Luận văn thạc sỹ ngành kinh tế lý luận Đại học khoa học xã hội và nhân văn: Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương - Pdf 37

Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
tỉnh Hải Dương
Vũ Trường Giang
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Luận văn ThS ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Vũ Văn Hiền
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và
đô thị hóa (ĐTH). Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất ở tỉnh Hải Dương. Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
Keywords: Nông dân; Đất đai; Việc làm; Kinh tế lao động; Hải Dương
Content
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang diễn ra ở
hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với tốc độ ngày càng cao. Theo quy luật chung,
quá trình CNH, HĐH và ĐTH sẽ dẫn đến việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô
thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Để có tiền đề về vị trí, đất đai
phục vụ xây dựng các KCN, KĐT và các công trình công cộng, Nhà nước đã tiến hành
thu hồi nhiều khu đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp giao cho các chủ đầu tư để
thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng... Điều đó đã gây ảnh
hưởng lớn đến việc làm và đời sống của người dân khu vực thu hồi đất.
Hải Dương là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang trong quá trình
CNH, HĐH và ĐTH. Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020 phấn đấu trở
thành tỉnh có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, trong những năm qua Hải
Dương đã triển khai thực hiện nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội như: chỉnh trang đô
thị; xây dựng mới công sở; mở rộng hạ tầng giao thông; xây dựng khu dân cư, khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất... Điều đó đã giúp cho Hải Dương đạt được



tốt hơn vấn đề này ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.


* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho nông dân bị thu
hồi đất trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải
Dương.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn là đội ngũ đông đảo nông dân bị thu hồi
đất phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở tỉnh Hải Dương, đồng thời
nghiên cứu những vấn đề có liên quan.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh
Hải Dương từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm để nghiên
cứu đề tài này.
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
phương pháp nghiên cứu Kinh tế Chính trị học, tác giả sử dụng tổng hợp các phương
pháp: lịch sử - lôgic, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh… các phương pháp này được
sử dụng phù hợp với từng nội dung trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần làm rõ ý nghĩa Kinh tế Chính trị của vấn đề việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về

- Thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý.
1.1.2. Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá - quá trình tất yếu trong phát triển
kinh tế nước ta.


- Tầm quan trọng của thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH
- Tác động của thu hồi đất đến việc làm của nông dân
+ Tác động tích cực
Một là, CNH, HĐH và ĐTH tạo mở nhiều việc làm mới trong các lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ.
Hai là, CNH, HĐH và ĐTH làm tăng số chỗ việc làm tại khu vực kinh tế không
chính thức.
Ba là, CNH, HĐH và ĐTH mở rộng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc
làm của người lao động.
+ Tác động tiêu cực
Thứ nhất, một bộ phận người lao động diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình
trạng thất nghiệp.
Thứ hai, một bộ phận người lao động không kịp đáp ứng yêu cầu về trình độ sản
xuất.
Thứ ba, tệ nạn xã hội trong các vùng bị thu hồi đất có chiều hướng gia tăng.
Thứ tư, do những bất hợp lý trong việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho nông
dân bị thu hồi đất, tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp của nông dân xảy ra ngày
càng nhiều.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho nông dân
Đất đai, điều kiện tự nhiên
Chất lượng lao động
Sự phát triển của thị trường sức lao động
Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội

- Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề,
tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ.
- Giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để xây dựng
KCN, KĐT.
1.2.4. Bài học rút ra cho tỉnh Hải Dương
- Công khai quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, cần chi tiết quy hoạch theo từng địa
phương.
- Tạo vệc làm tại chỗ cho những lao động bị thu hồi đất tuổi đã cao, lao động nữ
khó chuyển đổi nghề bằng các hình thức phát triển các làng nghề truyền thống, cấp đất
dịch vụ không thu tiền cho các hộ theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi sao cho phù hợp với quỹ
đất của địa phương.


- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng các loại cây trồng, vật
nuôi có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất sản xuất, khả
năng quay vòng vốn nhanh.
- Quy định và khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức đóng trên địa bàn có
đất bị thu hồi ưu tiên sử dụng lao động địa phương bằng các cơ chế, chính sách ưu đãi
phù hợp.
- Đầu tư phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, đa dạng hoá các hình thức đào tạo
nghề cho con em nông thôn, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về cung – cầu trên thị
trường lao động cho người dân và các chủ sử dụng lao động. Mở rộng và phát triển các
cơ sở đào tạo nghề, các trung tâm hỗ trợ và giới thiệu việc làm.
- Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao tiến bộ
khoa học - công nghệ, hỗ trợ vốn, kỹ thuật sản xuất cho nông dân.

