ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TẠI XÃ CẨM LỘC, HUYỆN CẨM XUYÊN, TĨNH HÀ TĨNH
Sinh viên thực hiện:
Bùi Quốc Quỳnh
Lớp: K45 KTNN
Niên khóa: 2011- 2015
Giáo viên hướng dẫn:
Dư Anh Thơ
Huế, 2015
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, ngành thủy sản Việt Nam là ngành đi
Tuy nhiên ,do việc thực hiện quy trình nuôi chưa đúng kĩ thuật , các hộ còn chủ
quan trong công tác cải tạo và xử lí ao nuôi , chưa chấp hành lịch thời vụ….Đã làm
cho kết quả nuôi trong những năm gần đây có phần chững lại và không có dấu hiệu
tăng nhiều về sản lượng cũng như về quy mô mặt khác có nhiều hộ còn bị thua lỗ. Môi
trường ao nuôi ngày càng bị ô nhiễm , người dân không mặn mà với việc đầu tư nuôi
tôm cũng như mở rộng thêm diện tích nuôi tôm như trước nữa.Các ban nghành địa
phương cũng đã có những biện pháp như tuyên truyền , chuyển đổi phương thức
nuôi.hộ trợ về kĩ thuật…. Nhằm cải thiện phần nào hoạt động nuôi tôm tại xã .Như
vậy,để nuôi tôm thực sự trở thành một nghành nghề sản xuât hiệu quả và ổn định ,bền
vững và ngày càng phát triển ,giúp người dân nâng cao đời sông vật chất cũng như
tinh thần thì đòi hỏi chính quyền địa phương và người dân cần đầu tư cải tiến kỉ thuật
nuôi và nâng cao nhận thức của mình đối với môi trường hơn.
Xuất phát từ thực tế đó ,tôi đã chọn đề tài:“đánh giá hiệu quả nuôi tôm thẻ
chân trắng tại xã Cẩm Lộc ,huyện Cẩm Xuyên ,Tĩnh Hà Tĩnh” làm đề tài tốt nghiệp
của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Hệ thông hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và của
ngành nuôi tôm nói riêng.
-Đánh giá tiềm năng, thực trạng đầu tư và hiệu quả kinh tế của nuôi tôm tại xã
Cẩm Lộc,huyện Cẩm Xuyên.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả nuôi tôm qua đó thấy
được những thuận lợi cũng nhu những khó khăn của hoạt động này tại địa phương.
- Đưa ra định hướng đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hạn chế một số
khó khăn mà các hộ gia đình gặp phải,đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
của hoạt động nuôi tôm tại xã.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập số liệu
- Tài liệu sơ cấp: Đề tài chọn xã có diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng
chiếm ưu thế để nghiên cứu đó là: Xã Cẩm Lộc với 30 hộ được điều tra từ tại xã đại
diện được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
liên quan đến quá trình nuôi và các nhân tố ảnh hưởng đến tới kết quả, hiệu quả
nuôi.
6
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm, bản chất, ý nghĩa của hiệu quả kinh tế
1.1.1.Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện
được, các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong
những điều kiện nhất định. Trong nền kinh tế thị trường hướng tới sản xuất hàng hóa
như hiện nay, chỉ tiêu hiệu quả ngày càng được quan tâm nhiều và đứng trên cả hai
phương diện: Kinh tế và xã hội.
- Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Khi đề cập đến hiệu quả
các tác giả Farrell (1950), Schuhz (1964), Rizzo (1979), Đỗ Kim Chung (1997) (Phạm
Vân Đình, 1997) đều thống nhất cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kĩ
thuật, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế.
-
Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency: TE) là số sản phẩm có
thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất
trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông
nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh trình độ, khả năng chuyên môn, tay nghề trong
việc sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến
được hiệu quả phân bổ tại điểm P
AE = 0R/0Q
(0≤AE≤1)
Như vậy, hiệu quả kinh tế tại điểm P:
EE = TE x AE
= 0Q/0P x 0R/0Q
= 0R/0Q
(0≤EE≤1)
Q’ là điểm đạt hiệu quả kinh tế
Hình 1: Các chỉ số hiệu quả của
Farrell
Quan niệm về hiệu quả kinh tế NTTS cũng giống như quan niệm về hiệu
quả kinh tế đã đề cập ở trên. Hiệu quả kinh tế NTTS là tương quan so sánh giữa các
yếu tố nguồn lực và chi phí đầu vào với kết quả chi phí đầu ra trong hoạt động sản
xuất kinh doanh thủy sản. Quá trình nuôi trồng thủy sản là một quá trình hoạt động
kinh doanh lấy hiệu quả kinh tế làm cơ sở để phát triển.
