Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
**********

VŨ TRƯỜNG GIANG

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC
Mở đầu……………………………………………………………………
1
Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất…………………………………………………………….
7
1.1. Những vấn đề lý luận chung.……………………………………
7
1.1.1. Một số khái niệm cơ
bản
7
1.1.2. Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân
14
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho nông dân
28
1.2. Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất và bài học rút ra cho tỉnh Hải Dương
33
1.2.1. Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội
33
1.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
34
1.2.3. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
38

Chương 3. Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất ở Hải Dương…………………………………………………
88
3.1. Phương hướng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
Hải Dương
88
3.1.1. Dự báo nhu cầu thu hồi đất và số người mất việc làm do thu hồi
đất ở Hải Dương trong thời gian tới
88
3.1.2. Quan điểm, định hướng về giải quyết việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất ở Hải Dương
91
3.2. Giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải
Dương
99
3.2.1. Gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các khu công
nghiệp, khu đô thị với quy hoạch sử dụng đất, giải quyết việc làm và
đào tạo nghề
99
3.2.2. Nâng cao chất lượng lao động nông thôn, mở rộng hệ thống dịch
vụ việc làm
101
3.2.3. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo mở việc làm…
105
3.2.4. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động
110
3.2.5. Tạo cơ chế chính sách kinh tế - xã hội đối với lao động lớn tuổi,
lao động nữ
112
3.2.6. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp nhằm khuyến khích

ĐTH
: Đô thị hóa
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
LĐ-TBXH
: Lao động – thương binh xã hội
HĐND
: Hội đồng nhân dân
ĐBSH
: Đồng bằng sông Hồng
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
TN
: Tốt nghiệp
TH
: Tiểu học
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
SC
: Sơ cấp
TC
: Trung cấp

: Cao đẳng
ĐH
: Đại học

thành các khu công nghiệp, khu đô thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội. Để có tiền đề về vị trí, đất đai phục vụ xây dựng các KCN,
KĐT và các công trình công cộng, Nhà nước đã tiến hành thu hồi nhiều khu
đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp giao cho các chủ đầu tư để thực hiện
các dự án sản xuất kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng Điều đó đã gây ảnh
hưởng lớn đến việc làm và đời sống của người dân khu vực thu hồi đất.
Hải Dương là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang trong
quá trình CNH, HĐH và ĐTH. Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đến năm
2020 phấn đấu trở thành tỉnh có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu,
trong những năm qua Hải Dương đã triển khai thực hiện nhiều dự án phát
triển kinh tế, xã hội như: chỉnh trang đô thị; xây dựng mới công sở; mở rộng
hạ tầng giao thông; xây dựng khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp,
khu chế xuất Điều đó đã giúp cho Hải Dương đạt được những thành công
nhất định trong việc thu hút các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp
phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao
động, phát triển kinh tế - xã hội.
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Hải Dương tiến hành
thu hồi đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp để xây dựng các Khu công

2
nghiệp, Khu đô thị và hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế –xã hội. Việc thu hồi đất
đã làm cho nông dân bị mất toàn bộ hoặc một phần đất sản xuất không có khả
năng chuyển đổi nghề nghiệp rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm dẫn đến giảm thu nhập, đời sống hộ gia đình gặp nhiều khó khăn. Từ đó
đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp: khiếu kiện đông người, lao động di
cư tự do ra các thành phố lớn, tệ nạn xã hội và tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn
định xã hội.

