luận văn Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thu Ngân - Pdf 37

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa với đề tài: “Pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thu Ngân”, bên cạnh
sự nỗ lực của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các Quý
Thầy Cô trường Đại học Thương Mại và Quý Công ty.
Qua đây, em kính gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Quý Công ty,
các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công ty, Quý Thầy Cô giáo tại trường Đại học Thương
Mại và đặc biệt là giảng viên hướng dẫn – ThS. Nguyễn Vinh Hương đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành bài khóa luận thực tập này.
Mặc dù đã cố gắng, tuy nhiên do trong thời gian thực tập chưa nhiều, việc nắm
bắt thực tế chưa sâu nên bài khóa luận thực tập tổng hợp không thể tránh khỏi một số
thiếu sót. Vì vậy em kính mong nhận được sự quan tâm và giúp đỡ từ Quý Thầy Cô và
Quý Công ty để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................................1
1.2.2Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa.............................................................7
1.2.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.................................................................................................7
1.2.2.4 Chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa............................................................................................11
Thương lượng giữa các bên...........................................................................................................................12
Hòa giải giữa các bên......................................................................................................................................13
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài.................................................................................................13
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án.................................................................................................14
2.3.1.1 Căn cứ ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá.......................................................................................24
2.3.1.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá.........................................................................................24
2.3.1.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.......................................................................................24

kinh tế trong hoạt động mua bán hàng hóa, hạn chế các tổn hại kinh tế không đáng có,
tạo thuận lợi cho mọi chủ thể của hoạt động thương mại. Đến năm 2006, Pháp lệnh về
hợp đồng kinh tế được thay thế bằng các quy định trong Luật Dân sự 2005 và Luật
Thương mại 2005. Và gần đây, Luật Dân sự 2015 ra đời và sẽ có hiệu lực vào ngày
1/1/2017, cho thấy những cố gắng của Việt Nam trong việc hoàn thiện môi trường
pháp luật, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Có thể nói, hợp
đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh
trong nước, cũng như xu hướng ngày càng tiếp cận với hoạt động kinh tế quốc tế trong
những năm gần đây. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được
thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc. Công ty TNHH
Thu Ngân là một doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực xây dựng công trình trên địa bàn
tỉnh Hà Nam. Do đó, việc ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra thường
xuyên thông qua các hoạt động xây dựng, đấu thầu, mua bán gia công vật liệu xây
dựng. Trong quá trình thực tập tại công ty Thu Ngân, do được tiếp cận với các hợp
đồng mua bán, cùng với nhận thức về tầm quan trọng của hợp đồng trong hoạt động
kinh tế, nên tác giả đã chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Pháp luật điều chỉnh về
hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thu Ngân”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với nhận thức rằng, để có thể thực hiện được đề tài đang nói ở đây, luận văn
không chỉ kế thừa những công trình đã được công bố về vấn đề hợp đồng trong hoạt
động mua bán hàng hóa, mà còn phải tiếp thu và tham khảo có chọn lọc những công
trình lý luận về hợp đồng mua bàn hàng hóa kinh tế để triển khai nghiên cứu thực tế
1


những vấn đề cơ bản của đề tài. Vì thế, những công trình khoa học sau đây đã được
nghiên cứu, tham khảo:
Các công trình nghiên cứu về lý luận chung của hợp đồng mua bán hàng hóa:
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, các công trình khoa học

bán hàng hóa tại công ty TNHH Thu ngân trong những năm gần đây;

2


+ Đưa ra những đánh giá chung, từ đó kiến nghị nhóm giải pháp nhằm hoàn
thiện vấn đề pháp lý trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH Thu Ngân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này vẫn phải là thực tiễn áp dụng các quy
định của pháp luật trong ký kết hợp đồng tại công ty TNHH Thu Ngân.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung, đề tài được thực hiện dưới góc độ pháp lý thuộc chuyên
ngành Pháp luật Thương mại;
+ Phạm vi về thời gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế của công ty TNHH Thu
Ngân trong giai đoạn từ 2012 đến 2015;
+ Phạm vi về không gian, đề tài được nghiên cứu thông qua tình hình thực tiễn
hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH Thu Ngân trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam; pháp luật của
Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản về pháp luật kinh tế và
pháp luật thương mại đã được ban hành;
- Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, tác giả luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp
tổng kết thực tiễn; Phương pháp nghiên cứu điển hình; Phương pháp thống kê, so
sánh; Phương pháp kế thừa, lịch sử, hệ thống…
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ, hoàn thiện lý luận về vấn
đề pháp lý đối với ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong tình hình hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ký kết hợp

