báo cáo thực tập tốt nghiệp “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thu Ngân” - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa với đề tài: “Pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thu Ngân”, bên cạnh
sự nỗ lực của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các Quý
Thầy Cô trường Đại học Thương Mại và Quý Công ty.
Qua đây, em kính gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Quý Công ty,
các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công ty, Quý Thầy Cô giáo tại trường Đại học Thương
Mại và đặc biệt là giảng viên hướng dẫn – ThS. Nguyễn Vinh Hương đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành bài khóa luận thực tập này.
Mặc dù đã cố gắng, tuy nhiên do trong thời gian thực tập chưa nhiều, việc nắm
bắt thực tế chưa sâu nên bài khóa luận thực tập tổng hợp không thể tránh khỏi một số
thiếu sót. Vì vậy em kính mong nhận được sự quan tâm và giúp đỡ từ Quý Thầy Cô và
Quý Công ty để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................................1
1.2.2Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa.............................................................7
1.2.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.................................................................................................7
1.2.2.4 Chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa............................................................................................11
Thương lượng giữa các bên...........................................................................................................................12
Hòa giải giữa các bên......................................................................................................................................13
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài.................................................................................................13
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án.................................................................................................14
2.3.1.1 Căn cứ ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá.......................................................................................23
2.3.1.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá.........................................................................................23
2.3.1.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.......................................................................................23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
trong nước, các hoạt động mua bán hàng hóa ngày càng diễn ra nhiều hơn. Thêm vào
đó việc tham gia ký kết một loạt các hiệp ước và thỏa thuận thương mại quốc tế quan
trọng, mà mới đây nhất là việc tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (Viết tắt là Hiệp định TPP). Việc tham gia vào các sân chơi quốc tế đã mở ra
cho doanh nghiệp Việt Nam cơ hội cũng như những thách thức to lớn trong việc phát
triển thêm nhiều bạn hàng và thu hút nhà đầu tư, mở rộng cách ngành sản xuất, khai
thác nhiều lợi thế tiềm năng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Trong bối cảnh đó, ngay từ năm 1989, Chính phủ đã ban hành Pháp lệnh về Hợp đồng
kinh tế ngày 25/09/1989, nhằm đảm bảo lợi ích và trách nhiệm của các thành phần
kinh tế trong hoạt động mua bán hàng hóa, hạn chế các tổn hại kinh tế không đáng có,
tạo thuận lợi cho mọi chủ thể của hoạt động thương mại. Đến năm 2006, Pháp lệnh về
hợp đồng kinh tế được thay thế bằng các quy định trong Luật Dân sự 2005 và Luật
Thương mại 2005. Và gần đây, Luật Dân sự 2015 ra đời và sẽ có hiệu lực vào ngày
1/1/2017, cho thấy những cố gắng của Việt Nam trong việc hoàn thiện môi trường
pháp luật, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Có thể nói, hợp
đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh
trong nước, cũng như xu hướng ngày càng tiếp cận với hoạt động kinh tế quốc tế trong
những năm gần đây. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được
thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc. Công ty TNHH
Thu Ngân là một doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực xây dựng công trình trên địa bàn
tỉnh Hà Nam. Do đó, việc ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra thường
xuyên thông qua các hoạt động xây dựng, đấu thầu, mua bán gia công vật liệu xây
dựng. Trong quá trình thực tập tại công ty Thu Ngân, do được tiếp cận với các hợp
đồng mua bán, cùng với nhận thức về tầm quan trọng của hợp đồng trong hoạt động
kinh tế, nên tác giả đã chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Pháp luật điều chỉnh về
hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thu Ngân”.

