ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN TIẾN TRÍ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC,
TP HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS MAI THỊ THANH XUÂN Hà Nội – 2013 i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT 9
1.1. Tính tất yếu của việc thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất 9
1.1.1. Tính tất yếu của việc thu hồi đất trong quá trình CNH & ĐTH 9
1.1.2 Tác động của việc thu hồi đất đến việc làm và giải quyết việc làm
cho nông dân 12
1.2 Giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ 18
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất 18
3.1.2. Xu hướng biến động về dân số và lao động 70
3.2. Quan điểm giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 71
3.2.1 Cần có tầm nhìn dài hạn trong quy hoạch đất đai để giảm thiểu tình
trạng THĐ của nông dân. 71
3.2.2 Vấn đề giải quyết việc làm phải đặt trong mối quan hệ với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành nghề truyền
thống. 71
3.2.3 Giải quyết việc làm cho người lao động cần tập trung vào hướng
nâng cao chất lượng lao động, đa dạng hóa trình độ đào tạo và ngành nghề
đào tạo của người lao động. 72
iii
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất ở huyện Hoài Đức 72
3.3.1 Hoàn thiện quy hoạch đất đai và quản lý tốt kinh phí đền bù, hỗ trợ
giải phóng mặt bằng 72
3.3.2 Phát triển công nghiệp và dịch vụ nhằm thu hút lao động nông thôn,
trước hết là những người bị thu hồi đất. 73
3.3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho nông dân. 77
3.3.4 Tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất và giải quyết
việc làm cho người bị THĐ. 79
3.3.5 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tăng cơ hội việc làm ngoài nước cho
người lao động. 82
3.3.6 Đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động đi đôi với tổ chức
hiệu quả sàn giao dịch việc làm vệ tinh. 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Khu chế xuất
6
KĐT
Khu đô thị
7
GQVL
Giải quyết việc làm
8
THĐ
Thu hồi đất
9
UBND
Ủy ban nhân dân
v
Cơ cấu việc làm của lao động sau khi thu hồi đất
53
7
2.7
Thời gian cần thiết để tìm được việc làm
54
8
2.8
Tình trạng việc làm
55
9
2.9
Nhu cầu làm thêm
55
10
2.10
Thu nhập bình quân / 1 người/ tháng
56
11
2.11
Mức sống của hộ trong vùng
57
12
3.1
Quy hoạch sử dụng đất của Hoài Đức đến năm 2020
68
13
3.2
Dự báo biến động về dân số và lao động
69
Huyện Hoài Đức cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Trong
2
những năm qua, diện tích đất nông nghiệp giảm với tốc độ ngày càng nhanh
do chuyển mục đích sử dụng sang công nghiệp, dịch vụ và giao thông vận tải.
Do đó, tại đây tình trạng nông dân bị thu hồi đất không tìm được việc làm là
phổ biến, khiến cho hàng ngàn lao động bị thất nghiệp, đòi hỏi chính quyền
địa phương phải có chính sách và giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả
đào tạo nghề, hỗ trợ công ăn, việc làm ổn định cho họ.
Nghiên cứu đề tài “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
ở huyện Hoài Đức” tác giả mong muốn được góp phần giải quyết các câu
hỏi: Tác động của thu hồi đất đến việc làm và đời sống của người dân như thế
nào? Tình hình thu hồi đất và giải quyết việc làm của huyện Hoài Đức những
năm qua ra sao? Còn những vấn đề gì đặt ra đòi hỏi phải giải quyết trong
thời gian tới? Và giải quyết các vấn đề đó bằng cách nào?
2. Tình hình nghiên cứu
Thu hồi đất và giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là vấn đề
mang ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế lẫn chính trị. Vì vậy, trong những năm
qua đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này. Liên quan trực tiếp đến nội
dung luận văn có các công trình chủ yếu sau:
- Hoài Đức giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất theo
hướng "ly nông bất ly hương" của tác giả Nguyễn Sáng, đăng tải trên báo điện
tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, số ra ngày 9 tháng 1 năm 2007. Trong
bài viết này, tác giả đã đưa ra một bức tranh tổng quan về tình hình thu hồi đất
của toàn huyện Hoài Đức trong thời gian qua. Theo bài báo này quy hoạch
đến năm 2010, huyện Hoài Đức có đến 50% tổng diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của huyện bị thu hồi, kéo theo đó là một số lượng lớn nông dân mất
việc làm. Trên cơ sở đánh giá về chính sách đào tạo nghề của huyện về những
thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại, tác giả đưa ra định hướng
cần đẩy mạnh công tác dạy nghề để giải quyết việc làm cho nông dân bị mất
4
Khi không còn làm nông nghiệp nữa , mỗi ngày có hàng ngàn lao đô
̣
ng
của xã An Khánh đi theo các kíp thợ xây dựng hoặc đi buôn bán nhỏ lẻ tại các
chợ trong nội thành Hà Nội. Tuy nhiên, số người tự xoay sở tìm việc như trên
cũng chưa bõ bèn gì so với số lao động của xã An Khánh đang thiếu viê
̣
c làm
hiện nay.