1.1.1.2. Ý nghĩa của việc xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Biết được mức hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông
nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
- Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất
nông nghiệp. Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp
bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại nếu đạt được hiệu quả kinh tế
cao thì để tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ.
C: Chi phí bỏ ra
Quan điểm thứ hai: hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra
H= Q – C
Quan điểm thứ ba :cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết
quả tăng thêm với chi phí tăng thêm
H= Q/C
Trong đó: Q: Khối lượng sản phẩm tăng thêm
C: Chi phí tăng thêm
9
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Ngành nuôi tôm cũng như các ngành sản xuất kinh doanh khác, hiệu quả kinh tế
là tiêu chuẩn hàng đầu làm tiêu chuẩn cho các quyết định đầu tư phát triển của doanh
nghiệp và xã hội. Việc đánh giá hiệu quả kinh tế rất có ý nghĩa đối với hoạt động nuôi
tôm, giúp cho người dân nhận biết được thực trạng quá trình sản xuất nhằm tìm giải
pháp thiết thực để đạt và duy trì hiệu quả kinh tế cao.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá chi phí sản xuất
Để đánh giá khả năng và mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào của ngành nuôi tôm
chúng ta sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
-
Chi phí ao hồ, công trình xây dựng cơ bản bình quân trên một đơn
vị diện tích bao gồm các hạn mục: Đề, kè, đập, cống, nhà kho,…và các loại tài
sản cố định phục vụ công tác nuôi tôm như: Phương tiện vận chuyển, máy bơm
dịch vụ và hao phí lao động sống đã sử dụng trong quá trình sản xuất.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất
-
Diện tích nuôi tôm: Là toàn bộ diện tích mặt nước được hộ nuôi
sử dụng vào nuôi tôm, thường được tính theo vụ trong năm hoặc cả năm. Đây là
chỉ tiêu phản ánh năng lực sản xuất của hộ nuôi và cũng là căn cứ quan trọng để
tính các chỉ tiêu khác.
Sản lượng tôm nuôi (Q): Là toàn bộ giá trị sản phẩm tôm của hộ
nuôi được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một vụ hay một năm).
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm tôm của hộ
nuôi được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một vụ hay một năm).
GO = Qi * Pi
(i = 1…n)
Qi : số lượng sản phẩm i
Pi : giá bán sản phẩm i
-
Giá trị gia tăng (VA): là toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt động
nuôi tôm của hộ nuôi trong một kỳ nhất định (thường là một vụ hay một năm).
Đây là chỉ tiêu phản ánh đúng đắn và toàn diện nhất kết quả sản xuất kinh
doanh của hộ nuôi tôm, là cơ sở để thực hiện tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời
sống người nuôi tôm.
VA = GO – IC
-
1.1.4 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật nuôi tôm
1.1.4.1 Đặc điểm sinh học của tôm
Kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của quá
trình sản xuất. Đối tượng của ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nói
riêng là những sinh vật sống cho nên việc nuôi tôm cần tạo điều kiện sống phù hợp với
đặc điểm sinh học của chúng nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển, nâng cao
năng suất và sản lượng của quá trình sản xuất. Muốn tôm đạt hiệu quả kinh tế cao phải
nắm vững các đặc tính sinh học của tôm để từ đó có biện pháp nuôi thích hợp.
Ở xã Cẩm Lộc hiện nay, người dân lựa chọn mỗi giống tôm phù hợp với
môi trường nuôi. Giống tôm được lựa chọn để nuôi ở vùng Bãi Sậy và Cồn Sim của xã
Cẩm Lộc là tôm thẻ chân trắng.
1.1.4.2 Yêu cầu kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loài có đặc tính sinh vật học phức tạp, cần có kiến thức
và nắm kỹ thuật nuôi tốt để đạt được hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, nên cần chú ý các
điểm sau:
Ao nuôi
12
- Chọn vị trí: Nơi có nguồn nước mặn ít bị ô nhiễm, nguồn nước ngọt chủ động,
đồng thời còn thuận lợi về giao thông, điện,…Tập trung ở các vùng đất cát bãi ven
biển có qui hoạch.
- Xây dựng ao nuôi:
Diện tích ao từ 2000m2 -5000m2. Chiều sâu ao từ 1,3 – 2m, nếu nuôi thương
phẩm năng suất cao thì chiều sâu cần phải đạt từ 2,5 – 3m.
