TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG - Pdf 37

Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG.
Hoàn cảnh lòch sử.
Vào giữa TK XIX, nước Việt Nam ta đã bò thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc
tiến công vào cảng Đà Nẵng (1-9-1858). Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình đònh vũ
trang, thiết lập bộ máy thống trò, thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc đòa nhằm
cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thò trường tiêu thụ
hàng hóa của chính quốc. Chính sách thuộc đòa của Pháp ở Việt Nam và cả Đông Dương là bóc
lột nặng nề về kinh tế, chuyên chế về chính trò, kìm hãm nô dòch về văn hóa, nhằm đem lại lợi
nhuận tối đa cho bọn tư bản lũng đoạn Pháp chứ không phải đem đến cho nhân dân các nước
Đông Dương sự “khai hóa văn minh”.
Để tiến hành khai thác thuộc đòa thì phải xuất khẩu tư bản đến thuộc đòa. Từ 1860 đến
1912, qua hình thức cho vay, chính phủ Pháp và các tập đoàn tư bản ngân hàng Pháp đã đầu tư
vào Đông Dương 499 tỷ phrăng. Hậu quả của sự xuất khẩu tư bản và du nhập CNTB theo kiểu
thực dân vào nước ta đã đem lại những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, chính trò và giai cấp.
Với lòng yêu nước truyền thống nồng nàn, tinh thần anh hùng bất khuất, nhân dân ta đã
liên tục đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập. Các phong trào kháng chiến đã diễn ra
liên tiếp, sôi nổi dưới nhiều hình thức và màu sắc khác nhau nhưng cuối cùng đều bò thất bại và
nguyên nhân là do thiếu một giai cấp tiên tiến có khả năng đề ra đường lối đúng đắn cho Cách
mạng (CM) Việt Nam. Xã hội Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời:
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào CM trong nước thì những đồng chí hội viên
tiên tiến của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội ở Bắc Kỳ đã tiến hành họp tại số nhà 5D
Hàm Long Hà Nội vào đầu 3-1929 để tiến hành thành lập ra chi bộ CS đầu tiên ở trong nước và
chi bộ này đã ra nghò quyết: phải thành lập ra Đảng CS. Cuối 3-1929 ĐH kì bộ Bắc Kỳ của Việt
Nam thanh niên CM đồng chí hội cũng được tiến hành và ĐH này đã thông qua chủ trương thành
lập Đảng của chi bộ CS đầu tiên đồng thời ĐH cũng cử đại biểu đi dự ĐH thanh niên toàn quốc
và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đại biểu: phải đấu tranh để chủ trương thành lập Đảng được
chấp thuận tại ĐH thanh niên toàn quốc.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Nêu rõ nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam : chống đế quốc và chống phông
kiến : trong đó nhiệm vụ chống đế quốc được đặt lên hàng đầu còn nhiệm vụ chống phông kiến
htực hiện từng bước theo từng giai đoạn của đất nước.
Nêu rõ lực lượng lảnh đạo, động lực của cách mạng : giai cấp tiến trình cách mạng gồm
hai giai cấp công nhân và nông dân, lực lượng cách mạng gồm bốn giai cấp công , nông , tư sản
và tiểu tư sản cách mạng
Phương pháp cách mạng :sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng giành chính quyền
gồm : lực lượng chính trò và đấu tranh chính trò ; lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang
Đấu tranh khi có tình thế và thời cơ: giáo dục giác ngộ quần chúngtrưởgn thành khi có
thời cơ xuất hiên vấn đề giành chính quyềntrực tếp đặt ra
Mối quan hệ giữa cácn mạng Việt Nam và cách mạng thế giới: cách mạng Việt nam là
một bộ phận của cách mạng thế giới chòu sự lảnh đạo trực tiếp cách mạng thế giới nhưng đồng
thời phải tích cực chophong trào cách mạng thế giới
Vai trò lảnh đạo của Đảng: trong nước Đảng Đảng có nhiêm vụ vận động và tổ chức
quần chúng đấu tranh, bên ngoài liên lạc với các giai cấp vô sản thống nhất hành động.
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG:
Quá trình Đảng lảnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền CM (1930 -1945)
*Hội nghò TW lần I (10-1930) tại Hương Cảng Trung Quốc với nội dung:
-

Đổi tên Đảng CS Việt Nam thành Đảng CS Đông Dương.