có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản
chất của hợp đồng mua bán hàng hóa.
LTM 2005 không có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa,
nhưng về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua
bán tài sản. Theo Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,
còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như
vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng
mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.
Như vậy, kết hợp định nghĩa chung về hợp đồng mua bán tài sản và khái niệm
riêng về mua bán hàng hóa, có thể rút ra kết luận: “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và
nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn,
số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về chủ thể của hợp đồng, theo Luật thương mại 2005, hợp đồng thương mại có
thể được giao kết giữa các chủ thể bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp,
cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Các thương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại
các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.
4


Ngoài ra, hợp đồng thương mại còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác hoạt
động có liên quan đến thương mại. Các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp có thể
bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
công ty nhà nước, và các tổ chức kinh tế khác. Thương nhân là cá nhân bao gồm các
hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động thương mại một
cách thường xuyên, độc lập. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân

5


phần, đã khiến xã hội nước ta có nhiều chuyển biến to lớn và tích cực. Kinh tế phát
triển kéo theo sự xuất hiện và lớn mạnh của các thành phần kinh tế. Từ đó, yêu cầu về
sự đảm bảo trong việc giao kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa không
chỉ là vấn đề của Nhà nước mà còn là yêu cầu chung của toàn xã hội.
Bên cạnh đó cơ sở kinh tế thay đổi đối với thành tựu to lớn của sự phát triển
kinh tế của các thành phần kinh tế dẫn đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã được ban
hành từ năm 1989 đến nay lộ rõ nhiều bất cập. Trong điều kiện đó việc hoàn thiện, đổi
mới các quy định của pháp luật về vấn đề hợp đồng là vấn đề được đặt ra hết sức cấp
thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hơn nữa giao lưu
kinh tế cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do thực tiễn pháp luật hợp
đồng không thống nhất, các quy định còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật
khác nhau, chồng chéo, loại trừ nhau, tạo ra lỗ hổng pháp lý khiến cho người áp dụng
và các cơ quan tài phán gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi áp dụng văn bản pháp luật
về hợp đồng. Vì thế ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội khóa XI thông
qua, trong đó có chế định về hợp đồng là nền tảng thống nhất và đồng bộ để điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng trong các lĩnh vực cụ thể. Các văn bản quy phạm pháp luật tham
gia điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật
Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan. Những quy định của Bộ
luật Dân sự về hợp đồng dân sự có tính nguyên tắc, là nội dung cơ bản điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng nói chung. Những văn bản luật chuyên ngành như: Luật Thương
mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh…là nguồn luật điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể. Nguyên tắc áp dụng luật là ưu tiên
áp dụng các quy định của luật chuyên ngành trước, những vấn đề không được quy định
trong luật chuyên ngành thì áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Kể từ ngày
1/1/2006 khi Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thì Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực. Và mới đây nhất, Luật Dân sự 2015 ra đời,

rõ ý định giao kết hợp đồng và chị sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối
với bên đã xác định được cụ thể”.
Đề nghị hợp đồng mua bán có thể do bên bán hoặc bên mua đưa ra.Bộ luật dân
sự cũng như Luật thương mại năm 2005 không quy định về hình thức của đề nghị hợp
đồng mua bán hàng hóa,song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đòng mua
bán theo Điều 24 bộ luật Thương mại để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng theo
đó đề nghị hợp đòng có thể dược thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể
hoặc kết hợp giữa các hình thức này.
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định. Đề nghị
đó phải được gửi đích danh và nội dung của đề nghị đó phải rõ ràng, có ý định đặt quan hệ
mua bán hàng hóa thực sự. Đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó xác định mặt hàng
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, số lượng hàng, giá cả, thủ tụ. Bên đề nghị giao kết hợp
đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp bao
gồm: bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thông báo về việc thay đổi hoặc rút
lại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị; điều kiện thay đổi hoặc rút lại
đề nghị phát sinh trong trường hợp bên dề nghị có nêu rõ về việc được thay đôi hoặc rút
lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh. Nếu bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì
đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392 Bộ luật Dân sự). Đề nghị giao kết hợp đồng
7


chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau: bên nhận được đề nghị trả lời không chấp
nhận; hết thời hạn trả lời cháp nhận; thông báo về việc rút lại đề nghị có hiệu lực; thông
báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được
đề nghị trơngthi hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển
cho bên đề nghị chuyển cho bên đề nghị việc chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu
trong đè nghị giao kết hợp đồng. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được
xác định tùy từng trường hợp cụ thể. Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì

Hợp đồng mua bán hàng hóa đựoc giao kết hợp pháp được hình thành từ thời
điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác (Điều 405 BLDS).
1.2.2.2 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Thực hiện hợp đồng về nội dung
Hợp đồng mua bán hàng hóa sau khi đã được giao kết, các bên cần phải thực
hiện nghiêm chỉnh tất cả những cam kết trong hợp đồng, cụ thể là thực hiện theo đúng
nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Luật Thương mại quy
định những nội dung đặc thù về mua bán hàng hóa với tính chất là một hoạt động
thương mại. Trong trường hợp cần có những quy định chuyên biệt trong những hoạt
động thương mại cụ thể thì luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh theo tính chất chuyên biệt
trong hoạt động chuyên ngành theo nguyên tắc áp dụng luật thì sẽ ưu tiên áp dụng các
quy định về hợp đồng chuyên ngành đó.
Quyền và nghĩa vụ của bên bán.
Thứ nhất là nghĩa vụ của bên bán. Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy
định của hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy
định khác trong hợp đồng. Điều 35 - Luật Thương mại quy định bên bán phải giao
hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên bán
giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận
hàng nếu có thỏa thuận khác (Điều 38 - Luật Thương mại). Nghĩa vụ giao chứng từ
liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 - Luật Thương mại. Trường hợp có
thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến
hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm và bằng hình thức đã thỏa thuận. Một
trong các nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng. Bên bán
phải chịu những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện của bên mua
đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá
trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết
về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua (Điều 44 - Khoản 5 Luật Thương mại). Bên bán còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa.
Theo đó, bên bán phải bảo đảm: quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán
không bị tranh chấp bởi bên thứ ba; hàng hóa đó phải hợp pháp; việc chuyển giao hàng

1.2.2.3 Sửa đổi hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực pháp lý nhưng do điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể của mỗi bên mà các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. Khi tiến hành sửa đổi hợp đồng mua bán hàng hóa các
bên phải giải quyết hậu quả của việc sửa đổi đó. Nó có thể là chi phí đã bỏ ra để thực
hiện một phần công việc trước khi sửa đổi mà bên thực hiện không thu hồi được; hoặc
chi phí để chuẩn bị cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, mặc dù đã tận dụng,
thanh lý nhưng chưa đủ bù đắp giá trị ban đầu của nó; hoặc tiền bồi thường thiệt hại đã
phải trả do sửa đổi hợp đồng. Hình thức ghi nhận việc sửa đổi phải phù hợp với hình
thức hợp đồng đã giao kết. Theo khoản 2 điều 423 Bộ luật Dân sự 2005:" Trong
trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký
hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó". Đối với

10


các hợp đồng khác thì việc sửa đổi hợp đồng được ghi nhận bằng hình thức nào là do
các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau.
1.2.2.4 Chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa
Xuất phát từ lợi ích của mình mà các bên tham gia giao kết hợp đồng, xác lập
quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng. Hợp đồng đã có hiệu lực nhưng khi tiến hành thực
hiện nghĩa vụ thì các bên mới nhận thức được rằng họ cần phải chấm dứt hợp đồng vì
việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích hợp lý cho một bên hoặc cả
hai bên như họ kỳ vọng khi giao kết hợp đồng. Chính vì thế, trong điều 424 Bộ luật
Dân sự 2005 đã nêu ra các trường hợp chấm dứt hợp đồng như sau:
- Hợp đồng chấm dứt khi hợp đồng đã hoàn thành: Toàn bộ nội dung của hợp
đồng được các bên thực hiện, thông qua đó các bên tham gia hợp đồng đáp ứng được
quyền của mình thì hợp đồng được coi là hoàn thành và không có lý do để hợp đồng
tồn tại nữa;
- Hợp đồng được chấm dứt theo thỏa thuận của các bên: Trong trường hợp bên

