sung nhằm tăng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế, còn tài chính doanh nghiệp là khâu
cơ sở của cả hệ thống. Sự hoạt động có hiệu quả của tài chính doanh nghiệp có tác dụng
củng cố hệ thống tài chính quốc gia.
Trong hệ thống tài chính quốc gia, tài chính công giữ vai trò trung tâm điều tiết
chung nền kinh tế - xã hội. Tài chính công có thể tác động tích cực kích thích hoặc tác
động tiêu cực kìm hãm sự phát triển của tài chính khu vực tư trong đó có tài chính các
doanh nghiệp và tài chính các tổ chức xã hội dân cư.
Cụ thể, Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp
chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đã
đưa ra chủ trương “thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ…”. Trong quá trình thực hiện
chủ trương này, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của chính sách này là tình trạng
khát vốn của nền kinh tế đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình cảnh khó khăn.
của các DN Việt Nam hai năm qua rất rủi ro. Theo báo cáo tại hội nghị đầu tư 2012 do
báo Nhịp cầu Đầu tư tổ chức ngày 16/8/2012, tại TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ phải trả trên
vốn chủ sở hữu bình quân quý II/2012 của 647 công ty phi tài chính niêm yết, lên tới
1,53 lần, ngành xây dựng và bất động sản tổng nợ phải trả gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu
(207%) và thấp nhất là ngành hàng tiêu dùng với 80%.
Cũng theo báo cáo khảo sát của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho
thấy 16% trong số 70 DN khảo sát đang nằm trong tình trạng phải gia hạn nợ gốc và lãi
vay. Điều này dẫn đến nợ xấu của các NHTM gia tăng.
Theo số liệu của NHNN, nợ xấu năm 2009 của Việt Nam vào khoảng 45.000 tỷ
đồng, chiếm tỷ lệ 2,5% tổng dư nợ, năm 2010 khoảng 38.000 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 2,1%,
năm 2011 khoảng 78.000 tỷ đồng, chiếm 3,2%, đến tháng 3/2012 là 202.000 tỷ đồng,
chiếm 8,6% tổng dư nợ (số liệu công bố ngày 12/7/2012 của NHNN). Nợ xấu là nguyên
nhân cơ bản làm các luồng vốn trong nền kinh tế bị tắc nghẽn, dòng tiền không luân
chuyển được càng làm cho trình trạng khó khăn thêm trầm trọng.
Một ví dụ khác về chính sách tăng giá điện trong năm 2011 của Chính phủ. Đó là
lần đầu tiên, giá điện tăng tới 2 lần trong một năm, tổng tăng 20,28%. Lần thứ nhất, mức
tăng là 15,28% vào ngày 1/3, cao nhất kể từ năm 2006 so với suốt 4 năm qua.
Sau đó, Chính phủ đã giao quyền cho EVN được tự được tăng giá điện trong
phạm vi 5%, 3 tháng mỗi. Và EVN đã thực thị điều đó một cách rất hiệu quả. Ngày
19/12, EVN bất ngờ thông cáo tăng 5% và áp dụng ngày vào hôm sau 20/12/2011. Cú
tăng giá này khiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội không còn cơ hội bày tỏ
ý kiến như những lần trước. Điều này đã gay khó khăn đến đời sống sinh hoạt của người
dân đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất cần sủ dụng nhiều điện năng.
Một chính sách về thuế khác trong năm 2011 đã khiến nhiều doanh nghiệp oto
định rời bỏ Việt Nam. Đó là việc giữa năm 2011, cơ quan hải quan phát lệnh truy thu
thuế nhập khẩu linh kiện ô tô tới hàng loạt hãng xe liên doanh trong nước. Theo đó,
hãng xe ô tô Honda Việt Nam sẽ bị truy thu tới 3.340 tỷ đồng, Ford Việt Nam khoảng
32 tỷ đồng, Toyota khoảng 2,7 tỷ đồng... Hãng bị "nặng" nhất là Honda bắt đầu lên
năm 2002).
2. Vai trò của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với nền kinh tế
mỗi quốc gia. Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các
nhu cầu chi tiêu của nhà nước, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vai trò thứ nhất: ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm
bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Đây là vai trò lịch sử mà trong bất kỳ cơ chế nào, thời đại nào ngân sách nhà
nước cũng cần thực hiện. Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân
sách nhà nước do mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của nhà nước để thực hiện mục tiêu
xác định đều cần đến nguồn tài chính từ việc thu thuế và các hình thức thu ngoài thuế.