Đáy lót bạt có phủ một lớp cát dày khoảng 20 – 30 cm hoặc không có phủ cát.
Thiết kế vị trí thoát hợp lý đảm bảo cho việc cấp thoát nước dễ dàng.
Bờ ao cần phải xây dựng kiên cố, cao hơn mức nước trong ao tối thiểu 0,5m,
xung quanh bờ ao cần phải rào lưới chắn.
Bảng 1: Các thông số kỹ thuật cần thiết khi nuôi tôm thẻ chân trắng
Thông số
1. pH
2. Độ mặn
3. Nhiệt độ
4. Oxy hòa tan
5. Độ kiềm
6. Độ trong
7. H2S
8. NH3
Khả năng chịu đựng
7,0 – 9,0
5 - 40‰
18 – 33,50C
2 mg/lít
Thích hợp
8,0 – 8,5
10‰ - 25‰
27 – 30 0C
≥4 mg/lít
>80mg CaCO3/lít
30±5 cm
này, người nuôi tôm phải đầu tư vốn với hàm lượng công nghiệp nhất định, phải am
hiểu kỹ thuật nuôi và phải có kinh nghiệm trong tổ chức quản lý. Hình thức này nuôi
bằng giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp là chủ yếu, có kết hợp thức ăn tự nhiên có
trong đầm. Diện tích ao nuôi từ 0,5 – 5ha, mật độ thả giống từ 7 – 15 con/ m 2, mực
nước từ 1,2 – 1,4, năng suất đạt từ 1 – 2 tấn/ha/vụ.
Nuôi tôm thâm canh (TC)
Nuôi tôm thâm canh là hình thức nuôi đòi hỏi phải cung cấp hoàn toàn giống
tôm nhân tạo và thức ăn công nghiệp, được đầu tư cơ sở hạ tầng (hệ thống ao hồ, thủy
lợi, giao thông, điện nước, cơ khí…) đầy đủ để chủ động khống chế môi trường, nguồn
nước, các yêu cầu kỹ thuật nuôi phải đảm bảo, đặc biệt là việc quản lý môi trường
nước, lượng oxy hòa tan,…Hình thức này đòi hỏi người nuôi phải có trình độ chuyên
môn cao, trang thiết bị hiện đại, vốn đầu tư lớn. Diện tích ao từ 0,5-1 ha, mật độ thả rất
cao từ 16 – 30 con/m2, độ sâu mực nước từ 1,5 – 2 m và đạt năng suất từ 2 – 5
tấn/ha/vụ trở lên. Nuôi thâm canh đáp ứng nhu cầu về tôm của xã hội ngày càng tăng
mà diện tích lại hữu hạn.
Nuôi tôm công nghiệp (CN)
Nuôi công nghiệp là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân
tạo với mật độ rất cao. Sử dụng các máy móc và thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một
môi trường sinh thái và các điều kiện sống tối ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ
thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và
lợi nhuận. Năng suất đạt từ 10 tấn/ha/vụ trở lên.
1.1.6 Giá trị kinh tế của tôm
Tôm là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng,
nhờ có hàm lượng protein cao hơn so với các loài cá, thịt khác.
16
Khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về các loại thực
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như tôm cũng có xu hướng tăng. Do vậy, trên thế
làm, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân, đặc biệt là ở
vùng đầm phá, ven biển. Việc phát triển NTTS vừa giải quyết được nhu cầu con người
vừa hạn chế được tác hại do khai thác cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, đảm bảo cân bằng
sinh thái. Do vậy NTTS là giải pháp phát triển bền vững của mọi quốc gia.
1.2.2 Tình hình thị trường tiêu thụ
Năm 2014, nhập khẩu tôm vào Mỹ vẫn tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị so
với năm 2013. Đây là kết quả nằm ngoài dự đoán đưa ra hồi đầu năm,khi cho rằng
nhập khẩu tôm vào Mỹ có thể sẽ chững lại nếu giá tiếp tục giữ ở mức cao. Tuy
nhiên,giá tôm tại Mỹ vẫn tiếp tục tăng trong năm 2014 nhưng nhập khẩu không hề
giảm. Thái Lan tiếp tục thị phần trên thị trường
Mỹ trong năm qua trong khi nhập khẩu tôm từ Ấn Độ ,Indonesia và Việt Nam
lại tăng mạnh.