tuy khác nhau nhưng có nội dung giống nhau. Một bên trong hợp đồng có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định. Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng thuộc một trong các trường hợp sau: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa
thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng,
trừ trường hợp miễm trách.
1.2.2.5 Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
Trong kinh doanh, nhìn chung các nhà kinh doanh luôn cố gắng để tránh hoặc
hạn chế việc vi phạm các cam kết trong hợp đồng. Song, do nhiều nguyên nhân khác
nhau các tranh chấp giữa các bên trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa là điều khó tránh khỏi. Khi tranh chấp xảy ra thì vấn đề đặt ra cho các
bên là làm thế nào để giải quyết các tranh chấp ấy. Giải quyết tranh chấp là việc điều
chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trên những căn cứ và bằng những phương thức
khác nhau do các bên lựa chọn. Về mặt pháp lý, các phương thức đó phải được pháp
luật thừa nhận. Theo Điều 317 Luật Thương mại 2005 thì các hình thức giải quyết
tranh chấp trong thương mại bao gồm: thương lượng giữa các bên; hòa giải giữa các
bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung
gian hòa giải; giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.
Thương lượng giữa các bên
Trong đại đa số trường hợp khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên tự nguyện
và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng với
mục đích chung là gìn giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữa họ.. Thương
lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại Tòa
án hoặc Trọng tài. Đối với thương lượng độc lập: Nghĩa vụ của các bên phải tiến hành
thương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp, do đó cũng
phải được thực hiện nghiêm chỉnh như mọi điều khoản khác của hợp đồng. Kết quả
thương lượng được coi như một thỏa thuận mới về vấn đề tranh chấp, các bên phải thi
hành tự nguyện thỏa thuận đó theo quy định của pháp luật áp dụng về nghĩa vụ thực
hiện hợp đồng; Nếu thương lượng được tiến hành trong khuôn khổ tố tụng Trọng tài
hay tố tụng tư pháp, thì theo yêu cầu của các bên, trọng tài viên, thẩm phán có thể ra

chấp cho người thứ ba là các trọng tài viên để họ xét xử và ra quyết định cuối cùng
trong trường hợp các bên không dàn xếp được với nhau mà lại không muốn đưa vụ
tranh chấp ra xét xử tại tòa án. Văn bản pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp theo
thủ tục Trọng tài ở Việt Nam là Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Ủy ban thường
vụ Quốc hội thông qua ngày 25/2/2003 và Nghị định số 25/2004 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, sau đó đến năm 2010 thay
bằng Luật Trọng tài Thương mại 2010.
Các quyết định và phán quyết của Trọng tài có thể được Tòa án công nhận và
cho thi hành thông qua một thủ tục tư pháp. Mặc dù các phán quyết của Trọng tài là
kết quả của sự thỏa thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do một Hội
13


đồng Trọng tài hoặc một Trọng tài viên duy nhất ban hành (mà bản thân hợp đồng đó
chấm dứt nhiệm vụ và không còn tồn tại sau khi ra phán quyết) nhưng giá trị bắt buộc
của phán quyết của Trọng tài đối với các bên vẫn được pháp luật nước ta công nhận.
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước ta. Theo Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân xết xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và
gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định
của pháp luật.
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2014 quy định: Những tranh chấp về kinh doanh,
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán
hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê
mua; Tư vấn về kỹ thuật; Xây dựng; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường
sắt, đường thủy, nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,
đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị; Đầu tư, tài chính,
ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác.