Tuy nhiên, việc huy động nguồn tài chính này cần phải quan tâm đến ba vấn đề
cơ bản. Đó là:
Một, mức động viên vào ngân sách nhà nước đối với các thành viên trong xã hội
bằng hình thức thu thuế và ngoài thuế cần phải hợp lý. Mức thu cao hay thấp đều có tác
động tiêu cực.
Hai, tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với GDP vừa đảm bảo hợp lý với
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ
vốn để mở rộng, tái sản xuất.
Ba, các công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
và thực hiện các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước.
Vai trò thứ hai: Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã
hội, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vai trò này xuất hiện trước nhu cầu cần khắc phục những khuyết điểm của kinh tế
thị trường, giúp cho nền kinh tế phát triển cân đối và hợp lý. Nhà nước thực hiện vai trò
này trong hoạt động thu, chi ngân sách. Cụ thể trong những lĩnh vực kinh tế - xã hội
sau:
chính sách bình ổn giá cả thị trường, chống lạm phát.
Nhà nước sử dụng những công cụ về chính sách chi ngân sách, thuế, phí, lệ phí,
vay để có thể chủ động điều chỉnh giá cả và thị trường.
Những chính sách đó có thể thắt chặt hay nới lỏng tùy thuộc vào mục đích và
mức độ tác động đến cung – cầu thị trường mà nhà nước mong muốn điều chỉnh.
Việc huy động của ngân sách nhà nước từ các hình thức thuế, phí, lệ phí, vay, bảo
hiểm xã hội trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn,
vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ
khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của dân cư giảm
xuống nhưng ngân sách nhà nước lại có điều kiện tăng cầu với quy mô lớn và chi cho
đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung.
Ngược lại, nếu ngân sách nhà nước huy động trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng
thấp thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung, đồng thời kích thích tăng cầu về
hàng hóa, dịch vụ nhưng ngân sách lại không có điều kiện để tăng cầu và chi cho đầu tư.
Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ tác động tăng cung
ứng vốn từ các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng cho tương lai và làm giảm lượng cầu
về vốn đầu tư của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Khi lãi suất các khoản vay của nhà nước giảm xuống dưới mức lợi tức bình quân
toàn xã hội, các nhà đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ mà không muốn cho nhà nước vay.
Mặt khác, lãi suất các khoản vay của nhà nước có vị trí quan trọng trên thị trường
chứng khoán có thể tham gia điều tiết quan hệ cung – cầu trên thị trường chứng khoán.
Dự trữ nhà nước đóng vai trò không thể thiếu nhất là trong cơ chế thị trường. Giá
cả do thị trường quyết định, phụ thuộc và quan hệ cung – cầu và các yếu tố khác. Để
bảo vệ lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, kích thích sản xuất phát triển nhà
nước cần theo dõi biến động giá cả trên thị trường và phải có nguồn dự trữ hàng hóa, tài
chính để điều chỉnh kịp thời.
Chống lạm phát là nội dung quan trọng trong việc điểu chỉnh thị trường. Có nhiều
nguyên nhân gây ra lạm phát trong đó có nguyên nhân xuất phát từ lĩnh vực thu chi
ngân sách nhà nước. Nếu đồng vốn ngân sách được sử dụng hợp lý, hiệu quả thì sẽ có
Bộ &
CQ
ngang
Bộ
Ngân sách huyện & cấp tương đươc
Ngân sách xã & cấp tương đương
Trước đổi mới, xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề, hầu hết các khoản tích lũy cho đầu tư đều phải dựa vào các nước
xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, thu chi ngân sách mất cân đối
lại dựa vào phát hành tiền để bù đắp thâm hụt nên gây ra tình trạng lạm phát và nền kinh
tế khủng hoảng trầm trọng.