- Một số hướng dẫn và bổ sung về vấn đề hợp đồng trong Luật Dân sự và Luật
Thương mại 2005.
Bên cạnh đó, còn có nhiều nghiên cứu, đề tài tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu cao
học đề cập đến các nghiên cứu về hợp đồng trong quan hệ mua bán hàng hóa ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định là nghiên cứu về việc áp dụng
những quy định của pháp luật về vấn đề hợp đồng trong hoạt động mua bán giao dịch
tại công ty TNHH Thu Ngân trong những năm gần đây.
- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: Để đạt đựợc mục đích trên, đề tài cần đi sâu
nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa,
+ Nghiên cứu về vấn đề áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa tại công ty TNHH Thu ngân trong những năm gần đây;

2


+ Đưa ra những đánh giá chung, từ đó kiến nghị nhóm giải pháp nhằm hoàn
thiện vấn đề pháp lý trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH Thu Ngân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này vẫn phải là thực tiễn áp dụng các quy
định của pháp luật trong ký kết hợp đồng tại công ty TNHH Thu Ngân.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung, đề tài được thực hiện dưới góc độ pháp lý thuộc chuyên
ngành Pháp luật Thương mại;
+ Phạm vi về thời gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế của công ty TNHH Thu
Ngân trong giai đoạn từ 2012 đến 2015;
+ Phạm vi về không gian, đề tài được nghiên cứu thông qua tình hình thực tiễn
hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH Thu Ngân trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.1.1 Khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một
vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền
hay nghĩa vụ của các bên đó. Hoạt động mua bán hàng hóa là một bộ phận chủ yếu của
hoạt động thương mại và được định nghĩa tại Khoản 8 Điều 3 LTM 2005: "Mua bán
hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh
toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận". Hợp đồng
mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Luật Thương
mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng
có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản
chất của hợp đồng mua bán hàng hóa.
LTM 2005 không có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa,
nhưng về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua
bán tài sản. Theo Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2005 “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,
còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như
vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản.”
Như vậy, kết hợp định nghĩa chung về hợp đồng mua bán tài sản và khái niệm
riêng về mua bán hàng hóa, có thể rút ra kết luận: “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và
nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn,
số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về chủ thể của hợp đồng, theo Luật thương mại 2005, hợp đồng thương mại có
thể được giao kết giữa các chủ thể bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp,
cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh

Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa chính là đặc điểm quan trọng nhất
giúp phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các loại hợp đồng dân sự khác, bởi lẽ sẽ
có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa tham gia hợp đồng
với mục đích sinh lời hay còn gọi là tìm kiếm lợi nhuận từ việc mua bán hàng hóa.
1.2 Cơ sở ban hành và những nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng
mua bán hàng hóa
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
Một quốc gia muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cần phải xây dựng cho mình
một hành lang pháp lý thông thoáng và phù hợp với yêu cầu chính trị - xã hội cũng
như xét trên tương quan với tình hình thế giới. Từ năm 1986 đến nay, sau 30 năm đổi
mới và vững bước trên con đường xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, đã khiến xã hội nước ta có nhiều chuyển biến to lớn và tích cực. Kinh tế phát
5


triển kéo theo sự xuất hiện và lớn mạnh của các thành phần kinh tế. Từ đó, yêu cầu về
sự đảm bảo trong việc giao kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa không
chỉ là vấn đề của Nhà nước mà còn là yêu cầu chung của toàn xã hội.
Bên cạnh đó cơ sở kinh tế thay đổi đối với thành tựu to lớn của sự phát triển
kinh tế của các thành phần kinh tế dẫn đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã được ban
hành từ năm 1989 đến nay lộ rõ nhiều bất cập. Trong điều kiện đó việc hoàn thiện, đổi
mới các quy định của pháp luật về vấn đề hợp đồng là vấn đề được đặt ra hết sức cấp
thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hơn nữa giao lưu
kinh tế cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do thực tiễn pháp luật hợp
đồng không thống nhất, các quy định còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật
khác nhau, chồng chéo, loại trừ nhau, tạo ra lỗ hổng pháp lý khiến cho người áp dụng
và các cơ quan tài phán gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi áp dụng văn bản pháp luật
về hợp đồng. Vì thế ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội khóa XI thông
qua, trong đó có chế định về hợp đồng là nền tảng thống nhất và đồng bộ để điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh

thế mạnh của nền kinh tế đất nước.
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại văn bản có tính chất pháp lý được hình
thành trên cơ sở thoả thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể nhằm xác
lập, thực hiện và chấm dứt một quan hệ trao đổi hàng hoá.
Phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đề nghị giao kết hợp đồng chính là chào
hàng. Chào hàng là một quy định được thừa nhận trong các thông lệ quốc tế về mua
bán hàng hóa.Theo điều 390 bộ luật dân sự “đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện
rõ ý định giao kết hợp đồng và chị sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối
với bên đã xác định được cụ thể”.
Đề nghị hợp đồng mua bán có thể do bên bán hoặc bên mua đưa ra.Bộ luật dân
sự cũng như Luật thương mại năm 2005 không quy định về hình thức của đề nghị hợp
đồng mua bán hàng hóa,song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đòng mua
bán theo Điều 24 bộ luật Thương mại để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng theo
đó đề nghị hợp đòng có thể dược thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể
hoặc kết hợp giữa các hình thức này.
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định. Đề nghị
đó phải được gửi đích danh và nội dung của đề nghị đó phải rõ ràng, có ý định đặt quan hệ
mua bán hàng hóa thực sự. Đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó xác định mặt hàng
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, số lượng hàng, giá cả, thủ tụ. Bên đề nghị giao kết hợp
đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp bao
gồm: bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thông báo về việc thay đổi hoặc rút
lại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị; điều kiện thay đổi hoặc rút lại
đề nghị phát sinh trong trường hợp bên dề nghị có nêu rõ về việc được thay đôi hoặc rút
lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh. Nếu bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì
đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392 Bộ luật Dân sự). Đề nghị giao kết hợp đồng
chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau: bên nhận được đề nghị trả lời không chấp
nhận; hết thời hạn trả lời cháp nhận; thông báo về việc rút lại đề nghị có hiệu lực; thông

đồng mua bán hàng hóa bằng lời nói.bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận
hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Hợp đồng cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên được
đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp
đồng thì thời điểm giao kết hợp đồng là ngày hết thời hạn trả lời.
- Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản: thời điểm giao kết hợp
đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản.

8


Hợp đồng mua bán hàng hóa đựoc giao kết hợp pháp được hình thành từ thời
điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác (Điều 405 BLDS).
1.2.2.2 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Thực hiện hợp đồng về nội dung
Hợp đồng mua bán hàng hóa sau khi đã được giao kết, các bên cần phải thực
hiện nghiêm chỉnh tất cả những cam kết trong hợp đồng, cụ thể là thực hiện theo đúng
nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Luật Thương mại quy
định những nội dung đặc thù về mua bán hàng hóa với tính chất là một hoạt động
thương mại. Trong trường hợp cần có những quy định chuyên biệt trong những hoạt
động thương mại cụ thể thì luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh theo tính chất chuyên biệt
trong hoạt động chuyên ngành theo nguyên tắc áp dụng luật thì sẽ ưu tiên áp dụng các
quy định về hợp đồng chuyên ngành đó.
Quyền và nghĩa vụ của bên bán.
Thứ nhất là nghĩa vụ của bên bán. Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy
định của hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy
định khác trong hợp đồng. Điều 35 - Luật Thương mại quy định bên bán phải giao
hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên bán
giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận

toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định
của pháp luật; Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao
chứng từ liên quan đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền hàng trong trường
hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên
mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.
Đồng thời, bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường
hợp: Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh
toán; Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có
quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; Bên mua có
bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm
ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó.
1.2.2.3 Sửa đổi hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực pháp lý nhưng do điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể của mỗi bên mà các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. Khi tiến hành sửa đổi hợp đồng mua bán hàng hóa các
bên phải giải quyết hậu quả của việc sửa đổi đó. Nó có thể là chi phí đã bỏ ra để thực
hiện một phần công việc trước khi sửa đổi mà bên thực hiện không thu hồi được; hoặc
chi phí để chuẩn bị cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, mặc dù đã tận dụng,
thanh lý nhưng chưa đủ bù đắp giá trị ban đầu của nó; hoặc tiền bồi thường thiệt hại đã
phải trả do sửa đổi hợp đồng. Hình thức ghi nhận việc sửa đổi phải phù hợp với hình
thức hợp đồng đã giao kết. Theo khoản 2 điều 423 Bộ luật Dân sự 2005:" Trong
trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký
hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó". Đối với

10


các hợp đồng khác thì việc sửa đổi hợp đồng được ghi nhận bằng hình thức nào là do
các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau.
1.2.2.4 Chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa

được áp dụng trong các trường hợp sau: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa
thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

11


Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Đơn phương chấm dứt hợp đồng là việc một bên không tiếp tục thực hiện
những nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng khi có những điều kiện nhất định theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đơn phương chấm dứt hợp đồng là đình chỉ
thực hiện hợp đồng (Điều 310 Luật Thương mại 2005). Về thực chất hai cách gọi này
tuy khác nhau nhưng có nội dung giống nhau. Một bên trong hợp đồng có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định. Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng thuộc một trong các trường hợp sau: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa
thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng,
trừ trường hợp miễm trách.
1.2.2.5 Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
Trong kinh doanh, nhìn chung các nhà kinh doanh luôn cố gắng để tránh hoặc
hạn chế việc vi phạm các cam kết trong hợp đồng. Song, do nhiều nguyên nhân khác
nhau các tranh chấp giữa các bên trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa là điều khó tránh khỏi. Khi tranh chấp xảy ra thì vấn đề đặt ra cho các
bên là làm thế nào để giải quyết các tranh chấp ấy. Giải quyết tranh chấp là việc điều
chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trên những căn cứ và bằng những phương thức
khác nhau do các bên lựa chọn. Về mặt pháp lý, các phương thức đó phải được pháp
luật thừa nhận. Theo Điều 317 Luật Thương mại 2005 thì các hình thức giải quyết
tranh chấp trong thương mại bao gồm: thương lượng giữa các bên; hòa giải giữa các
bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung
gian hòa giải; giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.
Thương lượng giữa các bên

án nước nào lại ra lệnh đình chỉ vụ kiện vì lý do một bên không thực hiện thỏa thuận
hòa giải. Thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải không bắt buộc thi hành như phán quyết
của Tòa án hay của Trọng tài. Hiệu lực cao nhất của thỏa thuận giải quyết bằng hòa
giải chỉ giống như một điều khoản hợp đồng ràng buộc các bên. Để phát huy các ưu
điểm hòa giải và tăng cường các cơ hội lựa chọn sử dụng hòa giải đồng thời nâng cao
hiệu lực của hòa giải thì có thể sử dụng kết hợp hòa giải với các phương pháp giải
quyết tranh chấp khác như: Kết hợp thương lượng và hòa giải với Trọng tài hay hòa
giải kết hợp với tố tụng tư pháp.
Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài
Trọng tài là phương pháp giải quyết tranh chấp bằng cách giao vấn đề tranh
chấp cho người thứ ba là các trọng tài viên để họ xét xử và ra quyết định cuối cùng
trong trường hợp các bên không dàn xếp được với nhau mà lại không muốn đưa vụ
tranh chấp ra xét xử tại tòa án. Văn bản pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp theo
thủ tục Trọng tài ở Việt Nam là Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Ủy ban thường
vụ Quốc hội thông qua ngày 25/2/2003 và Nghị định số 25/2004 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, sau đó đến năm 2010 thay
bằng Luật Trọng tài Thương mại 2010.
Các quyết định và phán quyết của Trọng tài có thể được Tòa án công nhận và
cho thi hành thông qua một thủ tục tư pháp. Mặc dù các phán quyết của Trọng tài là
kết quả của sự thỏa thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do một Hội
13


đồng Trọng tài hoặc một Trọng tài viên duy nhất ban hành (mà bản thân hợp đồng đó
chấm dứt nhiệm vụ và không còn tồn tại sau khi ra phán quyết) nhưng giá trị bắt buộc
của phán quyết của Trọng tài đối với các bên vẫn được pháp luật nước ta công nhận.
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước ta. Theo Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân xết xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và