nơi thực hiện hợp đồng giải quyết;
+ Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi có bất động sản, nơi có trụ sở hoặc cư trú của bị đơn giải quyết vụ án;
+ Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Toà án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn để giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Toà án một trong các nơi đó giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án liên quan đến nhiều bị đơn thì nguyên đơn có thể chọn nơi cư trú
hoặc trụ sở của một trong các bị đơn để giải quyết vụ án.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm rất nhiều hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại, tuy nhiên chủ thể của hợp đồng chỉ gồm cá nhân và
tổ chức với mực đích là lợi nhuận, trong đó hợp đồng mua bán hàng hóa với mục đích
và chủ thể như trên là do Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Thủ tục giải
quyết các vụ án theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 bao gồm các bước chính sau: Khởi
kiện và thụ lý vụ án; Chuẩn bị xét xử vụ án; Phiên tòa sơ thẩm; Thủ tục phúc thẩm;
Thủ tục xét xử lại bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật; Thi hành bản án (quyết
định) của Tòa án.
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về vấn đề
hợp đồng mua
bán hàng hóa
Các yêu cầu, nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán
hàng hóa được quy định hầu hết tại LTM 2005. Tuy nhiên, nó cũng chịu sự điều chỉnh
của BLDS 2005. Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về
hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách
nhiệm. Các nguyên tắc trong việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quy định khá
rõ ràng. Những yêu cầu, nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho DN cũng từ đó để
DN có thể thực hiện đúng yêu cầu của Nhà nước và không vi phạm những điều mà
15


Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng
buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi
phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Khi giải quyết
tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào
các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định
công bằng, đúng đắn.

16


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH
THU NGÂN
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần TNHH Thu Ngân và các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Công ty
2.1.1. Tổng quan về Công ty TNHH Thu Ngân
Giới thiệu chung về công ty TNHH Thu Ngân
Tên công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THU NGÂN.
Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: THU NGAN COMPANY LIMITED.
Tên công ty viết tắt: THU NGAN CO., LTD.
Địa chỉ: La Mát – TT Kiện Khê – huyện Thanh Liêm – tỉnh Hà Nam.
Điện thoại: 03513 858 607
Fax: 03513 858 607
Ngày thành lập: 17/12/2008.
Vốn điều lệ: 7.000.000.000 đồng
Mã số thuế: 0700265668.
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Nguyễn Thị Ngân
Công ty TNHH Thu Ngân được Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nam cấp giấy đăng
ký hoạt động số 0700265668, đăng ký lần 1 ngày 15/12/2008, đăng ký thay đổi lần 3

nhóm ngành quan trọng như công nghiệp, thương mại, xây dựng… Với tư cách là một
doanh nghiệp triển vọng trong lĩnh vực xây dựng, công ty TNHH Thu Ngân được
hưởng lợi nhiều từ những chính sách này và trong nhiều năm qua, đã có một môi
trường phát triển thuận lợi và vững chắc. Bên cạnh đó, với tư cách là một tỉnh có thế
mạnh về sản xuất vật liệu xây dựng, chính quyền tỉnh Hà Nam cũng có nhiều hành
động nhằm khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, trong đó có
công ty TNHH Thu Ngân.
Nhân tố kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, do đó thúc
đẩy nhu cầu xây dựng của nhà nước cũng như của người dân. Mỗi ngày đều có thêm
nhiều công trình hoàn thiện và nhiều công trình khác được xây mới, từ đó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, trong đó có công ty
TNHH Thu Ngân có nhiều điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, đời song người dân ngày
càng được cải thiện, cũng kéo theo nhu cầu xây mới và sửa chữa, cơi nới các công
trình nhà ở, các loại hình bất động sản. Đây thực sự là mảnh đất màu mõ giàu tiềm
năng đối với các doanh nghiệp như công ty TNHH Thu Ngân. Đồng thời, sự phát triển
trong môi trường kinh doanh xây dựng, cùng với sự thành lập và phát triển của nhiều
công ty cùng hoạt động trong lĩnh vực này, cũng là điều kiện và cơ sở kích thích sự
phát triển của công ty TNHH Thu Ngân, cả về quy mô, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng
như chất lượng phục vụ. Với ưu thế là một doanh nghiệp đã có gần 10 năm hoạt động,
công ty TNHH Thu Ngân có cơ sở và điều kiện nhất định để khẳng định ưu thế của
mình trước các công ty trẻ hơn, cũng như chỗ đứng vững chắc trên địa bàn tỉnh Hà
Nam, và đẩy mạnh khai thác tìm kiếm đối tác ở nhiều nơi khác.