-

Thông qua luận cương chính trò do đồng chí Nguyễn i Quốc soạn thảo.


Chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, quyết đònh thành
lập mặt trận phản đế Đông Dương thay cho mặt trận dân chủ Đông Dương và thay đổ
khẩu hiệu: “ tòch thu ruộng đất của phong kiến và đế quốc ” thành “ tòch thu
ruộng đất của đế quốc và tay sai”.

-

Đặt võ trang bạo động giành chính quyền nhưng không vạch được bước đi của
khởi nghóa vũ trang.

*Hội nghò TW 7 (11-1940) tại Đình Bảng-Từ Sơn-Bắc Ninh do đồng chí Trường Chinh
chủ trì với nội dung:
-

Xác đònh kẻ thù của CM Đông Dương lúc này là phát xít Nhật và thực dân
Pháp, thay khẩu hiệu “ đánh đuổi thực dân Pháp” thành “ đánh Pháp đuổi Nhật”.

-

Tán thành hội nghò 6 về việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

-

Đặt võ trang bạo động vào chương trình nghò sự. Cụ thể là hoãn cuộc khởi
nghóa Nam Kỳ duy trì lực lượng khởi nghóa Ba Sơn.
*Hội nghò TW 8 (5-1941) tại Cao Bằng do đồng chí Nguyễn i Quốc chủ trì với nội

dung:
-

Đảng đi theo đường lối của Đảng CS và nhiều người sau này trở thành Đảng viên
CS, cuộc đấu tranh trên báo chí công khai diễn ra trên hai lónh vực: triết học và văn
học và trên nghò trường. Phong trào CM Việt Nam cuối 1934 đầu 1935 phát triển,
nhiều cuộc bãi khóa, đình công lại liên tục nổ ra trên cả nước.

-

Với cao trào dân chủ Đông Dương (1936-1939) buộc nhà cầm quyền Pháp ở
Đông Dương phải ban bố một số nghò đònh tạm thời: thời gian làm việc của Công
nhân từ 12h / 1 ngày xuống còn 8h / 1 ngày và được nghỉ ngày Chủ nhật, thả một số
tù chính trò. Đây là cuộc diễn tập thử lần hai thiết thực chuẩn bò về mọi mặt cho việc
giành chính quyền CM của Đảng.
Sang đầu năm 1945 tình hình chiến tranh thế giới lần 2 cũng bước vào giai đoạn kết

thúc: Hồng quân Liên Xô sau khi tiêu diệt phát xít Đức đã quay lại đánh đạo quân Quan
Đông của Nhật làm cho bọn lính Nhật ở Đông Dương hoang mang lo sợ thực dân Pháp đứng
ở phía sau đảo chính lật đổ Nhật chiếm lấy Đông Dương. Vì thế, đêm 9-3-1945 Nhật đã tiến
hành trước cuộc đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương. Hội nghò TW 8-3-1945 tại Tân
Trào đã diễn ra đúng lúc Nhật tiến hành đảo chính Pháp đã xác đònh kẻ thù của ta lúc này là
phát xít Nhật, thay đổi khẩu hiệu “ đánh đuổi Pháp-Nhật” thành “ đánh đuổi phát xít
Nhật” và dự kiến thời cơ khởi nghóa. Hội nghò ra chỉ thò Nhật-Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta. Thực hiện chủ trương của TW cao trào kháng Nhật đã diễn ra sôi nổi trên cả