Thu chi ngân sách của Chính phủ trong thời kỳ này mang nặng tính bao cấp,
nguồn thu eo hẹp, quy mô nhỏ nhưng phải chịu gánh nặng từ hầu hết các nhu cầu chi
tiêu của nền kinh tế - xã hội. Do phải chi tiêu phục vụ khôi phục và xây dựng hạ tầng cơ
sở kinh tế và đẩy mạnh năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhà nước nên tổng chi ngân
sách nhà nước so với thu nhập quốc dân luôn ở mức cao, lớn hơn tổng thu rất nhiều.
Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng nề, tổng thu ngân sách luôn thấp hơn rất nhiều so
với nhu cầu chi tiêu.
Toàn bộ nguồn vốn chi đầu tư phát triển đều phải dựa vào nguồn vốn viện trợ và
vay nợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũng như từ nguồn phát hành tiền của
ngân hàng nhà nước.
Nhu cầu chi NSNN rất lớn trong khi nguồn thu hạn hẹp dẫn đến thâm hụt trầm
trọng NSNN. Thâm hụt NSNN giai đoạn 1976-1980 là 28%, giai đoạn 1981-1985 là
14%. Việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách đã dẫn đến lạm phát phi mã vào
giữa những năm 80 buộc Nhà nước phải tiến hành cải cách. Nhưng cuộc cải cách giálương-tiền năm 1985 không những không cải thiện được tình hình mà còn làm cho nền
kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng hơn.
mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Giai đoạn này nguồn vốn chi đầu tư phát triển từ NSNN tuy còn hạn hẹp nhưng
vốn đàu tư của toàn xã hội đã tăng nhanh đáng kể. Ngoài nguồn vốn chi từ NSNN còn
huy động được nguồn vốn từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Bên cạnh đó, đầu tư
gián tiếp của Nhà nước thông qua cơ chế để lại khấu hao cơ bản cho các doanh nghiệp
nhà nước, cấp lại một số tiền thuế, để lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, miễn thuế cho các
doanh nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động. Đồng thời với chính sách huy động vốn
đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng mức đầu tư xã hội lên cao.
NSNN được sử dụng để kích thích nền kinh tế phát triển hoặc hình thành cơ cấu
kinh tế mới, hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính
phủ đã hoạch định thông qua các hoạt động như:
Dùng vốn NSNN để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, điện,
nước thuỷ lợi… Đây là những lĩnh vực rất cần cho sự phát triển kinh tế xã hội nhưng tư
nhân không muốn đầu tư (do tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn chậm) hoặc
không đủ khả năng (về vốn và trình độ) để đầu tư.
Ví dụ : Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) là công trình trọng điểm quốc
gia, nhằm hình thành ngành công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam, tạo điều kiện cho
phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ liên quan. Công trình còn góp phần
thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của miền Trung, từng bước tạo ra sự
phát triển kinh tế cân đối giữa các vùng, miền trong cả nước. Điều này đáp ứng mục tiêu
vừa phát triển kinh tế vừa ổn định xã hội của Chính phủ. Hơn nữa, Công trình trọng
điểm quốc gia về dầu khí này cho phép chúng ta chế biến và gia tăng giá trị dầu thô khai
thác trong nước, hạn chế nhập siêu và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng
dầu từ nước ngoài, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng. Năm 2010, tính từ khi
bàn giao, NMLD Dung Quất đạt doanh thu 60.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 10.000 tỷ
đồng, sản phẩm đáp ứng 30% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
Hay cụm công trình công nghiệp khí-điện-đạm Cà Mau có tổng giá trị hơn 1,2 tỷ
USD cung cấp điện năng cho đất nước. Đây là công trình trọng điểm có ý nghĩa cả về
62,1%; triển khai việc xuất 5.000 tấn gạo quà tặng đến nhân dân Triều Tiên; xuất 4.000
tấn gạo viện trợ cho các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An khắc phục hậu quả thiên tai; mua
vật tư, thiết bị, đã nhập được 185.000 chiếc phao tròn tại các đơn vị; thương thảo hợp
đồng với các nhà thầu trúng thầu cung cấp thiết bị chữa cháy rừng, nhà bạt nhẹ theo kết
quả đấu thầu được Bộ phê duyệt.
Tính đến ngày 25/3/2013, Tổng cục dự trữ quốc gia đã hoàn thành việc xuất cấp
29.092 tấn gạo hỗ trợ cho các địa phương, trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm
2013 và 750 tấn gạo (đợt 1) cho Dự án Đầu tư và phát triển rừng, tại 4 huyện vùng cao
núi đá tỉnh Hà Giang.