18


Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới kinh doanh của công ty
TNHH Thu Ngân.
Hiện nay tổng số lao động của công ty TNHH Thu Ngân đã lên tới 140 cán bộ

về các nội dung ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và
giải quyết tranh chấp hợp đồng đều có những nhân tố hợp lý bảo đảm việc thực hiện
trên thực tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số bất cập hạn chế như sau:
19


2.2.1 Ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa
Thứ nhất, sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng khi xem xét về tính
thương mại của hợp đồng. Điều 388 BLDS 2005 quy định: Hợp đồng dân sự là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Theo
khái niệm này và dựa trên phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005, có thể hiểu HĐDS còn
có nghĩa rộng là bao quát luôn cả quan hệ thương mại. Nhưng thực tiễn giải quyết
tranh chấp ở Tòa án và Trọng tài lại có sự phân biệt tính thương mại hay tính dân sự
của hợp đồng và thực tiễn giải quyết các vụ việc cũng đã chứng minh rằng, sự phân
biệt tính thương mại hay tính dân sự chỉ gây ra nhiều bất cập mà thôi.
Thứ hai, Sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng còn thể hiện ở mâu
thuẫn giữa BLDS 2005 và LTM 2005 liên quan đến chế định phạt hợp đồng. Khoản 2
Điều 422 BLDS 2005 quy định: mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự thỏa thuận.
Tự thỏa thuận có nghĩa là các bên được phép tự do ấn định mức phạt mà không bị ràng
buộc bởi các quy định của pháp luật, điều này thể hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận đã
được quy định trong pháp luật dân sự nhưng điều đáng lưu tâm là Luật Thương mại lại
quy định về mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần
nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ở quy định khác trong Luật Xây dựng, mức phạt vi
phạm tối đa là 12%. Cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng lại có sự khác biệt giữa các
văn bản. Điều đó đòi hỏi các bên phải phân biệt rạch ròi xem quan hệ nào do Bộ Luật
Dân sự 2005 điều chỉnh và quan hệ nào được điều chỉnh bởi Luật Thương mại hoặc
các luật khác điều chỉnh và điều này là rất khó phân biệt khi Bộ Luật Dân sự 2005
được xem là luật chung với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ về tài sản, nhân thân
trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động. Sự khác biệt về

được, liệu rằng Trọng tài có thẩm quyền để giải quyết hay không? Chắc chắn Trọng tài
sẽ rất lúng túng trong vấn đề này. Mặt khác, theo Luật Thương mại 2010 thì thẩm
quyền của Trọng tài có thể mở rộng ở những tranh chấp thương mại không phát sinh
trong hợp đồng, và tương tự như trường hợp trên, Trọng tài cũng thật khó trong việc
xác định thẩm quyền của mình. Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Tòa án quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 về kinh doanh thương mại cũng
đang mang tính liệt kê (khác với liệt kê mang tính loại trừ) và dựa vào mục đích lợi
nhuận làm căn cứ tiên quyết.
Đối với Trọng tài Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp Hợp đồng thương mại
đều vận dụng các quy phạm về Hợp đồng thương mại được điều chỉnh trong Bộ luật
Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và các chế định hợp đồng đặc thù trong Luật Đầu
tư, Luật Xây dựng, Luật Sở hữu trí tuệ... Những quy định này về hợp đồng vẫn nằm rải
rác trong các văn bản pháp luật, đã gây nên sự chồng chéo, làm hạn chế hoạt động áp
dụng pháp luật của Trọng tài.
Giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Thứ nhất, vướng mắc khi áp dụng khoản 3 Điều 306 Luật thương mại:
Luật thương mại năm 2005 ra đời có khá nhiều điểm mới, tiến bộ so với Luật
thương mại năm 1997. Song bên cạnh đó cũng còn một số điểm bất cập cần đặt ra xem
xét. Tại khoản 1 Điều 3 Luật thương mại quy định “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Tuy nhiên, các
21


hoạt động nhằm nhằm mục đích sinh lợi khác là những hoạt động cụ thể nào cho đến
nay chưa có văn bản giải thích. Như vậy, các tranh chấp trong lĩnh vực xây dựng, tín
dụng, bảo hiểm có được xem là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác và có
phải là đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại không? Cũng tại khoản 3 Điều 3 quy
định “Thói quen trong hoạt động thương mại” cũng gây những vấn đề tranh cãi trong
công tác xét xử. Xác định “quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status