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HẢI DƢƠNG
2.1. Tình hình thu hồi đất ở Hải Dƣơng
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương

lượng chỗ việc làm trong nền kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, xét về
mặt cơ cấu thì tỷ lệ chỗ việc làm trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ
cao và có xu hướng giảm dần từ 69,41% năm 2002, xuống 59,7% năm 2007, tỷ lệ chỗ
việc làm trong ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên tương ứng là: công
nghiệp - xây dựng từ 14,05% năm 2002 lên 21,2% năm 2007 và dịch vụ từ 16,52% năm
2002 lên 19,1% năm 2007. Thành phần kinh tế cá thể tạo ra số lượng chỗ việc làm nhiều
nhất (chiếm tỷ lệ 77,2%), tiếp theo là thành phần kinh tế tư nhân (9,0%), kinh tế tập thể
(6,5%), kinh tế nhà nước (5,2%) và ít nhất là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài (2,1%).
Xét về cơ cấu việc làm theo khu vực nông thôn - thành thị: Trong những năm gần
đây số lượng chỗ việc làm ở khu vực nông thôn và thành thị có xu hướng tăng về số tuyệt
đối nhưng tỷ lệ chỗ việc làm do khu vực thành thị tạo ra còn rất thấp so với khu vực nông
thôn.
Về số lượng chỗ việc làm của lao động ngành nông nghiệp: Chỗ việc làm của lao
động nông nghiệp tỉnh Hải Dương những năm qua thay đổi theo hướng tích cực. Theo đó,
số lượng chỗ việc làm của lao động nông nghiệp tăng lên tuyệt đối từ 601.038 chỗ năm


2002 lên 660.639 chỗ năm 2007, tỷ trọng việc làm tương đối trong tổng số chỗ việc làm
của toàn tỉnh giảm từ 69,41% năm 2002 xuống còn 59,7% năm 2007.
Về tỷ lệ lao động nông nghiệp thiếu việc làm: Theo báo cáo của Sở LĐTB-XH
Hải Dương, năm 2007 toàn tỉnh có khoảng 21.696 lao động nông nghiệp bị thiếu việc
làm, chiếm 61,54% trong tổng số lao động thiếu việc làm của toàn tỉnh. Nhìn chung so
với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng thì tỷ lệ lao động nông nghiệp thiếu
việc làm của Hải Dương thấp hơn. Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng trong khu vực
nông thôn trong những năm gần đây ở Hải Dương có xu hướng tăng lên từ 77,92% năm
2000 đến 81% năm 2008.
* Tình hình kinh tế - xã hội
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) giai đoạn 2006 – 2010 tăng bình quân 9,8%/năm,
cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Quy mô kinh tế của tỉnh từng bước được

Địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất trong tỉnh là Thành phố Hải Dương.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, nhiều khu đô thị trên địa bàn thành phố Hải Dương được
đầu tư xây dựng với diện tích hơn 700 ha…
Ở các huyện khác trong toàn tỉnh, tốc độ CNH và đô thị hóa cũng diễn ra khá
nhanh với việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; xây dựng các khu đô
thị mới; mở rộng các thị trấn, thị tứ hiện có.
Để có đất đai phục vụ xây dựng các KCN, CCN, KĐT và hệ thống hạ tầng kinh tế
- xã hội đã nêu trên, chính quyền tỉnh Hải Dương đã tiến hành thu hồi một lượng lớn diện
tích đất nông nghiệp giao cho chủ đầu tư để triển khai các dự án. Tính đến 2009, Hải
Dương đã thu hồi 5.963 ha đất nông nghiệp (giai đoạn 2001-2005 là 2.503 ha) để xây
dựng các KCN, CCN, KĐT... Việc thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương
từ năm 2001 đến nay đã ảnh hưởng trực tiếp đến 54.326 hộ gia đình có đất bị thu hồi với
tổng số lao động 113.142 người.
2.2.Tình hình việc làm của nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dƣơng
2.2.1. Chủ trương, chính sách và các chương trình dự án đã thực hiện để giải
quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Các chủ trương, chính sách của tỉnh Hải Dương đối với nông dân bị thu hồi đất
xoay quanh các vấn đề sau:
+ Công khai trình tự, thủ tục thu hồi đất trên địa bàn tỉnh và ban hành khung giá
đất theo thời gian và địa điểm cụ thể, qua đó áp dụng để bồi thường cho người dân khi
nhà nước thu hồi đất.