14


Pháp luật quy định nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án để giải quyết các vụ
án trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú hiện tại của bị đơn thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn
giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án sinh ra do vi phạm hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án
nơi thực hiện hợp đồng giải quyết;
+ Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi có bất động sản, nơi có trụ sở hoặc cư trú của bị đơn giải quyết vụ án;
+ Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Toà án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn để giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Toà án một trong các nơi đó giải quyết vụ án;
+ Nếu vụ án liên quan đến nhiều bị đơn thì nguyên đơn có thể chọn nơi cư trú
hoặc trụ sở của một trong các bị đơn để giải quyết vụ án.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm rất nhiều hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại, tuy nhiên chủ thể của hợp đồng chỉ gồm cá nhân và
tổ chức với mực đích là lợi nhuận, trong đó hợp đồng mua bán hàng hóa với mục đích
và chủ thể như trên là do Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Thủ tục giải
quyết các vụ án theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 bao gồm các bước chính sau: Khởi
kiện và thụ lý vụ án; Chuẩn bị xét xử vụ án; Phiên tòa sơ thẩm; Thủ tục phúc thẩm;
Thủ tục xét xử lại bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật; Thi hành bản án (quyết
định) của Tòa án.
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về vấn đề
hợp đồng mua

Cùng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại được quy định từ Điều
10 đến Điều 15 của mục 2 chương 1 Luật Thương mại 2005. Đó là:
-Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương
mại (Điều 10)
-Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại (Điều 11)
-Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 12 và 13)
-Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14)
-Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động
thương mại (Điều 15)
Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực như
pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng.
Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng
buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi
phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Khi giải quyết
tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào
các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định
công bằng, đúng đắn.

16


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH
THU NGÂN
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần TNHH Thu Ngân và các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Công ty
2.1.1. Tổng quan về Công ty TNHH Thu Ngân
Giới thiệu chung về công ty TNHH Thu Ngân
Tên công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THU NGÂN.

17


thiết bị trong lĩnh vực xây dựng, giao thông thủy lợi, cầu đường. Sản xuất 1 số loại
nguyên vật liệu dung trong ây dựng.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Công ty
TNHH Thu Ngân
Nhân tố chính trị - pháp luật
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời với việc đẩy mạnh
cho mục tiêu phấn đấu trở thành nước phát triển, Nhà nước đã có nhiều chính sách tích
cực và hiệu quả nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc
nhóm ngành quan trọng như công nghiệp, thương mại, xây dựng… Với tư cách là một
doanh nghiệp triển vọng trong lĩnh vực xây dựng, công ty TNHH Thu Ngân được
hưởng lợi nhiều từ những chính sách này và trong nhiều năm qua, đã có một môi
trường phát triển thuận lợi và vững chắc. Bên cạnh đó, với tư cách là một tỉnh có thế
mạnh về sản xuất vật liệu xây dựng, chính quyền tỉnh Hà Nam cũng có nhiều hành
động nhằm khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, trong đó có
công ty TNHH Thu Ngân.
Nhân tố kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, do đó thúc
đẩy nhu cầu xây dựng của nhà nước cũng như của người dân. Mỗi ngày đều có thêm
nhiều công trình hoàn thiện và nhiều công trình khác được xây mới, từ đó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, trong đó có công ty
TNHH Thu Ngân có nhiều điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, đời song người dân ngày
càng được cải thiện, cũng kéo theo nhu cầu xây mới và sửa chữa, cơi nới các công
trình nhà ở, các loại hình bất động sản. Đây thực sự là mảnh đất màu mõ giàu tiềm
năng đối với các doanh nghiệp như công ty TNHH Thu Ngân. Đồng thời, sự phát triển
trong môi trường kinh doanh xây dựng, cùng với sự thành lập và phát triển của nhiều
công ty cùng hoạt động trong lĩnh vực này, cũng là điều kiện và cơ sở kích thích sự
phát triển của công ty TNHH Thu Ngân, cả về quy mô, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng

2.2. Thực trạng quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
Những quy định của Pháp luật nhằm điều chỉnh vấn đề pháp lý trong hợp đồng
mua bán hàng hóa là nhằm mục đích tạo thuận lợi cho các bên tham gia được đảm bảo
về tính đúng đắn, tính công bằng cũng như quyền lợi. Pháp luật luôn có một sự ảnh
hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của các pháp nhân kinh tế. Hiện nay với một hệ thống
pháp luật rõ ràng, chi tiết, hợp lý, khả thi của nước ta đã giúp cho các doanh nghiệp có
thể dễ dàng nắm bắt và thực thi một cách nghiêm túc, đảm bảo. Pháp luật đặt ra để
đảm bảo được không chỉ là nghĩa vụ mà còn đảm bảo quyền lợi cho mỗi doanh nghiệp.
Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 ra đời đến nay đã được hơn
chục năm. Hai bộ luật này đã khung pháp lý điều chỉnh ứng xử của các bên trong các
hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung. Các quy định pháp luật như đã trình bày ở trên
về các nội dung ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và
giải quyết tranh chấp hợp đồng đều có những nhân tố hợp lý bảo đảm việc thực hiện
trên thực tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số bất cập hạn chế như sau:
19


Thứ nhất, Sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng còn thể hiện ở mâu
thuẫn giữa BLDS 2005 và LTM 2005 liên quan đến chế định phạt hợp đồng. Khoản 2
Điều 422 BLDS 2005 quy định: mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự thỏa thuận.
Tự thỏa thuận có nghĩa là các bên được phép tự do ấn định mức phạt mà không bị ràng
buộc bởi các quy định của pháp luật, điều này thể hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận đã
được quy định trong pháp luật dân sự nhưng điều đáng lưu tâm là Luật Thương mại lại
quy định về mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần
nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ở quy định khác trong Luật Xây dựng, mức phạt vi
phạm tối đa là 12%. Cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng lại có sự khác biệt giữa các
văn bản. Điều đó đòi hỏi các bên phải phân biệt rạch ròi xem quan hệ nào do Bộ Luật
Dân sự 2005 điều chỉnh và quan hệ nào được điều chỉnh bởi Luật Thương mại hoặc
các luật khác điều chỉnh và điều này là rất khó phân biệt khi Bộ Luật Dân sự 2005

tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác.
Nếu xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp các hợp đồng thương mại của
Trọng tài hiện nay thì tính thương mại được xét dựa trên yếu tố sinh lời của các hoạt
động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lời khác. Như vậy, một trường hợp tranh chấp phát sinh
trong hợp đồng, đã có thỏa thuận trọng tài nhưng tính thương mại không thể xác định
được, liệu rằng Trọng tài có thẩm quyền để giải quyết hay không? Chắc chắn Trọng tài
sẽ rất lúng túng trong vấn đề này. Mặt khác, theo Luật Thương mại 2010 thì thẩm
quyền của Trọng tài có thể mở rộng ở những tranh chấp thương mại không phát sinh
trong hợp đồng, và tương tự như trường hợp trên, Trọng tài cũng thật khó trong việc
xác định thẩm quyền của mình. Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Tòa án quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 về kinh doanh thương mại cũng
đang mang tính liệt kê (khác với liệt kê mang tính loại trừ) và dựa vào mục đích lợi
nhuận làm căn cứ tiên quyết.
Đối với Trọng tài Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp Hợp đồng thương mại
đều vận dụng các quy phạm về Hợp đồng thương mại được điều chỉnh trong Bộ luật
Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và các chế định hợp đồng đặc thù trong Luật Đầu
tư, Luật Xây dựng, Luật Sở hữu trí tuệ... Những quy định này về hợp đồng vẫn nằm rải
rác trong các văn bản pháp luật, đã gây nên sự chồng chéo, làm hạn chế hoạt động áp
dụng pháp luật của Trọng tài.
Thứ tư về vấn đề giải quyết tranh chấp tại Tòa án


Vướng mắc khi áp dụng khoản 3 Điều 306 Luật thương mại:

Luật thương mại năm 2005 ra đời có khá nhiều điểm mới, tiến bộ so với Luật
thương mại năm 1997. Song bên cạnh đó cũng còn một số điểm bất cập cần đặt ra xem
xét. Tại khoản 1 Điều 3 Luật thương mại quy định “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Tuy nhiên, các


Theo Điều 179 BLTDS quy định:
“1.Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn
là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn
là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án
Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng
đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc
trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án
phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng”.
Với quy định trên của BLTTDS thì thời hạn giải quyết vụ án kinh doanh thương
mại quá ngắn. Nếu trong một vụ án kinh doanh thương mại đương sự không hợp tác,
không có mặt để tham gia tố tụng khi được triệu tập... Ngoài lý do không nhận được
văn bản triệu tập, rất nhiều trường hợp đương sự không còn ở địa phương hoặc đương
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status