Thái độ của sinh viên đại học thể dục thể thao thành phố hồ chí minh đối với giá trị sống - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ

Nguyễn Thị Ánh

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THỂ DỤC
THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ

Nguyễn Thị Ánh

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THỂ DỤC
THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số
: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. TRẦN THỊ QUỐC MINH

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận
văn còn nhiều thiếu, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh/ chị
học viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Ánh

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 6
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 7
4. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................................... 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 8
6. Giới hạn nghiên cứu: ...................................................................................................... 8
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
8. Cấu trúc luận văn ........................................................................................................... 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG CỦA
SINH VIÊN ................................................................................................................ 11
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 11

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 90

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
• ĐH TDTT

: Đại học Thể dục thể thao

• GDTC

: Giáo dục thể chất

• HLTT

: Huấn luyện thể thao

• QLTT

: Quản lý thể thao

• SV

: Sinh viên

• TLH

: Tâm lý học


Các giá trị nói chung được coi là cốt lõi của nhân cách. Nó được hiểu là tổ hợp
các thuộc tính tâm lý của nhân cách, qui định chiều hướng và tính chất của hành vi.
Giá trị được thể hiện ở vai trò, vị trí, lối sống của cá nhân.
Giá trị sống là cơ sở để cá nhân tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động, hành vi
ứng xử trong cuộc sống. Nó thôi thúc con người làm những điều tốt đẹp có ích cho
bản thân và cộng đồng. Ngoài ra, giá trị sống còn là động lực thúc đẩy hành vi của
con người, khơi gợi con người làm những điều tốt đẹp. Nếu thiếu các giá trị sống nền
tảng con người sẽ thiếu động cơ, mục đích sống, không biết cách xây dựng và duy trì
mối quan hệ, không biết tôn trọng bản thân và người khác…
Sinh viên là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, đại diện cho lực lượng lao
động có trình độ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội
nhập khu vực và quốc tế. Việt Nam luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực tương lai
có đầy đủ năng lực chuyên môn và những giá trị sống cần thiết để chung sống trong
thời đại ngày nay. Tuy nhiên hiện nay giá trị sống của không ít người trẻ tuổi, trong
đó có sinh viên, đang thay đổi theo hướng coi trọng các giá trị vật chất, quyền lực và
sự giàu sang mà ít coi trọng các giá trị tinh thần. Việc nghiên cứu nhận thức của sinh
viên về giá trị sống sẽ giúp người nghiên cứu phác họa bức tranh về thực trạng giá trị
sống của sinh viên, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh
viên về giá trị sống là một điều thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Sinh viên thể thao, là thế hệ được đào tạo để phát triển một lực lượng huấn luyện
viên, giáo viên tương lai nhằm thực hiện một trong những nhiệm vụ cơ bản, quan
trọng của giáo dục là giáo dục đức - trí - thể - mỹ, đặc biệt là giáo dục thể chất. Ngoài
6


sự phát triển về thể lực thì việc giáo dục các gia trị sống có vai trò vô cùng quan
trọng. Sự phát triển này tác động chi phối các hoạt động tâm lý, hành vi và thái độ
trong học tập, thi đấu và trong cuộc sống của các em. Vì thế, nếu nhận thức đúng đắn
và có thái độ phù hợp với những giá trị sống trong giai đoạn này sẽ có ảnh hưởng tích
cực đến cuộc sống, công việc của các em.

sống cho sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao TP. HCM.
6. Giới hạn nghiên cứu:
6.1. Giới hạn về nội dung
Trong đề tài này người nghiên cứu chỉ tìm hiểu các nội dung liên quan đến thái
độ của sinh viên đối với giá trị sống
6.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sinh viên ba khoa: Khoa Giáo dục thể chất , Khoa Huấn luyện
thể thao và Khoa Quản lý thể thao trường Đại học TDTT TP.HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu khoa học có liên quan đến
đề tài làm cơ sở lý luận định hướng cho việc tìm hiểu thực tiễn.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1.Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Mục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài. Dựa trên cơ sở lý luận, các đề
tài tham khảo có liên quan, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu thái độ
của sinh viên đối với một số giá trị sống, cụ thể là các vấn đề sau:
- Thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
- Thái độ của sinh viên đối với bốn giá trị: tôn trọng, trung thực, tự do và yêu
thương
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với giá trị sống
- Các biện pháp xây dựng thái độ của sinh viên đối với giá trị sống