+ Thực hiện hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề trong nước cho các doanh nghiệp đóng
trên địa bàn tỉnh sử dụng lao động địa phương thông qua các Trung tâm dạy nghề của
tỉnh.
+ Ưu tiên hỗ trợ cho các hộ nông dân bị thu hồi đất được vay vốn với lãi suất ưu
đãi để giải quyết việc làm, học nghề và chuyển đổi nghề và xuất khẩu lao động.
+ Hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động thông qua các quỹ khuyến công, khuyến nông
và thực hiện xã hội hoá công tác dạy nghề.

trên 35 tuổi. Có một số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào các KCN, cụm CN hoặc đi
lao động xuất khẩu.
2.3. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải
Dƣơng
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, đã từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bồi thường, hỗ
trợ khi nhà nước thu hồi đất, tạo nhiều cơ hội thận lợi hơn cho người dân trong tự tạo
hoặc tìm kiếm việc làm.
Thứ hai, tạo cơ hội nhiều hơn cho người lao động được tham gia học nghề, giải
quyết việc làm sau đào tạo.
Thứ ba, giải quyết việc làm thông qua việc thực hiện các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội.
Thứ tư, từng bước nâng cao khả năng giải quyết việc làm trên thị trường lao động
thông qua hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, hệ thống thông tin thị trường lao động.
Thứ năm, vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất đã được Đảng, Nhà nước và
các cấp, các ngành, đoàn thể xã hội tỉnh Hải Dương quan tâm.
2.3.2. Một số tồn tại, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
* Tồn tại
Thứ nhất, số lao động thiếu việc làm và thất nghiệp cao và có xu hướng tăng lên.
Thứ hai, khả năng tạo việc làm từ các dự án thu hồi đất thấp.
Thứ ba, thu nhập của người lao động nông nghiệp rất thấp và có chiều hướng giảm
so với trước khi bị thu hồi đất.
Thứ tư, số lao động tự tạo việc làm và chuyển đổi được việc làm chưa nhiều.
*Nguyên nhân
- Nguyên nhân từ phía chính quyền địa phương:
Quy hoạch sử dụng đất của Hải Dương chưa tính đến giải quyết việc làm mà chỉ


quan tâm đến mục tiêu phát triển các KCN, CCN, KĐT và hệ thống hạ tầng cơ sở.
Gía đền bù khi thu hồi đất chưa thoả đáng dù nằm trong khung chuẩn do Nhà nước


Thứ sáu, đối với những người chưa đến tuổi lao động như trẻ em, học sinh và
những người lao động già yếu việc thu hồi đất sẽ làm cho họ bị mất hoặc giảm đi nguồn
thụ hưởng chính từ việc sản xuất kinh doanh của gia đình họ trên mảnh đất bị thu hồi.

Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HẢI DƢƠNG
3.1. Phƣơng hƣớng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải
Dƣơng
3.1.1. Dự báo nhu cầu thu hồi đất và số người mất việc làm do thu hồi đất ở Hải
Dương trong thời gian tới
Theo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp đến năm 2015 và định hướng đến
năm 2020 được Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương khoá XIV kỳ họp thứ 11 thông qua,
đến năm 2015 diện tích đất nông nghiệp của tỉnh còn lại là 98.000ha, năm 2020 là 95.859
ha và diện tích đất nông nghiệp thu hồi giai đoạn 2011 - 2020 là 5.808 ha .
Nếu giai đoạn 2001 – 2005, trung bình ở Hải Dương cứ thu hồi 1 ha đất nông
nghiệp sẽ có khoảng 10,18 lao động bị thiếu việc làm và thất nghiệp thì từ năm 2011 đến
2020êsex có khoảng 59.125 lao động bị thu hồi đất có nhu cầu giải quyết việc làm.
3.1.2. Quan điểm, định hướng về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất ở Hải Dương
* Quan điểm
Thứ nhất, thu hồi đất phục vụ CNH, HĐH và ĐTH là rất cần thiết, người bị thu
hồi đất là người đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước về đền bù, hỗ trợ nông dân bị
thu hồi đất phải nhằm tạo cho họ cơ sở kinh tế mới, việc làm mới và thu nhập bảo đảm
đời sống bằng hoặc tốt hơn trước khi bị thu hồi đất.
Thứ ba, kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia, lợi ích của người dân bị thu hồi đất
và lợi ích của doanh nghiệp.
Thứ tư, đảm bảo việc làm, thu nhập, đời sống cho người dân bị thu hồi đất là một

Một là, tăng cường công tác giáo dục, khuyến khích các phong trào học tập để
thanh niên đến tuổi lao động có đủ trình độ văn hoá để theo học các trường đại học, cao
đẳng và học nghề.