Theo thông kê của Trung tâm Thương mại Thế giới về nhập khẩu tôm vào nước
này vừa qua,nhập khẩu tôm từ các nguồn cung trên thế giới đạt 598.000 tấn, trị giá
trên 7.2 tỳ USA, tăng 25% so với năm 2013.Đây là năm thứ hai liên tiếp nhập khẩu
tôm vẫn tăng ngay cả khi giá tôm tăng mạnh. Theo thông kê của Tổng cục thông kê
Mỹ, năm 2014, giă nhập khẩu trung bình đã tăng 15.5% so với năm 2013. Indonesia là
nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất (44%)trong 5 nước cung cấp tôm hàng đầu cho
Mỹ.
1.2.3 Tình hình tiêu thụ tôm ở VIỆT NAM
Kể từ năm 2000, NTTS nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng
canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Nhiều mô hình nuôi thâm
canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi tôm lớn mang
tính chất sản xuất hàng hóa được hình thành.
Với lợi thế có đường bờ biển dài 3.260 km, thời tiết khí hậu rất thuận lợi để
phát triển nuôi tôm nước lợ và nước mặn, nghề nuôi tôm đã trở thành nghề mang lại
nguồn thu nhập cao cho người dân ven biển và góp phần đưa Việt Nam trở thành nước
xuất khẩu tôm lớn trên thế giới. Việt Nam là nước xuất khẩu tôm lớn thứ 7 thế giới,
+0.263
0.25
+48
0.07
- Diện tích nuôi tôm
Nghìn ha
637.000
2.Sản lượng NTTS
Triệu tấn
5.981
6.3
+0.319
0.05
- SL nuôi tôm
Triệu tấn
2.1.1 Vị trí địa lí của xã Cẩm lộc
Xã Cẩm Lộc cách thị trấn Cẩm Xuyên 12 km, phía đông giáp xã Cẩm Lĩnh,phía
nam giáp xã Cẩm Sơn,Cẩm Lạc;phía tây giáp xã Cẩm Hà, phía bắc giáp xãThị trấn
Thiên Cầm ,Tuyến thông quốc gia đi qua, gồm có quốc lộ 1A dài 0,4 km nằm phía
nam của xã,có sông Quèn 6 km,xã có1.262 hộ, dân số 4.595 người. Được phân bố 9
thôn,thôn ít nhất 52 hộ;thôn nhiều nhất có 178 hộ. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa có
2340 khẩu chiếm 52% dân số.
2.1.2 Địa hình thổ nhưỡng
Là một xã nằm ở vùng thấp trũng ,đồng ruộng chua phèn.
Xã có diện tích 622 ha, đất nông nghiệp có 285,57 ha, trong đó đất trồng lúa
132 ha, đất trồng cây công nghiệp và hoa màu là 11 ha, đất lâm nghiệp có 69,3 ha, đất
nuôi trồng thủy sản 22ha, đất phi nông nghiệp 324 ha, đất sông suối mặt nước
202,85ha,còn lại đất khác.
2.1.3 Khí Hậu Và Thủy Văn
Xã Cẩm Lộc nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của
khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh. Tuy nhiên do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ
lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so
với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng.
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí
hậu miền Bắc có mùa đông lạnh. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 và mùa
lạnh bắt đầu từ thang 9 tới tháng 2 năm sau.
Nhiệt độ không khí vào mùa đông thường từ 18-22◦C, ở mùa hè bình quân
nhiệt độ đất từ 25.5-33◦C. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu
sắc đất,độ che phủ và độ ẩm của đất .
Hà Tĩnh nói chung và xã Cẩm Lộc nói riêng có lượng mưa nhiều như ở miền
Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình
quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm.
20
Bảng 3:Tình hình dân số và lao động của xã Cẩm Lộc năm 2014
Chỉ tiêu
DVT
2014
Tổng số hộ
Tổng dân số
Tốc độ tăng dân số
Tổng lao động
Lao động nam
Lao động nữ
BQ lao động/hộ
BQ nhân khẩu/hộ
Hộ
Người
%
Người
Người/hộ
Người/hộ
1253
4758
0.88%
2700
1500
1200
2.1
Dt(ha)
Cơ cấu%
622
285.57
100
45.9
Đất trồng lúa
132
21.2
69.3
11.1
22
3.5
11
1.7
2.Đất phi nông nghiệp
Đất NTTS
Đất trồng cây công nghiệp và rau màu
(nguồn:Phòng thống kê xã Cẩm Lộc)
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 622 ha.Trong đó đất nông nghiệp là
285.57 ha chiếm 45.9% với tỷ lệ bình quân diện tích đất nông nghiệp /khẩu là 0,05.