8


Nội dung: Tìm hiểu mức độ nhận thức – thái độ - hành vi của sinh viên về đối
với một số giá trị sống.
Cách thức tiến hành
Thiết kế bảng hỏi: Trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi mở, kết hợp với việc tổng hợp

1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với các giá trị sống
1.3 Đặc điểm tâm lý cúa sinh viên Đại học Thể dục thể thao
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TDTT TP.
HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG
2.1. Thể thức nghiên cứu
2.1.1. Khách thể nghiên cứu
2.1.2. Mô tả công cụ nghiên cứu
2.2. Thực trạng thái độ của sinh viên Đại học TDTT TP Hồ Chí Minh đối với giá
trị sống
2.2.1. Thái độ của sinh viên TDTT đối với giá trị sống
2.2.2. Thái độ của sinh viên đối với 4 giá trị sống
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
2.3. Một số biện pháp xây dựng thái độ tích cực đối với giá trị sống cho sinh viên
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

10


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ
SỐNG CỦA SINH VIÊN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giá trị và giáo dục giá trị là mối quan tâm đặc biệt của các nhà giáo dục
trong định hướng phát triển nhân cách con người. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này
1.1.1. Trên thế giới

Trong những năm cuối của thế kỷ 20, vấn đề giá trị và định hướng giá trị ngày
càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm như Ba Lan, Liên Xô, Bungary, Nhật

Philipin và tập tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm canh tân và Công
nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á – xuất bản năm 1992.
Tài liệu này đã trình bày quan điểm, mục tiêu, chương trình và cách đưa giáo dục giá
trị vào nhà trường cộng đồng của các nước Indonesia, Philipin, Singapo, Malaysia,
Thái lan.
1.1.2. Ở Việt Nam

Cũng như các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt nam, khi nghiên cứu về vấn đề
giá trị, các tác giả cũng quan tâm nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị.
Các đề tài cấp nhà nước trong chương trình nghiên cứu về con người (KX-07)
đều có đề cập đến hệ giá trị, định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều
kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, đổi mới, mở cửa.
“Tổng quan về giá trị và giáo dục giá trị”, đề tài Đề tài KX – 07 – 04. H.( 1993)
do Lê Đức Phúc và Mạc Văn Trang thực hiện.[23]
“Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”. Đề tài KX – 07 – 04.
H. 1995 của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang.[32]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa đã phân tích các giá trị
truyền thống của con người Việt Nam và 12 giá trị sống phổ quát của UNESCO. Từ
đó đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh phổ thông. [16]
Tác giả Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Thị Kim Liên đã nghiên cứu và đề xuất
các giá trị sống cần được giáo dục ở lứa tuổi học sinh và phương pháp giáo dục giá trị

12


sống. Từ đó hai tác giả đề xuất xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục giá trị sống và
phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sơ[13]
Tác giả Lục Thị Nga có đề tài phân tích công tác quản lý của hiệu trưởng trường
trung học cơ sở trong công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống[17]
Đề tài “Nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học Hà Nội trong

chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào đó.
2. Là cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước một
vấn đề, một tình hình.
Theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 2001, thái độ, tiếng Pháp
attitude, được giải thích như sau: trước một đối tượng hoặc một ý tưởng, con người
bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn như tiếp nhận rõ ràng hay khó khăn, đồng
tình hay chống đối, như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc
ứng phó. Từ những thái độ có sẵn, tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối.[
35]
Nhà tâm lý học xã hội Hoa Kỳ G.V.Onparte cho rằng “thái độ” là trạng thái thần
kinh và tâm lý của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm, nó ảnh hưởng và
điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân
đó.[32,tr 70]
Theo Uzonataze “thái độ” là một trạng thái toàn vẹn của chủ thể. Đó là sự phản
ánh cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ thể phải đặt ra và
giải quyết tình huống.(giống trên Nguyễn Quang Uẩn)
Bên cạnh đó còn có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ. Chẳng hạn, định
nghĩa của Allport về thái độ, “thái độ là trạng thái sẵn sang về mặt tinh thần và thần
kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng
năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà
phản ứng cá nhân ấy có mối quan hệ” [11, tr 319].
Newcome cho rằng tháu độ của một cá nhân đối với một khách thể nào đó là
“thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của cá nhân ấy với khách thể
liên quan”. Đó là sự sẵn sàng phản ứng [11, tr319].
Trước đó nữa, các nhà nghiên cứu Thomas và Znaniecki đã chú ý tới sự thích
ứng của một nhóm khách thể nghiên cứu đối với sự thay đổi của môi trường xã hội,
thay đổi các giá trị được lựa chọn bởi nhóm khách thể ấy, mà đặc điểm chủ yaaes của
14