nghiệp của tác giả Hoàng Văn Cường, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam,
tháng 9/2006.
- Về thực hiện chính sách đền bù giải toả trong phát triển các khu công
nghiệp của tác giả Phạm Chánh Dương, Tạp chí Cộng sản, số 3 tháng 1/2003.
- Phát triển Khu công nghệp với ổn định đời sống người dân ở nông
thôn nước ta hiện nay của tác giả Trần Đắc Hiến, Tạp chí Khu công nghiệp
Việt Nam, tháng 5/2006.
- Đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
Khu công nghiệp của tác giả Lê Du Phong, Tạp chí Khu công nghiệp Việt
Nam, tháng 1/2006.
- Một số giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp việc làm cho người lao
động tại địa phương thu hồi đất để phát triển các Khu công nghiệp và đô thị
của tác giả Vũ Đức Quyết, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam, tháng 5/2006.
- Nhìn lại hơn mười năm phát triển Khu công nghiệp và Cụm công
nghiệp của các tác giả Thu Thành, Đào Ngọc Dũng, Báo nhân dân, số 18329
ngày 10/10/2005.
- Phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất ở nước ta - một số vấn đề
đặt ra của tác giả Phạm Thắng, Tạp chí Cộng sản, số 13 tháng 7/2006
Đề cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hải Dương,
theo tác giả được biết trong thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu
sau:
- Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho lao
động sau khi bàn giao đất cho các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và khu

4
đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Đề tài khoa học do Sở lao động
thương binh và xã hội Hải Dương chủ trì năm 2004. Đề tài đã cung cấp các số

5
lao động nông nghiệp bị thu hồi đất. Có thể khẳng định, Đề tài là một công
trình khoa học có giá trị tham khảo lớn, đặc biệt là các số liệu điều tra của
nhóm nghiên cứu là nguồn tư liệu hữu ích cho tác giả luận văn.
Nhìn một cách tổng thể, các công trình khoa học nêu trên có liên quan
trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài luận văn. Tuy nhiên, về đối tượng, phạm vi
và thời gian nghiên cứu so với đề tài luận văn vẫn có những điểm khác biệt.
Đề tài luận văn của tác giả là một công trình nghiên cứu độc lập tiếp cận dưới
góc độ Kinh tế Chính trị trên quan điểm phát triển bền vững, có sự kế thừa và
phát huy những thành tựu của các công trình khoa học có liên quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Từ việc làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề việc
làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương luận văn nêu bật định
hướng và giải pháp giải quyết tốt hơn vấn đề này ở địa bàn nghiên cứu trong
thời gian tới.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn là đội ngũ đông đảo nông
dân bị thu hồi đất phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở tỉnh
Hải Dương, đồng thời nghiên cứu những vấn đề có liên quan.

7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM
CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
1.1. Những vấn đề lý luận chung
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
a. Khái niệm việc làm, thất nghiệp và giải quyết việc làm
Việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp là vấn đề luôn thu hút sự quan
tâm đặc biệt của người lao động, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới. Đây
là vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, có việc làm có nghĩa là người lao động có
thu nhập để nuôi sống bản thân và tạo ra của cải cho xã hội. Điều này đã được
C.Mác khẳng định: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng
và giá trị sản phẩm tăng lên tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng
[9, tr.75]. Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chính
sách quan trọng hàng đầu đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với nước
đang phát triển có lực lượng lao động dồi dào như Việt Nam, vấn đề việc làm
cho người lao động được Đảng ta nhìn nhận “là một trong những vấn đề nổi
cộm nhất của xã hội hiện nay” [32, tr.74].
* Việc làm
Khái niệm việc làm đã được các cá nhân, tổ chức đưa ra theo nhiều
chiều cạnh khác nhau:
Điều 13, Chương II, Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994) quy định: “Mọi hoạt
động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa
nhận là việc làm”. Theo đó, một hoạt động lao động được coi là việc làm phải
thoả mãn hai điều kiện:

những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan niệm “Việc làm là phạm
trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết
(vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó” [72, tr.45].
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu

9
(C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao
động (V). Có thể biểu diễn mối quan hệ tỷ lệ này bằng phương trình: VL =
Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa (C) và (V) phải phù hợp với
trình độ kỹ thuật, công nghệ của sản xuất. Khi trình độ kỹ thuật, công nghệ
thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi. Cũng có công nghệ sử dụng nhiều
vốn và có những công nghệ sử dụng nhiều lao động. Trong điều kiện kỹ thuật
thủ công, một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất có thể kết hợp với
nhiều đơn vị sức lao động chất lượng trung bình. Còn trong điều kiện tự động
hoá, sản xuất theo dây chuyền thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất lớn
nhưng lại sử dụng rất ít lao động (công nghệ sử dụng nhiều vốn) đồng thời đòi
hỏi chất lượng lao động rất cao. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn
phương án tạo việc làm phù hợp cho người lao động.
- Người có việc làm
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Người có việc làm là những
người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc những người tham gia
vào các hoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích hay thay thế thu nhập
của gia đình” [55, tr.12].
Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp, quan niệm người có việc làm là người làm
những công việc đòi hỏi một chuyên môn nào đó, tạo ra một thu nhập nhất

tuần lễ tính đến thời điểm điều tra) dưới 35 giờ, hoặc nhỏ hơn giờ quy định
đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện
hành, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc
để làm (trừ những người có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc
và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc).
Người lao động ở trong tình trạng thiếu việc làm thường là lao động
nông thôn theo mùa vụ, lao động khu vực thành thị không chính thức, lao
động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc các doanh nghiệp đang gặp khó
khăn, lao động dôi dư ở khu vực nhà nước

11
Tỷ lệ người thiếu việc làm =
Ngoài ra, dựa trên tính thường xuyên của công việc mà người được coi
là có việc làm thực hiện trong vòng 12 tháng và nhu cầu làm thêm của họ, có
thể phân người có việc làm thành có việc làm thường xuyên và người không
có việc làm thường xuyên.
+ Người có việc làm thường xuyên: gồm những người thuộc lực lượng
lao động hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có tổng số ngày
làm việc thực tế lớn hơn hoặc bằng tổng số ngày có nhu cầu làm thêm.
+ Người không có việc làm thường xuyên: gồm những người thuộc lực
lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có tổng số
ngày làm việc thực tế nhỏ hơn tổng số ngày có nhu cầu làm thêm.
* Thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là các nước đang phát triển và các nước nghèo. Thất nghiệp luôn là
mối quan tâm chung của toàn xã hội. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
hướng tới xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã
hội. Giải quyết việc làm được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất. Điều này phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng
trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó.
Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng sức lao
động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, quy định về độ tuổi và sự di
chuyển lao động. Chất lượng sức lao động phụ thuộc vào sự phát triển của
giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng,
thông tin…
Ba là, tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội như cơ chế, chính sách
của Nhà nước; các giải pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của lao
động; giải pháp duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao; quản lý thị

13
trường; ứng dụng thành tựu cách mạng khoa học kỹ thuật… để nâng cao hiệu
quả việc làm.
Giải quyết việc làm cần có sự tham gia kết hợp từ ba phía: người lao
động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Vì vậy, giải quyết việc làm theo
nghĩa rộng là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội của Nhà
nước, của cộng đồng và bản thân người lao động nhằm tạo điều kiện thuận lợi
để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm.
b. Thu hồi đất
Theo Khoản 5, Điều 4, Chương I của Luật đất đai năm 2003 quy định:
“Thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.

Như vậy việc thu hồi đất được nghiên cứu trong luận văn thuộc trường
hợp thứ nhất trong Luật đất đai. Thực tế ở Việt Nam trong thời gia qua, diện
tích đất thu hồi để phục vụ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế là chủ yếu, chiếm số lượng và
tỷ lệ lớn.
1.1.2. Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân
a. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá - quá trình tất yếu trong
phát triển kinh tế nước ta.
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ
thuật tương ứng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống
các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ
thuật (công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản
xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tiêu chí đánh giá sự biến đổi cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội là sự
biến đổi và phát triển lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật;
tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất
thống trị. Đặc trưng về cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất
trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Đặc

15
trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công
nghiệp cơ khí hoá. Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản
xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao
hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn với thành tựu
của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Do vậy, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền công
nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa

Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp” [31, tr.80].
CNH, HĐH đất nước là một nhiệm vụ trọng tâm đối với nước ta trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung chủ yếu của CNH, HĐH là:
+ Phấn đấu đạt và duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định và
bền vững;
+ Thực hiện quá trình ĐTH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động trong ngành nông
nghiệp (nông - lâm - ngư nghiệp) và tăng tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động
trong ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ;
+ Thực hiện quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất
cả các ngành kinh tế quốc dân. Nói cách khác là quá trình chuyển nền sản
xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ cao cùng với sự
phân bố nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu ngành nghề;
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình bao trùm tất cả các
ngành, các lĩnh vực hoạt động, hướng vào thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế
hợp lý, cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nước;
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật vừa
là quá trình kinh tế - xã hội. Do vậy nhìn theo chiều sâu của sự phát triển kinh
tế - xã hội đó là phát triển con người và nguồn lực con người là nội dung cốt
lõi;
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế quốc dân, bao gồm mở
rộng phân công lao động ở địa phương, vùng, toàn quốc và phân công lao

17
động quốc tế;


18
nghiệp và dịch vụ gắn với khoa học – công nghệ, cơ cấu lại việc phân bố dân
cư theo hướng tăng nhanh số lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm
mạnh số lượng, tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn. Qúa trình đó diễn ra ở
Việt Nam trong những năm gần đây có những đặc điểm sau:
- Hình thành các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ tại
các đô thị lớn: Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong
những đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, biểu
hiện tính chuyên môn hoá cao trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó, các hoạt
động sản xuất kinh doanh có cùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào một
khu vực nhằm tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất đạt hiệu
quả cao hơn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
- Hình thành các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ ở các
vùng ven đô: Sự hình hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách
quan nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất, đời sống ở
chính vùng đó và từ các trung tâm này sẽ lan rộng sang các vùng khác. Đó
cũng chính là sự biểu hiện của quá trình tập trung hoá các hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Tuy nhiên, quy mô sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng
để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả. Trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH
các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn.
- Mở rộng các đô thị hiện có: Việc mở rộng các đô thị hiện có theo hiệu
ứng lan toả là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị không ngừng tăng lên. Xu hướng này nhằm giải quyết các
vấn đề quá tải cho đô thị hiện có.
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: Đây là một hình thức
phổ biến trong quá trình CNH nông thôn nước ta. Vấn đề cơ bản ở đây là phải
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại.
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: ĐTH theo chiều rộng hay chiều sâu

rất khác nhau. Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp,
việc làm của người lao động.
b. Tầm quan trọng của thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH

20
Như đã nêu trên, CNH, HĐH là một tất yếu khách quan đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta. Qúa trình đó cần có sự tập trung các nguồn
lực cơ bản vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, điều đó dẫn
đến sự phân bố lại các nguồn lực trong nền kinh tế mà trước tiên là đất đai,
lao động, vốn và khoa học - công nghệ.
Riêng về nguồn lực đất đai, một bộ phận đất đai trong đó chủ yếu là đất
nông nghiệp sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng sang phục vụ cho việc xây
dựng các KCN, KCX; mở rộng các KĐT cũ và xây dựng các KĐT mới; xây
dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ
lợi ích của cộng đồng, quốc gia. Vì vậy, việc thu hồi đất phục vụ quá trình
CNH, HĐH là rất cần thiết.
Quá trình thu hồi đất để phát triển và xây dựng mới các KCN, KĐT, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta diễn ra từ những năm 1990 và ngày
càng được đẩy mạnh. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm
2001 đến năm 2005 cả nước đã thu hồi 366,44 nghìn ha đất nông nghiệp
(chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng, bình quân mỗi năm thu hồi
73,29 nghìn ha) để xây dựng các KCN, KĐT và các cụm công nghiệp
Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng nhiều KCN, các CCN; mở
rộng và xây dựng mới các KĐT, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như
giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện;
hoàn thiện và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch vụ; mở rộng và xây dựng
mới các khu vui chơi, giải trí, công viên, cây xanh Vì vậy làm cho quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status