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------nước. Nhiều cuộc khởi nghóa từng phần đã diễn ra và giành thắng lợi ở một số đòa phương
nên thời cơ tổng khởi nghóa đang đến gần. Vì vậy, 13-8-1945 Đảng đã tiến hành hội nghò
toàn quốc tại Tân Trào và 15-8-1945 phát xít Nhật đã tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều

bò thủ tiêu và nhân dân ta có khả năng trở lại cuộc sống nô lệ.
Trước tình hình đó Đảng đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, 25-11-1945
Đảng ra chỉ thò “ kháng chiến kiến quốc”. Đảng phát động phong trào Nam Tiến để tăng cường
cho cuộc kháng chiến. Thực hiện chủ trương của Đảng, cuộc kháng chiến được duy trì và phát
triển đã đánh tan âm mưu của thực dân Pháp chỉ thôn tính Miền Nam(MN) Việt Nam. Đảng đẩy
mạnh sản xuất để giải quyết khó khăn về mặt kinh tế, đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ với
chủ trương người biết chữ dạy cho người không biết chữ , tổ chức tổng tuyển cử bầu quốc hội
trong cả nước và kết quả bầu được 333 đại biểu . Đây thực sự là cuộc động viên chính trò rộng
lớn của toàn dân nhằm biểu dương sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Cuộc tổng tuyển cử đã tạo
ra một cơ sở pháp lý cho chúng ta chống kẻ thù trên mặt trận ngoại giao.
Để tập trung lực lượng của CM vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là thực dân Pháp xâm lược
ở MN, Đảng chủ trương “ hoà với Tưởng” tạm thời chấp nhận 1 số yêu cầu của Tưởng nhưng
phải giữ được chính quyền CM và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền. Đưa ra khẩu
hiệu “ Hoa-Việt thân thiện” tiếp xúc thân thiện với Tưởng, sách lược này đạt kết quả. Lúc này,
Pháp đẩy mạnh công cuộc lấn chiếm Nam Bộ, bọn Tưởng muốn nhanh chóng thôn tính Miền
Bắc (MB) nước ta nên cử tên Hà Ứng Khâm sang Hà Nội. Đảng ta đã cử 30 vạn dân Việt Nam
xuống đường hô hào khẩu hiệu” nước Việt Nam thuộc người Việt Nam ủng hộ chính phủ CM
do Hồ Chí Minh đứng đầu” làm Hà Ứng Khâm kinh hoàng từ bỏ ý đònh thôn tính MB. Ở Trung
Quốc, phong trào CM do Đảng CS lãnh đạo lại phát triển mạnh mẽ, buộc quân Tưởng phải rút
quân về nước để đối phó tình hình trong nước. Nhưng trước khi về nước Tưởng đã kí hoà ước với
Pháp: chấp nhận cho quân Pháp vào thay Tưởng ở MB Việt Nam và ngược lại Pháp nhường cho
Tưởng đường xe lửa ở Vân Nam và một số quyền lợi khác.
Sau khi hòa ứơc Hoa-Pháp được kí kết, Pháp đã tràn vào nước ta và chiếm đóng tại Lai
Châu đồng thời thực dân Pháp ở MN lại ráo riết chuẩn bò tàu chiến đưa quân đổ bộ lên vònh Bắc
Bộ và cảng Hải Phòng. Đảng đưa ra sách lược “ hòa với Pháp” và kí với Pháp hiệp đònh sơ bộ,
nhưng Pháp vi phạm hiệp đònh nên Đảng phát động phong trào đình công, bãi khóa trên cả nước,
buộc Pháp đàm phán chính thức. Thực dân Pháp lộ rõ âm mưu xâm lược nước ta. Cuối 5-1946