Hai là, tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy phù hợp
với công nghệ hiện đại, tiếp cận với các thiết bị mà các cơ sở sản xuất đang sử dụng cho
cơ sở dạy nghề.
Ba là, nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Đào tạo nghề cần gắn với giải quyết việc
làm, phù hợp với cơ sở sử dụng lao động, đáp ứng được yêu cầu phát triển của địa
phương.
Bốn là, xã hội hoá các hoạt động dạy nghề. Xã hội hoá hoạt động dạy nghề là giải
pháp quan trọng trong việc huy động các nguồn lực đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân
lực cho công cuộc CNH, HĐH.
* Mở rộng hệ thống dịch vụ việc làm
Đối với lao động nông thôn nói chung và lao động nông nghiệp bị thu hồi đất ở
Hải Dương nói riêng, một trong những vấn đề khó khăn cho họ khi tìm kiếm việc làm là
khả năng tiếp cận các dịch vụ việc làm kém. Để tạo điều kiện cho họ hưởng thụ các dịch
vụ như thông tin về cung - cầu lao động, tư vấn, định hướng nghề nghiệp... trong những
năm tới tỉnh cần:
Củng cố và mở rộng hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm đến từng
huyện, xã trong tỉnh.
Tổ chức các phiên chợ việc làm tại các vùng bị thu hồi đất nông nghiệp để tạo điều
kiện cho người lao động, người sử dụng lao động, các trung tâm giới thiệu việc làm, các
cơ sở đào tạo nghề trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi thông tin nhu cầu lao động - việc
làm.
3.2.3. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo mở việc làm
* Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Phát triển công nghiệp
Tỉnh cần đẩy nhanh phát triển CN-TTCN và coi đó là khâu đột phá để chuyển dịch

Xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng góp phần giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động,
góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động nông thôn bị
thu hồi đất nói riêng, trong thời gian tới Hải Dương cần chú trọng đến một số nội dung
công tác sau:
Thứ nhất, khảo sát và nắm bắt kịp thời thông tin về nhu cầu thị trường xuất khẩu
lao động.
Thứ hai, làm tốt công tác chuẩn bị lao động xuất khẩu.
3.2.5. Tạo cơ chế chính sách kinh tế -xã hội đối với lao động lớn tuổi, lao động


nữ
Để giải quyết việc làm cho nhóm lao động cao tuổi, lao động nữ và nhóm lao động
có trình độ văn hoá thấp cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp: phát triển các
ngành nghề thủ công truyền thống, nghề phi nông nghiệp ở nông thôn; Mở rộng đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống cho dân cư để tạo nhiều việc làm
trong lĩnh vực này; Có chính sách cho vay vốn ưu đãi, miễn, giảm thuế với người lao
động lớn tuổi, lao động trình độ học vấn thấp để họ tự tạo việc làm trong lĩnh vực dịch vụ
đời sống, du lịch, thương mại…; dành một phần đất trong KĐT hoặc sát với KCN cấp
cho nông dân, để họ tổ chức các hoạt động dịch vụ… Ngoài ra, hiện nay tại các thành
phố lớn nhu cầu về lao động giúp việc gia đình là rất nhiều. Vì vậy, nghiên cứu, đào tạo
các kỹ năng cần thiết cho lao động nữ để cung cấp lao động phù hợp cho thị trường này
cũng sẽ góp phần giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động nữ nông thôn bị thu hồi đất.
3.2.6. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp nhằm khuyến khích người lao
động tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm
Trong điều kiện nước ta đang đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH thì giải pháp hỗ
trợ trực tiếp được coi là một cú hích quan trọng tạo đà cho người lao động năng động hơn
trong việc tự tạo việc làm, ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất. Các hoạt động hỗ trợ
việc làm và giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất cần tập trung vào các
lĩnh vực:Hỗ trợ tín dụng;Hỗ trợ học tập đối với con em nông dân; Hỗ trợ đào tạo nghề...