chung về khái niệm thái độ mà các định nghĩa đều có đề cập đến. Đó là, thứ nhất, thái
độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm,cảm nghĩ, ) và bên ngoài
(hành động, hành vi, sự thích ứng,…) của cơ thể; thứ hai, thái độ … khi có mối liên
quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng,một con người, một nhóm người)
với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể; thứ ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh mối
quan hệ giữa chủ thể của thái độ và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn
cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…). Do đó,
thái độ là đối tượng nghiên cứu của cả tâm lý học cá nhân và tâm lý học xã hội.
Cho đến ngày nay, thái độ vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu vì nội hàm của nó
rất rộng, khó xác định một cách đầy đủ trọn vẹn, cũng như khó đo lường một cách
chính xác tuyệt đối. Như vậy thái độ là một khái niệm được sử dụng thường xuyên
trong khoa học nói chung và khoa học tâm lý nói riêng. Chưa có một khái niệm thống
nhất mà dưới mỗi góc độ khác nhau người ta có thể hiểu vấn đề này khác nhau. Dưới
góc độ hiểu biết của mình chúng tôi cho rằng “Thái độ là hệ thống những suy nghĩ,
tình cảm, cách đánh giá của chủ thể đối với các tác động của thế giới khách quan.
Đó là sự đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay phản đối, sự chấp thuận hay
không chấp thuận một dạng phản ứng nào đó của cá nhân hay nhóm xã hội.”
1.2.1.2. Đặc điểm của thái độ
a. Đặc điểm của thái độ
Đầu tiên thái độ là những rung cảm, xúc cảm đối với những đối tượng mới hay
là tình cảm đối với những đối tượng quen thuộc. Đó chính là mặt bên trong của thái
độ. Thái độ còn được biểu hiện ra bằng những ý định và hành vi, cử chỉ, đó chính là
mặt bên ngoài của thái độ. Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể
hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn, nguyên xi mà có thể bị giấu kín nếu như cảm thấy
cần che giấu, khi đó chủ thể sẽ kiềm chế, đè nén và không biểu lộ thái độ của mình.
Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng khá rõ rệt. Đối với con
người, thái độ bao giờ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhất định. Thế
nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi

với đối tượng của thái độ. Trong cấu trúc thái độ, tình cảm thể hiện ở các cảm xúc của
cá nhân đối với đối tượng của thái độ.Tình cảm là thành phần vô cùng quan trọng
trong cấu trúc thái độ.Với tình cảm tích cực có thể kích thích chủ thể hành động tích
17


cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực và ngược lại tình cảm tiêu cực có thể kìm
hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể.
- Thành phần hành vi: là sự thể hiện thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông
qua xu hướng hành động và hành động thực tế. Thái độ và hành vi luôn có sự quy
định lẫn nhau, hành vi là một thành phần cấu thành nên thái độ, thái độ muốn biểu
hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi .Vì vậy, hành vi là hình thức biểu hiện cụ
thể nhất của thái độ.
Trong đời sống tâm lý của con người, nhận thức được coi là một trong ba mặt cơ
bản (nhận thức, thái độ và hành động). Quá trình nhận thức về đối tượng là quá trình
con người tìm tòi, khám phá những thuộc tính bề ngoài và cả những thuộc tính bản
chất, những quy luật của đối tượng. Khi một sự vật, hiện tượng tác động đến cá nhân,
để có thái độ nhất định đối với sự vật hiện tượng đó thì trước hết, cá nhân phải có sự
hiểu biết về đối tượng đó (cho dù hiểu biết đúng hay sai). Trong cấu trúc của thái độ,
nhận thức là “điều kiện cần” cho việc hình thành thái độ. Xúc cảm - tình cảm là thành
phần quan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kìm hãm tính tích cực hoạt động
của chủ thể. Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với đối tượng. Mặc dù
giữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn, nhưng nhìn chung, hành vi
vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ.
Ba thành phần nêu trên trong cấu trúc của thái độ có quan hệ chặt chẽ với nhau,
sự thống nhất giữa chúng tạo nên một thái độ xác định của chủ thể. Đứng trước một
đối tượng nào đó, để có thái độ với đối tượng đó, con người phải tuân theo quy luật
sau: trước hết, con người phải nhận thức (có hiểu biết) về đối tượng; nhận thức đó sẽ là
cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc cảm, tình cảm với đối tượng (yêu – ghét,
thích – không thích…); cuối cùng, với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status