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------



-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------này nên Mỹ đã tiến hành viện trợ cho Pháp và ép Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Sau khi Pháp nhận được viện trợ của Mỹ, Pháp đã cử tên tướng Nava làm tổng chỉ huy quân
Pháp ở Đông Dương và ông ta đã lập ra kế hoạch Nava. Để thực hiện kế hoạch này, Pháp đã đổ
thêm 12 tiểu đoàn xuống vònh Bắc Bộ, và trở thành nơi tập trung binh lực lớn nhất của Pháp ở
Đông Dương. Đảng ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân (1953-1954), 1-1953
bộ đội ta bắt đầu tiến công lên Tây Bắc, chỉ trong thời gian ngắn đã giải phóng thò xã Lai Châu
và tỉnh Lai Châu buộc Nava phải điều quân lên Lai Châu, cho quân đổ bộ xuống Điện Biên Phủ
đồng thời xây dựng thành căn cứ quân sự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương và là nơi tập trung
lực lượng lớn thứ 2 ở Đông Dương. Đảng ta phối hợp giải phóng thò xã ATôBơ, đòch tập trung
quân lên ATôBơ và là nơi tập trung lực lượng lớn thứ 3 ở Đông Dương. Quân ta tiếp tục tiến
đánh thò xã PhôngXaLỳ và cao nguyên BôLôVen, Nava điều quân từ Bắc Bộ lên và nơi này trở
thành nơi tập trung lực lượng lớn thứ 4 ở Đông Dương. Đảng ta tập trung lực lượng đánh cứ điểm
Điện Biên Phủ và để đánh lạc hướng đòch 1-1954 ta đánh KomTum và trở thành nơi tập trung
lực lượng đứng thứ 5 ở Đông Dương. Sau khi mọi công tác chuẩn bò cho chiến dòch Điện Biên
Phủ hoàn tất, 13-3-1954 tiếng súng đầu tiên bắt đầu nổ. Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu liên
tục với 3 đợt tiến công đến 7-5-1954 thì giành thắng lợi hoàn toàn. Sau thắng lợi Điện Biên Phủ
8-5-1954 hội nghò Giơ-Ne bắt đầu họp và bàn về việc thiết lập lại hòa bình cho dân tộc Việt
Nam. Đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn đi dự đại hội với cương quyết giữ vững độc
lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta. 27-7-1954 hiệp đònh Giơ-Ne được kí kết lập
lại hòa bình cho Việt Nam với nội dung chính: lấy vó tuyến 17 làm vó tuyến tạm thời để tập trung
lực lượng giữa hai bên. Sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tiền cử đòa phương và thống nhất đất nước.

Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ(1957_1975)
Đất nước tạm thời chia làm 2 miền với 2 chế độ chính trò khác nhau. Vì thế, cùng một lúc
Đảng phải lãnh đạo 2 nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền khác nhau. Đây là nét độc đáo của CM

trào đấu tranh rộng khắp mà đỉnh cao là thắng lợi phong trào Đồng Khởi và kết quả là sự ra đời
của mặt trận dân tộc giải phóng MN(20-12-1960). Thắng lợi của Đồng Khởi đã để lại cho Đảng
ta một bài học kinh nghiệm quý báu về vận dụng thời cơ khởi nghóa.
Sau khi, chiến lược chiến tranh đơn phương của đế quốc Mỹ thất bại, Mỹ chuyển sang
chiến tranh đặc biệt với âm mưu nhằm tiêu diệt phong trào nổi dậy và tiến công của đồng bào ta
ở MN. Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ đã tăng cường bình đònh, dồn dân lập ấp chiến lược để tách

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------dân ra khỏi CM đưa vào thế kèm kẹp của Mỹ ngụy, tăng cường đôn quân bắt lính, trang bò huấn
luyện cho quân ngụy thành đội quân có khả năng cơ động chiến lược mạnh. Đảng chủ trương
qua nghò quyết TW 12-1962 : đấu tranh vũ trang song song đấu tranh chính trò, chia 3 vùng chiến
lược (nông thôn-rừng núi, nông thôn-đồng bằng và thành thò) để căn cứ vào so sánh lực lượng
giữa ta và đòch ở từng vùng mà tìm phương pháp chiến tranh thích hợp cho từng vùng. Trên
chiến trường MN, quân và dân giành liên tục những thắng lợi to lớn. Chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm tỏ ra bất lực, Mỹ tiến hành lật đổ Diệm đưa Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên
thay nhưng tình hình chính trò ở MN cũng không ổn đònh, khi Kenedy bò ám sát, Jonhson lên đưa
ra kế hoạch Manamara: bình đònh MN trong vòng 2 năm nhưng có trọng điểm đó là 8 tỉnh của
đồng bằng sông Cửu Long. Trước tình hình đó, Đảng mở đường dây 559 để đưa lực lượng MB
vào MN và cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào MN làm bí thư cục MN, lực lượng của ta tập hợp
thành đơn vò lớn và nhằm vào chủ lực quân ngụy để tiêu diệt. 3 chiến thắng: Bình Giả (121964), Ba Gia (5-1965), Đồng Xoài (6-1965) đã làm cho quân ngụy có nguy cơ bò tiêu diệt hoàn
toàn và chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ càng bò thất bại hoàn toàn. Vì thế, Mỹ đã ồ ạt
đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào MN để cứu vãn sự sụp đổ của ngụy.
Trước thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt, Mỹ buộc phải chuyển hướng sang
chiến tranh cục bộ với âm mưu: Đối với MB, từ 8-1964 Mỹ cho không quân, hải quân bắn phá
phá hoại công cuộc xây dựng CNXH và xây dựng đất nước, ngăn chặn sự chi viện của MB cho
MN, đánh gục ý chí đánh Mỹ của nhân dân ta ở MB. Đối với MN, đưa quân vào MN tiêu diệt
lực lượng vũ trang của nhân dân ta và đẩy lực lượng vũ trang của ta ra xa biên giới, từ đó làm