giải quyết việc làm, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, v.v..
Từ thực trạng nêu trên, tác giả luận văn đã đề xuất quan điểm, định hướng và một


số giải pháp để giải quyết tốt hơn vấn đề việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất
trong thời gian tới, trong đó giải pháp nâng cao chất lượng lao động nông thôn thông qua
phát triển giáo dục và đào tạo là giải pháp toàn diện và xuyên suốt toàn bộ quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt và đồng bộ các giải pháp đã nêu sẽ góp phần
quan trọng trong việc hạn chế những bất cập nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH, đồng
thời giữ vững được ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững, góp phần thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
References
1. Nguyễn Tuệ Anh (1999), “Phát triển thị trường lao động ở nước ta”, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, (259).
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2007), Các chương trình, đề án thực hiện
nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV
3. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và
nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu, NXB Thống kê, Hà Nội.
4. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2003), Số liệu thống kê lao động – việc làm ở
Việt Nam 2002, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội.
5. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2006), Số liệu thống kê lao động – việc làm ở
Việt Nam 2005, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội.
6. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2007), Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật
về đền bù, giải phóng mặt bằng và giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu
hồi, Hà Nội.
7. Bộ lao động Thương binh và xã hội (2008), Việc làm cho thanh niên ở khu vực
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh
niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải
Phòng, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội.
8. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2001), Một số vấn đề về công nghiệp hoá hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020,

Hồng, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội I, Hà Nội
37. Lê Thanh Hà (2008), “Một số bất cập về việc làm, thu nhập của Công nhân, người
lao động ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (5).
38. Lưu Song Hà (2009), Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công
nghiệp, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.
39. Trần Thị Bích Hạnh (2003), Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các tỉnh vùng
kinh tế trọng điểm miền trung trong giai đoạn CNH, HĐH, Luận án Tiến sĩ kinh tế,
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.


40. Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu đề tài giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình đô thị hoá ở Hải Dương, Hà Nội.
41. Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương khoá XIV kỳ họp thứ 11 (2008), Nghị quyết số
91/2008/NQ-HĐND ngày 22 tháng 2 năm 2008 về Quy hoạch phát triển sản xuất
nông nghiệp tỉnh Hải Dương đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
42. Trần Đắc Hiến (5/2006), “Phát triển Khu công nghệp với ổn định đời sống người dân
ở nông thôn nước ta hiện nay”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam.
43. Nguyễn Văn Hiển (18/5/2010), “Khiếu nại, tố cáo đông người-Đất đai vẫn là điểm
nóng”, Báo điện tử Đảng Công sản Việt Nam.
44. Vũ Ngọc Kỳ (2005), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, hội nông
dân ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
45. Đặng Tú Lan (12/2002), “Những nhân tố tác động đến vấn đề giải quyết việc làm ở
nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị.
46. Trần Thị Lộc (1996), Tạo việc làm ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở đô thị,
Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
47. Vũ Thị Mai (2007), Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình
đô thị hoá Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
48. Ngân hàng Phát triển Châu Á (2006), Báo cáo Phát triển Việt Nam 2007- Hướng đến
tầm cao mới.

61. Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Hải Dương (3/2007), Báo cáo tình hình
dạy nghề và việc làm khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, (298).
62. Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Hải Dương (5/2008), Tổng hợp báo cáo
kết quả gữa kỳ thực hiện Chương trình giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 – 2010.
63. Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Hải Dương (24/3/2010), Báo cáo về những
giải pháp giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội ở những nơi thu hồi đất để phát
triển khu công nghiệp, khu đô thị, (333).
64. Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Hải Dương (27/3/2010), Báo cáo tình hình
thiếu việc làm, mất việc làm, (367).
65. Tạp chí cộng sản (7/2007), (7)
66. Tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và các
giải pháp phát triển (2007), Tạp chí Cộng sản điện tử, (12).


67. Tỉnh ủy Hải Dương (2010), Văn kiện trình đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ 15, Hải
Dương
68. Tổng cục thống kê (2008), Niên giám thống kê 2007, NXB Thống kê, Hà Nội.
69. Tổng cục thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, NXB Thống kê, Hà Nội.
70. Tổng cục thống kê (2010), Niên giám thống kê 2009, NXB Thống kê, Hà Nội
71. Nguyễn Thị Thơm (2007), “Thị trường lao động khi Việt Nam gia nhập WTO-cơ hội,
thách thức và những việc cần làm”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (3).
72. Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh (1998), Giáo trình Kinh tế Lao động, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
73. Thu Thành, Đào Ngọc Dũng (10/2005), “Nhìn lại hơn mười năm phát triển Khu
Công nghiệp và cụm công nghiệp”, Báo nhân dân, (18329).
74. Phạm Thắng (7/2006), “Phát triển Khu Công nghiệp, khu chế xuất ở nước ta - một số
vấn đề đặt ra”, Tạp Chí Cộng sản, (13).
75. Bùi Ngọc Thanh (2008), “Về chính sánh việc làm và bảo hiểm thất nghiệp”, Tạp chí
Cộng sản, (17).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status