Việc người dân làm nông nghiệp không còn đất canh tác không phải là
chuyện riêng của một xã, một huyện nữa. Cơn lốc đô thị hóa đã khiến cho đất
nông nghiệp thu hẹp với tốc độ ngày càng nhanh, đặc biệt là đối với các xã,
phường vùng ven đô.
Một số vấn đề đặt ra đối với nông dân và chính quyền địa phương mà
tác giả chỉ ra là: Người nông dân sử dụng tiền đền bù không đúng mục đích,
những giải pháp của thành phố và chính quyền địa phương vẫn chưa đạt được
kết quả cao.
Như vậy, trong công trình nghiên cứu này tác giả đã có những đánh giá
xác thực về vấn đề thu hồi đất, việc làm và chính sách giải quyết việc làm của
chính quyền địa phương. Cung cấp tư liệu cần thiết cho các công trình nghiên
cứu có hệ thống sau này.
-“Nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến hộ nông
dân huyện Hoài Đức và giải quyết việc làm” khoá luận tốt nghiệp của tác giả
Khuất Văn Thành, trường Đại học Nông nghiệp I, năm 2007. Trong đề tài này
tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề thu hồi đất của nông
dân huyện Hoài Đức. Đầu tiên đưa ra những vấn đề lý luận về lao động, việc
làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn; Vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát triển công nghiệp và đô thị hóa, tác động của phát triển khu công nghiệp
- “Thực trạng thu nhập đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi
để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu
6
cầu công cộng và lợi ích quốc gia”, Đề tài độc lập cấp nhà nước (2005) của
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Sau khi phân tích đánh giá thực trạng
thu nhập, đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi ở 7 tỉnh/TP: Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Kinh, Cần Thơ, Bình Dương. Đề
tài đề xuất các quan điểm, phương hướng giải pháp và các điều kiện giải
quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng
các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng
và lợi ích quốc gia những năm tới
Như vậy, tuy đã có khá nhiều công nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất và
giải quyết việc làm cho nông dân. Trong đó có một số công trình nghiên cứu
trên địa bàn huyện Hoài Đức, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn
đề này một cách toàn diện phù hợp với bối cảnh đầy biến động về kinh tế xã
hội hiện nay. Đó là khoảng trống tri thức cần được tiếp tục bổ sung và làm rõ.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở đánh giá công tác giải quyết việc làm
cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoài Đức thời gian qua, tìm ra
nguyên nhân của những thành công và hạn chế trong công tác này, từ đó đề
xuất nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết việc làm cho người dân bị THĐ
ở huyện Hoài Đức, Hà Nội trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu
sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến lao động,
việc làm và giải quyết việc làm cho người nông dân bị THĐ.
- Đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm vùng thu hồi đất trên
vấn đề việc làm của nông dân ở vùng thu hồi đất
- Đúc rút kinh nghiệm về giải quyết việc làm ở một số địa phương có
thể áp dụng cho huyện Hoài Đức
- Phân tích thực trạng của thu hồi đất và giải quyết việc làm ở Huyện
Hoài Đức từ 2008 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giải quyết việc
làm cho nông dân vùng thu hồi đất ở huyện Hoài Đức trong thời gian tới
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất.
Chương 2. Thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
huyện Hoài Đức từ 2008 đến nay
Chương 3. Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu
hồi đất.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
với tổng diện tích hơn 6.500 ha. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt, từ tháng 8/2005 đến năm 2015 và định hướng năm 2020 cả nước
có khoảng 80.000 ha đất dành cho KCN và KCX. Để có được một diện tích
đất nêu trên cho phát triển KCN và KCX, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất
từ những chủ đang sử dụng vào các hoạt động khác, trong đó chủ yếu vào sản
xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Việc làm này là cần thiết trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Thứ ba, việc thu hồi đất nông nghiệp, nông thôn cho phát triển CN,
dịch vụ, xây dựng đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng là cần thiết không chỉ
đơn thuần bắt nguồn từ yêu cầu CNH, HĐH và ĐTH mà còn từ chính yêu cầu
phát triển kinh tế, xã hội của khu vực nông thôn. Việc phát triển sản xuất CN
không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mới, ổn định hơn để người lao động có thu
nhập cao hơn so với làm việc trong nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch
lao động từ nông nghiệp, nông thôn sang CN, dịch vụ và thành thị mà còn tạo
ra những điều kiện mới để mở rộng thị trường cho phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Những sản phẩm được tạo ra từ CN sẽ là những yếu tố sản xuất và
hàng tiêu dùng đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân
nông thôn. Nhờ phát triển CN mà người dân nông thôn có thị trường tiêu thụ
sản phẩm của mình, cung cấp các nguyên vật liệu cho CN và hàng nông sản
cho những người làm CN.