Hoạt động sản xuất của hầu hết là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh
bắt hải sản, ta có thể thấy được thông qua diện tích đất nông nghiệp 285,57 ha và đất
nuôi trồng thủy sản 22 ha, chiếm tỉ lệ trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã lần
lượt là 45,9% và 3,5%. Diện tích đất trồng cây rau màu và cây công nghiệp là 11 ha,
chiếm 1,7% trong diện tích đất tự nhiên, bên cạnh đó ta thấy diện tích đất lâm nghiệp
là 69,3 ha và đất hoang hóa là 24,77 ha, chiếm tỉ lệ theo lần lượt là 11,1% và 3,98%.
Ngoài ra, diện tích đất sông suối mặt nước 202,85 ha, cũng chiếm một phần tương đối
lớn trong diện tích đất của xã với tỉ lệ là 32,6%. Qua đó cho ta thấy rằng, địa phương
đã biết tận dụng và khai thác tối đa diện tích đất của xã để phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Đồng thời, để tăng diện tích đất sản xuất xã đã áp dụng các biện pháp đẩy
mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng và vật nuôi.
Đất đai luôn có hạn về diện tích nhưng khả năng sinh lời là vô hạn, tuy nhiên
nếu sử dụng có hiệu quả chúng ta phải tăng cường đầu tư, cải tạo, bồi dưỡng và tuyệt
đối không bao giờ được để bỏ hoang đất hoặc không sử dụng để không ngừng nâng
cao độ phì nhiêu cho đất.
2.2.3 Đặc điểm kinh tế.
Xã Cẩm Lộc nằm ở phía Đông Nam của huyện Cẩm Xuyên, là vùng có sông
nối ra biển. Đây là xã nông nghiệp kết hợp các ngành nghề truyền thống như trồng lúa,
23
nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản. Hầu hết, người dân ở đây sinh sống bằng nghề nông
nghiệp và đánh bắt thủy hản sản. Kinh tế nông nghiệp chiếm 70%, dịch vụ thương
thời vụ trong sản xuất nông nghiệp vì một số kênh mương đã xuống cấp nên hao hụt
nước khi vận hành cao.
Về hạ tầng điện: Cẩm lộc có có 3 trạm biến áp với tổng công suất 600KVA,
đường dây cao thế 10KV có 4,5 km.Đường dây 04 có 13 km, mức độ đạt so với yêu
cầu là 80%.Hiện tại cần một trạm biến áp 250kv để phục vụ dân sinh và khu vực trang
trại.
Về cơ giới hóa trong nông nghiệp: Toàn xã có16 máy làm đất có công suất
>15KV, diện tích đất làm bằng máy chiếm 85%.
Máy thu hoạch lúa có 1 máy đảm bảo thu hoạch lúa 25% diện tích.
Toàn xã có 15 xe vận tải đáp ứng được 47% nhu cầu vận chuyển của nhân dân.
Với mức đầu tư 5 năm qua ước đạt 29,7 tỷ đồng đạt 98,7% kế hoạch.Trong đó
nguồn vốn NSNN là 9,6 tỷ đồng;nguồn vốn tín dụng nhà nước 7 tỷ đồng, nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 6,8 tỷ đồng, nguồn huy động trực tiếp đóng góp từ nhân
dân 6,3 tỷ đồng. Để tiếp tuc phấn đấu trong 5 năm tới giai đoạn 2016-2020 nhằm giải
quyết cơ bản cơ sở hạ tầng thiết yếu đáp ứng được các chỉ tiêu về chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu về nguồn vốn đầu tư đạt 30,6 tỷ đồng.
Trong đó xây dựng các công trình trọng điểm, đường trục xã nhà văn hóa cộng
đồng,các công trình trường tiểu học,mầm non, hội quá các thôn,hệ thống các kênh
mương và đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng.
2.2.5 Đặc điểm văn hóa
2.2.5.1 Các hoạt động văn hóa thông tin,thể thao
Với quan điểm văn hóa là vừa là nền tảng tinh thần vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy xã hội phát triển, các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và cuộc
vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hóa ở khu dân cư đả được phát
triển lẫn bề rộng lẫn bề sâu. Phong trào xây dựng làng văn hóa,gia đình văn hóa, gia
đình thể thao, cơ quan đơn vị văn hóa, văn minh được phát triển rộng khắp. Sau 5 năm
đã xây dựng được 6 làng văn hóa cấp huyện, phấn đấu đến cuối năm 2015 xây dựng
thêm 2 thôn văn hóa cấp huyện.