cực của hậu phương MB. Trên chiến trường MN chúng ta đã liên tục giành được những thắng lợi
lớn, đặc biệt, sang đầu năm 1970 quân và dân ta ở MB đã đập tan 2 cuộc hành quân chiến lược
của quân Ngụy. Trước thắng lợi 1970, sang năm 1972, Đảng ta tiếp tục mở chiến dòch Nguyễn
Huệ với chủ trương “kết thúc chế độ đế quốc nước ngoài xâm lược nước ta”. Chiến dòch thắng
lợi đã buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận ký nghò đònh sẽ ký hiệp đònh Pari để lập lại hòa bình
cho Việt Nam nhưng trước khi ký Mỹ đã tập kích chiến lược B52 từ 18 đến 30-12-1972 với ý đồ
đưa thủ đô Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá để buộc nhân dân ta quỳ gối đầu hàng theo các điều
kiện do Mỹ đặt ra. Mỹ thất bại và buộc phải kí hiệp đònh Pari 27-1-1973. Sau khi hiệp đònh Pari
được kí kết chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu đã không chấp hành hiệp đònh: chúng liên
tục hô hào binh lính tràn ngập lãnh thổ, mở các cuộc hành quân càng quét lực lượng ta. Tuy vậy,

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------việc kí kết hiệp đònh Pari đã làm cho so sánh lực lượng giữa ta và đòch trên chiến trường lúc này
đã có sự thay đổi to lớn có lợi cho CM MN. Trước tình hình đó Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hơn
nữa sức mạnh tiến công của bộ đội chủ lực và trên chiến trường MN bộ đội ta liên tục giành
được những thắng lợi lớn, đẩy quân Ngụy vào thế khủng hoảng toàn diện và đặc biệt là chiến
thắng Phước Long 8-1-1975 mở ra một khả năng là trên thực tế ta có thể tiến lên giải phóng
hoàn toàn MN. Hội nghò bộ chính trò họp 8-1-1975 và chủ trương tập trung lực lượng cả 2 miền
để nhanh chóng giải phóng MN trong 2 năm 1975-1976, ta đã mở chiến dòch Tây Nguyên được
mang tên là chiến dòch A375 do trung tướng Hoàng Minh Thảo làm tư lệnh trưởng và mở đầu là
trận đánh vào Buôn Mê Thuộc 10-3-1975. Trước thắng lợi của thò xã Buôn Mê Thuộc, bộ đội
quyết đònh tập trung lực lượng trước mùa mưa 1975, mở chiến dòch Huế và chiến dòch Đà Nẵng.
26-3-1975 , ta giải phóng Huế và 29 – 3 – 1975 giải phóng Đà Nẵng, xóa bỏ toàn bộ quân khu
của đòch và đẩy đòch vào thế khủng hoảng toàn diện. Bộ chính trò đã chỉ thò tập trung lực lượng
giải phóng Sài Gòn trước 5-1975, 19-4-1975 tại căn cứ bộ tư lệnh miền ở Tà Thiết đã thành lập
bộ chỉ huy chiến dòch đánh vào Sài Gòn – Gia Đònh, mang tên chiến dòch Hồ Chí Minh và đồng
chí Văn Tiến Dũng làm tư lệnh trưởng, đồng chí Phạm Hùng làm chính ủy. Chiến dòch Hồ Chí