11
Thu hồi một phần đất nông nghiệp chuyển sang sản xuất CN còn tạo ra
điều kiện thúc đẩy tăng năng suất lao động nông nghiệp. Bởi vì sự phát triển
của các cơ sở CN đòi hỏi phải mở rộng nguồn cung cấp về nguyên liệu, nhất
là đối với các ngành CN chế biến nông sản cho sản xuất và lương thực, thực
phẩm cho người lao động trong các cơ sở CN. Thị trườn nông sản được mở
rộng hơn khi chưa có các cơ sở CN. Cầu về nông sản tăng lên, làm cho giá
nông sản tăng, tỷ suất lợi nhuận và thu nhập của người nông dân tăng lên.
Đây là điều kiện để họ tích lũy vốn, đổi mới công nghệ sản xuất, chăm lo hơn
hồi đất, chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, thường có mức sống thấp so với
cư dân thành thị. Theo kết quả điều tra, giai đoạn 1996 – 2006, tốc độ tăng
GDP bình quân đầu người ở khu vực nông thôn là 2,7%(so với thành thị là
8,8%) . Như vậy, thu nhập của dân cư nông thôn chỉ bằng 54,6% thu nhập
bình quân của dân cư thành thị, lại còn có xu hướng giảm dần ( năm 2008 chỉ
còn 47,4% so với dân thành thị) [19,tr.78]. Thu nhập của lao động nông thôn
khoảng 4 triệu đồng/người/năm (năm 2000) ; và tăng lên 12,2 triệu
đồng/người/năm (năm 2008). So với bình quân của tất cả các ngành kinh tế
năm 2008 là 32,9 triệu đồng/người/năm, thì mức chênh lệch giữa hai bộ phận
dân cư đã lên tới 2,7 lần [12,tr.34].
Trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt chiếm 73,5% (năm
2006), so với kết quả đạt được ước tính mỗi lao động có thu nhập 5,5 triệu
đồng/năm ; lao động ngành thủy sản có thu nhập cao hơn khoảng 30,5 triệu
đồng ; công nghiệp ở nông thôn có tỷ trọng không đáng kể.
Tuy nhiên sau khi thu hồi đất, nhiều nông dân đã chuyển sang các
ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là số lao động trẻ, lao động đã qua đào tạo.
Nếu sau khi thu hồi đất chỉ giải quyết được 13% số lao động của địa phương
13
vào làm việc ở các KCN thì 1ha công nghiệp sẽ có 10,01 lao động địa phương
(1ha đất công nghiệp thu hút 77 lao động). Như vậy, số dư thừa lao động
nông nghiệp vẫn là lao động nông nhàn, không được đào tạo, có độ tuổi cao
hoặc một số ít không chấp nhận làm việc ở các KCN.
Việc làm cho nông dân bị mất đất ở một số tỉnh thành trong cả nước
sau khi các KCN hoạt động như sau :
Ở tỉnh Hưng Yên theo quy hoạch sẽ có 19 KCN, hiện đã thu hồi
1.134,81 ha/6.550 ha cần thu hồi. Và hiện đã có 4 KCN hoạt động, thu hút
khoảng 19.500 lao động, trong đó lao động địa phương là 11.000 người. Với
diện tích thu hồi trên có 24.180 lao động cần việc làm (tức đã giải quyết được
45% lao động có đất bị thu hồi) [5,tr.38]
Hầu hết khi phát triển các KCN, cuộc sống dân cư của vùng thu hồi đất
trở lên sôi động hơn, cách thức sinh sống đô thị có nhu cầu cao hơn, là điều
kiện tốt cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, đời sống tinh thần của người dân được chuyển biến. Khi xây
dựng các KĐT, KCN Nhà nước đã đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông,
thông tin, trường sở, các loại hình dịch vụ điện nước Từ chỗ nông thôn
thuần khiết, các điều kiện vật chất nghèo nàn, khu dân cư ở vùng đô thị hóa,
vùng khu công nghiệp, có điều kiện vật chất cao hơn.