Bình ổn giá cả hàng hoá để ổn định thị trường. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt
hàng quan trọng, mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều
chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia
Ví dụ: Bộ Công Thương ban hành văn bản số 3705/BCT-CNNg triển khai
thực hiện các biện pháp bình ổn giá cả mặt hàng thép, góp phần kiềm chế lạm phát
trong năm 2010.
Bình ổn giá xăng trong cuối năm 2010 để tránh việc giá cả các mặt hàng
khác tăng nhanh trong dịp tết, tranh nguy cơ lạm phát trong đầu năm 2011.
Cấp tín dụng ưu đãi hoặc mua lại các doanh nghiệp có vị trí quan trọng đang gặp
khó khăn, có nguy cơ giải thể hoặc phá sản.
Kinh tế Việt Nam đang ở trong thời kỳ cuối của giai đoạn suy thoái kinh tế.
Chính phủ đã buộc phải tung ra các gói cứu trợ để kích thích nền kinh tế đang suy
yếu.Trong vòng 5 năm trở lại đây, chính phủ Việt Nam đã hai lần tung ra các gói cứu
trợ để kích thích nền kinh tế sau khi thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ để chống
lạm phát.
Nhà nước đã tung ra các gói kích cầu kinh tế như gói hỗ trợ lãi suất 160.000 tỷ
đồng đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng năm 2009 và gói kích cầu miễn giảm thuế cho
doanh nghiệp 29.000 tỷ đồng năm 2012.
Gần đây nhất, ngày 7/01/2013 Chính phủ ra Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số
Chi trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản
chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ,…
Chi hỗ trợ việc làm cho người nghèo, người tàn tật qua tín dụng ưu đãi.
Thông qua thuế thu nhập, thuế lợi tức nhằm điều tiết thu nhập cao để phân phối
lại cho các đối tượng có thu nhập thấp, góp phần giảm bớt khoảng cách giàu nghèo.
Về nội dung và cơ cấu chi đầu tư phát triển đã từng bước thay đổi theo hướng phù
hợp với yêu cầu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành
phần. Một xu hướng mới đang hình thành: chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn tập trung
của nhà nước được dành chủ yếu để xây dựng cơ sở hạ tầng và những khu vực đặc biệt
khó khăn hoặc không thu hồi được vốn. Trong thời kỳ 1991-1995 tỷ trọng chi đầu tư
xây dựng cơ bản bình quân là 85,2% chi đầu tư phát triển, đến năm 1996 tỷ lệ này đã
tăng lên 92,1%, năm 1999 tăng lên 93,2%.
Hiệu quả và tác động của chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN đến kinh tế xã hội được thể hiện ở những mặt sau đây:
Về hiệu quả kinh tế:
Đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN có tác động vào phát triển GDP kinh tế nhà
nước. Giai đoạn 2006-2008 và 2009-2010 hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn
NSNN đối với việc phát triển GDP kinh tế nhà nước có xu hướng tăng. Giai đoạn 20052006 và 2008-2009 hiệu quả giảm, đặc biệt giai đoạn 2008-2009 hiệu quả giảm rõ rệt.
Nhìn chung cả giai đoạn 2005-2010 hiệu quả tăng, giảm thiếu ổn định và ngày càng có
xu hướng giảm dần với tốc độ lớn trong việc đóng góp vào phát triển GDP kinh tế nhà
nước.
Đối với đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN theo số liệu Niên giám thống kê
Việt Nam giai đoạn 2005-2010, kết quả cho thấy ICOR kinh tế nhà nước đã tăng rất
nhanh và tăng liên tục từ 6,81 năm 2005 lên 10,24 năm 2010, có năm tăng đến 12, 37
(năm 2009). ICOR khu vực vốn đầu tư phát triển từ NSNN tăng nhanh và cao như vậy,
giai đoạn 2005-2010 đầu tư phát triển từ vốn NSNN kém hiệu quả.
Chi đầu tư phát triển tới hiệu quả xã hội trong giai đoạn 2006-2008 và 2009-2010
có tác động làm tăng mức sống của người dân còn giai đoạn 2005-2006 và 2008-2009