Tổ quốc Việt Nam hòa bình.
ĐH Đảng lần thứ V ( 1982) , chúng ta đang ở chặng đường đầu của thời kì quá độ nên
thành tựu của thời kì này sẽ để lại những dấu ấn quan trọng. Đảng đề ra những chính sách và
biện pháp phù hợp để thực hiện những nhiệm vụ mà ĐH IV đề ra. ĐH V đề ra cách thức CNH,
giải quyết mối quan hệ của Công nghiệp và Nông nghiệp. Trong 5 năm đầu (81-85) và những
năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh Nông nghiệp, coi Nông nhiệp là mặt trận hàng đầu và
đưa Nông nghiệp lên sản xuất XHCN. Ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây
dựng một số ngành Công nghiệp nặng quan trọng. Coi Nông nghiệp là hàng đầu không có nghóa
chỉ tập trung làm Nông nghiệp vì bản thân Nông nghiệp có thể tự làm thay đổi bộ mặt của mình.
Trong 10 năm đầu ta đã đạt được những thành tựu: Đảng đã ngăn chặn được đà giảm sút
của sản xuất Nông nghiệp và Công nghiệp những năm 79-80 và ta đã tự trang trải được lương
thực. Ta đã thống nhất nước nhà về mặt nhà nước và bảo vệ được Tổ quốc. Công cuộc cải tạo
XHCN cũng giành được những thành tựu quan trọng. Sự nghiệp giáo dục và y tế cũng phát triển.
Bên cạnh những thành tựu, nền kinh tế xã hội nước ta còn gặp những khó khăn: sản xuất tuy có
tăng nhưng tăng chậm không xứng với công sức ta bỏ ra, không đáp ứng được nhu cầu của ta là
nhanh chóng ổn đònh đời sống nhân dân. Một số chỉ tiêu quan trọng ta không đạt được đã ảnh

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Tiểu luận lòch sử Đảng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh tế và đời sống lao động. Những mặt mất cân đối lớn chậm
được thu hẹp, có mặt còn gay gắt hơn trước, quan hệ sản xuất chậm được củng cố, vai trò chủ
đạo của kinh tế quốc doanh suy yếu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tiêu cực xã hội
phát triển, công bằng xã hội bò vi phạm. Quần chúng giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng
và đất nước ta rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội.
ĐH Đảng lần thứ VI ( 12-86) với tinh thần đổi mới tư duy, phong cách, nhìn thẳng vào sự
thật đã chỉ ra những sai lầm và nguyên nhân dẫn tới những sai lầm đó mà rút ra những bài học
có ý nghóa. Đổi mới là xu thế của thời đại ngày nay đòi hỏi phải đổi mới tư duy, xây dựng
CNXH ở mọi nước đều cần một hình thái xã hội mới và con đường đến hình thái đó ở mỗi quốc

mới. Đảng ta có đường lối đúng đắn, đoàn kết nhất trí, nhân dân ta có tinh thần yêu nước, bản
lónh chính trò vững vàng, có ý chí CM kiên cường, có lực lượng vũ trang trung thành với Đảng
với nhân dân, chúng ta đã tạo ra được thế và lực mới để tiếp tục phát triển cuộc CM KHKT và
xu thế hòa bình hợp tác phát triển. Tuy nhiên, nước ta cũng đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn so
với các nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và quan liêu,
diễn biến hòa bình.
ĐH Đảng lần VIII (8-1996) khẳng đònh nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kì
quá độ là chuẩn bò tiền đề cho CNH đã hoàn thành và cho phép ta chuyển sang thời kì CNHHĐH đất nước. ĐH đề ra chỉ tiêu năm 2000 thông qua mục tiêu đến năm 2000 là xây dựng nước
ta trở thành nước Công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status