Kết quả phát triển các KCN trên cả nước đến năm 2010, có 173 KCN
đi vào hoạt động, thu hút 3960 dự án FDI (53,6 tỉ USD), 4380 dự án trong
nước (33.600 tỉ đồng) và đem lại doanh thu 33 tỉ USD, giá trị xuất khẩu đạt
19 tỉ USD, nộp ngân sách Nhà nước 1,4 tỉ USD [44,Dung]. Việc phát triển
KCN đã góp phần tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất
15
khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha ;
giá trị xuất khẩu 1,27 triệu USD/ha ; nộp ngân sách khoảng 1,38 tỉ đồng/ha.
Có được thành tựu trên là do các khu công nghiệp thu hút nguồn đầu tư lớn,
như vốn FDI chiếm khoảng 35-40% tổng vốn đăng ký thêm của cả nước,
riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm 80%. Hơn nữa cùng với phát triển KCN đã
tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài [31]
Thứ ba, người nông dân có sự đổi mới trong tư duy, tác phong và kỷ
luật trong lao động.
Tâm lý tiểu nông được hình thành, tồn tại bởi rất nhiều yếu tố, trong đó
trực tiếp và chủ yếu là nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, manh mún, tình
trạng nền sản xuất phân tán, biệt lập, khép kín là phổ biến, đặc biệt là tình
trạng kém phát triển của sự phân công lao động xã hội. Dẫn đến những đặc
trưng tiêu cực như: thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, bảo thủ, lối nghĩ
dựa theo kinh nghiệm; hẹp hòi, vị lợi, cục bộ địa phương; tính tuỳ tiện, kém
sức khỏe, trình độ học vấn đồng đều, trình độ nghề nghiệp chưa cao nhưng
khả năng học nghề tốt, ngạy bén với cái mới và thời cuộc.
Việc THĐ để xây dựng các KCN, KĐT chính là điều kiện và thời cơ tốt
để chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp, khu vực có năng suất lao động
thấp sang công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao. Nhưng trong quá trình
thực hiện THĐ những hệ lụy về GQVL cho nông dân mà nó gây ra đã vượt
quá khả năng giải quyết của chính quyền địa phương. Vì thế, việc THĐ nông
nghiệp để phát triển các KCN, KĐT thực hiện mục tiêu CNH,HĐH vốn là để
GQVL cho nông dân theo hình thức chuyển đổi cơ cầu kinh tế và cơ cấu lao
17
động thì nay lại trở thành sức ép về GQVL. Vấn đề GQVL cho nông dân bị
THĐ trở nên gay gắt hơn.
Thứ hai là, về nông dân bị THĐ không tìm được việc làm do không
đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH Nhà nước đã tiến hành thu hồi
nhiều diện tích ĐNN để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, trong đó tập
trung phát triển các cụm, dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
động. Chính sách này đã thu hút được hàng chục ngàn dự án của các nhà đầu
tư trong và ngoài nước với số vốn vài chục tỷ USD và hàng trăm ngàn tỷ đồng
để phát triển KCN, KĐT. Theo đó, hàng triệu lao động đã tìm được việc làm
tại đây với thu nhập cao, trong đó có một số ít lao động trẻ là những nông dân
bị THĐ. Song thực tế số lao động tìm được việc làm chỉ có tính tạm thời nên
số lao động không có việc làm lại tăng lên. Cụ thể là : sau 5 đến 10 năm, chỉ
có một số ít lao động có tay nghề cao và sức khỏe tốt được tiếp tục làm việc,
đa phần còn lại bị sa thải vì bị mất ưu thế về sức lao động và mức lương thấp.
Sau một thời gian ổn định, các doanh nghiệp sẽ tuyển những lao động có sức
khỏe tốt hơn và trình độ nghề nghiệp cao hơn để đảm bảo yêu cầu về chất
lượng lao động trong nhà máy của họ. Điều này xảy ra phổ biến ở cac KCN
có các nhà đầu tư nước ngoài đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp tại các vùng THĐ
lao động đều được lao động (có việc làm) và có thu nhập. Theo nghĩa hẹp, giải
quyết việc làm là các biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất
nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động để giảm
thiểu tỷ lệ thất nghiệp. Theo các nghĩa nêu trên, thực chất của giải quyết việc làm
là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu
sản xuất và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho người có khả
năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó.