TÓM LƯỢC
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực
hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự tham
gia của nhiều thành phần kinh tế, đồng thời, hoạt động mở rộng quan hệ đối ngoại và
chủ động hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị… đã giúp cho
các mối quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại phát triển đa dạng và không ngừng
tăng thêm về số lượng cũng như chất lượng của các hợp đồng đặc biệt là hợp đồng
mua bán hàng hóa. Đây là loại hình hợp đồng chính được sử dụng trong hoạt động của
Công ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco-HP nhưng đôi khi cá nhân và công ty thường
coi nhẹ việc giao kết và thực hiện hợp đồng này.Vì vậy nghiên cứu về hợp đồng mua
bán hàng hóa là thật sự cần thiết không chỉ đối với bản thân công ty mà còn đối với sự
phát triển của luật quốc gia. Sau đây là nội dung cơ bản của bài luận:
Chương I: Làm rõ các lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hoạt
động giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, cơ sở ban hành pháp luật,
những nguyên tắc, nội dung pháp luật điều chỉnh đến hợp đồng mua bán hàng hóa nói
chung.
Chương II: Tìm hiểu thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco – HP.
Chương III: Đưa ra định hướng nhừm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa đồng thời đề xuất những kiến nghị để góp phần hoàn hiện vấn đề này.
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDC: BỘ LUẬT DÂN SỰ
LTM: LUẬT THƯƠNG MẠI
CTCPVTVT: CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ VÀ VẬN TẢI
PL HĐKT: PHÁP LỆNH HỢP ĐỒNG KINH TẾ
WTO (World Trade Organization) : TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1
bàn luận chính vì thế ta có thể thấy được vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa đối
với doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Nếu như việc giao kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa không diễn ra một cách thuận lợi thì làm sao doanh nghiệp có thể kí
kết được những đơn hàng lớn, để đem lại nguồn lợi nhuận cho công ty, đồng thời tránh
được những tổn thất không đáng có trong quá trình kinh doanh.
Khi đến thực tập tại CTCP VTVT Itasco - HP, vấn đề ký kết và thực hiện hợp
đồng của công ty đã thu hút sự quan tâm của tôi, trong đó hợp đồng mua bán hàng hóa
chiếm tới 70% trên tổng số các loại hợp đồng của công ty. Việc ký kết, thực hiện hợp
đồng phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật mới có thể giúp gắn chặt mối quan
hệ hợp tác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần tăng cường hiệu
quả quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế. Do nhận thức được vai trò to lớn
của hợp đồng mua bán hàng hóa, nên việc tìm hiểu pháp luật hợp đồng là điều cần
thiết đối với công ty, hơn nữa, thực tiễn việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty còn nhiều hạn chế và cần nhiều giải pháp giúp công ty cải thiện
trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng pháp luật
hợp đồng trên khía cạnh giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty
3
-
trách nhiệm hữu hạn Nhật Việt là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa với riêng công ty
mà còn đối với nhiều doanh nghiệp khác. Đây chính là lý do khiến tôi lựa chọn đề tài:
“Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ
phần vật tư và vận tải Itasco – HP” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Việt Nam
Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại
4
-
-
luận tập trung làm rõ cácvấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam,
nghiên cứu điển hình tại CTCPVTVT Itasco - HP.
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa và các vấn đề lý luận, thực tiễn trong thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề
lý luận và pháp lý liên quan đến các qui định về pháp luật hợp đồng mua bán hàng
hóa. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: phương
pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic…Dưới
đây là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài:
Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm cơ sở lý
luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa.
+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng
quan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán
hàng hóa nói riêng như: LTM 2005, BLDS 2005, các văn bản pháp luật có liên quan từ
đó đưa ra một số nội dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa.
+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa trong CTCPVTVT Itasco - HP để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật
hợp đồng trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty
tự nguyện, bình đẳng và được đặt dưới sự bảo trợ của luật pháp. Hiện tượng đó được
định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý: “Hợp đồng”
Hợp đồng nói chung là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và
thông dụng nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự
thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh
các nghĩa vụ ràng buộc các bên.
Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được
tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu
của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển
phong phú và đa dạng. Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3
khoản 2 LTM 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất động
sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Cũng tại Điều 3 khoản
8 của Luật này cũng quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó
các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận
thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hoá theo đúng thoả thuận”
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau, hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn
bản pháp luật quan trọng là BLDS 2005 và LTM 2005. Theo quy định của Điều 428
6
BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,
còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Theo điều 163 BLDS
2005 thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.LTM 2005
không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đưa ra khái niệm về
hoạt động mua bán hàng hoá. Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng
đồng mua bán hàng hoá có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài
(trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế), ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ
chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hoá. Hoạt động của chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm
mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ phải tuân theo pháp
luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại năm 2005.Trong
khi đó, chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản có thể là mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ
năng lực, có nhu cầu mua bán tài sản, có sự mở rộng hơn rất nhiều so với chủ thể trong
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai, về đối tượng hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của
Luật Thương mại năm 2005 có đối tượng là hàng hoá. Tuy nhiên không thể hiểu theo
nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm
mục đích thoả mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị
trường, nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho thuê, mà còn là hàng hoá hiện
đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hoá có thể là động sản hoặc bất động sản
được phép lưu thông thương mại. Khoản 2 Điều 3 Luật Thượng mại năm 2005 quy
định: “Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đất đai”.
Còn hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự có đối tượng gồm các loại tài sản
quy định trong Điều 162 Bộ luật Dân sự 2005: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
tài sản được phép giao dịch”. Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản được quy định
trong Bộ luật dân sự năm 2005 được quy định mang tính chất khái quát, là những tài
sản được phép lưu thông, bao gồm cả hàng hóa trong mua bán thương mại, hàng hóa
trong hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ là một bộ phận của các loại tài sản là đối tượng
của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.
Thứ ba, về mục đích của hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định
khoản, tín dụng, ghi nợ, séc, thẻ thanh toán, hóa đơn, biên nhân, … Trong hợp đồng
mua bán hàng hóa, đối tượng thường có giá trị lớn, việc thanh toán bằng tiền không
phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, việc sử dụng các phương tiện thanh
toán và phương thức thanh toán khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các bên khi
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Đối với Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2005 luôn luôn là bộ
luật gốc,việc xác định đối tượng điều chỉnh riêng đôi khi không dàng chút nào. Việc
tìm hiểu sự khác biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hoá quy định trong Luật Thương
mại năm 2005 với hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm
2005 có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà làm luật trong quá trình xây dựng pháp luật
và các bên chủ thể trong việc lựa chọn và áp dụng luật trong trường hợp cụ thể.
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng
mua bán hàng hóa
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1.1 Cơ sở về chính trị
Sau khi giành được thắng lợi trong công cuộc kháng chiến, nền chính trị của
nước ta đã ổn định hơn, nước ta luôn luôn chủ động để hòa nhập chung vào nền kinh
tế thế giới hiện đại. Cùng với sự tăng cường quan hệ hợp tác trong nước và nước ngoài
đã không ngừng thúc đẩy Việt Nam hoạt động giao lưu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
9
lĩnh vực kinh tế, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quan hệ
xã hội, các quan hệ dân sự và thương mại. Một trong những quan hệ thương mại góp
phần lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đó là quan hệ mua bán hàng
hóa, quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí
là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hơn nữa,hoạt động mua bán tại Việt Nam ngày càng
phát triển nhất là trong giai đoạn nước ta đang trong quá trình hội nhập thế giới, trước
tình hình đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia đòi hỏi Nhà nước
cần ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh những quan hệ trong hoạt động mua
thể tham gia, từ đó tạo điều kiện xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt
đẹp giữa cá nhân, tổ chức trong xã hội.
1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Nội dung của pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng thương mại
1.2.2.1.1 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình mà trong đó các bên
chủ thể bảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc
cùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau, thực chất, đó là quá
trình mà hai bên “mặc cả” với nhau về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa. Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
Thứ nhất: Bên đề nghị đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai: Bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa và đi đến giao kết hợp đồng.
1.2.2.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Như đã biết, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với
bên đã được xác định cụ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Thực chất, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc một bên biểu lộ ý
chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia
giao kết với người đó một hợp đồng mua bán hàng hóa.
Việc đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thực hiện bằng
nhiều cách thức khác nhau như:
Thứ nhất: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gặp trực
tiếp người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận và trực tiếp đưa ra lời đề nghị giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gửi lời đề
nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tới người được đề nghị thông qua các
phương tiện điện tử như qua mạng internet, fax hay bằng việc chuyển, gửi công văn,
giấy tờ qua đường bưu điện,...
Thứ hai:Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề
nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.
Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề
nghị mới.
Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 393 BLDS 2005, trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp
đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải
thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị
nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng.
Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005, đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt
trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận.
Thứ hai: Hết thời hạn trả lời chấp nhận.
Thứ ba: Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực.
Thứ tư: Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực.
Thứ năm: Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời
hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa do bên được đề nghị đề xuất:
Căn cứ theo Điều 395 BLDS 2005, khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết
hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa
ra một lời đề nghị giao kết mới.
1.2.2.1.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thực chất là việc bên được đề
nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa đó.Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì
việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đề
điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
1.2.2.1.6 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết hợp
đồng. Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật cho
phép.Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp với
hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa. LTM 2005 không quy định hình thức giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005 về hình
thức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa.
13
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng mua
bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi
cụ thể. Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập dưới ba hình
thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi.
Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lời nói
(hay còn gọi là hình thức miệng), các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng, giiao kết hợp
đồng dưới hình thức này rất thuận tiện, nhanh chóng và thường áp dụng cho những
trường hợp mà các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa đã quen biết và
có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa ngay sau khi
giao kết sẽ thực hiện và chấm dứt ngay, hình thức này có giá trị pháp lý không dễ xảy
ra tranh chấp khi thực hiện hợp đồng.
Đối với giao kết hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản, các bên khi
tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ghi nhận nội dung giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa bằng một văn bản chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản của hợp
đồng và có chữ ký xác nhận của các bên, hình thức này tạo ra chứng cứ pháp lý chắc
chắn hơn so với hình thức miệng. Thông thường theo hình thức này, hợp đồng được
2. Số lượng, chất lượng.
3. Giá, phương thức thanh toán.
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên.
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
7. Phạt vi phạm hợp đồng.
8. Các nội dung khác.”
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản
mà các bên thỏa thuận với nhau. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trước hết
là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Đồng thời, trên cơ sở các quy định của
BLDS, LTM và tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, có thể thấy những
điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối tượng, số lượng,
chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thanh toán, thời hạn giao hàng,
địa điểm giao hàng,... tuy nhiên, với từng hợp đồng mua bán hàng hóa cụ thể lại có sự
khác nhau.
Các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chia ra
thành ba loại:
Loại thứ nhất: Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu và là những điều khoản không
thể thiếu của hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu không thỏa thuận được các điều khoản
này thì hợp đồng mua bán hàng hóa không thể giao kết được. Điều khoản cơ bản có
thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định. Tùy theo
từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm... có
những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không thoả thuận tới nó sẽ
không thể hình thành hợp đồng. Bên cạnh đó cũng có những điều khoản vốn dĩ không
phải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đó
mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp
đồng mua bán hàng hóa sẽ giao kết
Loại thứ hai: Điều khoản thông thường
Điều khoản thông thường là những điều khoản được pháp luật quy định trước,
1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.2.1 Thực hiện các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về giao hàng:
Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng,
chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.
Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ
liên quan theo quy định của luật (Điều 34 LTM 2005). Nếu hợp đồng mua bán hàng
hóa mà phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp đồng vận chuyển, hợp
đồng bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển, nếu hợp đồng quy định bên bán không
ký hợp đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên bán những
thông tin về hàng hóa để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm (khoản 3 Điều 36 LTM
2005). Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp
16
-
-
-
-
đồng, nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung
của pháp luật.
Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ đảm bảo tính hợp pháp của
hàng hóa, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa, bảo đảm tính hợp
pháp về sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đó (Điều 46 LTM 2005), chịu trách nhiệm bảo
hành hàng hóa( Điều 49 LTM 2005).
phải trả lãi trên số tiền trả chậm đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian trả chậm, khi bên vị phạm yêu cầu,
17
trừ trường hợp có thỏa thuận khác Điều 306 LTM 2005. Khi người mua vị phạm nghĩa
vụ thanh toán thì người bán cũng có thể căn cứ vào Khoản 4 Điều 51, Điều 308 về tạm
ngưng thực hiện hợp đồng, Điều 312 về hủy bỏ hợp đồng, Điều 321về hình thức xử lý
hành vi vi phạm pháp luật thương mại.
- Chuyển rủi ro tại Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005 có quy định:
Vấn đề chuyển rủi ro trong việc mua bán hàng hóa và một vấn đề cơ bản mà các
bên cần nắm, các bên cần thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro để tránh phát sinh
tranh chấp, trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro, nếu bên
bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định, thì rủi ro về mất
mát hoặc hư hỏng được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho bên mua.
Nếu hợp đồng không có quy định về việc vận chuyển hàng hóa cũng như địa điểm
giao hàng nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên
mua khi hàng hóa đã được chuyển giao cho người vận chuyển đầu tiên, trong các
trường hợp cụ thể thời điểm chuyển rủi ro được pháp luật quy định chi tiết hơn.
- Chuyển quyền sở hữu tại Điều 62 LTM 2005 có quy định:
Việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua là do hai bên thỏa
thuận hoặc nếu không có thỏa thuận thì quyền sở hữu được chuyển sang người mua là
tại thời điểm giao hàng.
Ngoài ra, vấn đề này BLDS 2005 cũng có quy định tại Điều 248 về việc chuyển
giao quyền sở hữu của mình cho người khác.
1.2.2.2.2 Một số biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng:
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định từ Điều 318 đến Điều
373 BLDS 2005 bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản (bao gồm cả cầm cố, thế
chấp bằng tài sản của người thứ ba), đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp.
Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì các bên trong hợp đồng có quyền
là điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm.
Bồi thường thiệt hại: Đây là chế tài có chức năng bù đắp tổn thất vật chất cho bên
bị vi phạm. Bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi
trực tiếp đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại cũng phải tuân thủ
nguyên tắc cơ bản như đối với một hợp đồng dân sự thông thường và theo điều 389
BLDS 2005, việc giao kết hợp đồng dân sự cần tuân thủ nguyên tắc sau:
Nguyên tắc tự do, tự nguyện thảo thuận, không được trái pháp luât, đạo đức xã
hội ( điều 4 và khoản 1 điều 389 BLDS 2005, khoản 1điều 11 LTM 2005)
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, các cá nhân, tổ chức
không kể là thương nhân hay không phải là thương nhân, nếu có đủ các điều kiện mà
pháp luật quy định đều có thể tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong
thương mại mà không bị bất cứ ai ngăn cản hay làm thay đổi ý chí.
Ví dụ: Doanh nghiệp A ( bên bán ) có quyền tự do ký hợp đồng mua bán vải vóc
với doanh nghiệp B, doanh nghiệp C theo quy định của pháp luật mà không thể bị
ngăn cản, nghĩa là doanh nghiệp B hay C không có quyền ngăn cản doanh nghiệp A ký
kết với nhiều đối tác.
Nguyên tắc này cũng cho phép các bên được tự do thỏa thuận tất cả các vấn đề
liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên, tuy nhiên quá trình giao kết hợp đồng
phải đảm bảo hợp pháp, không trái với đạo đức xã hội, hợp đồng phải được giao kết
hợp pháp cả về nội dung cũng như hình thức đúng với thẩm quyền của các bên.
Nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng ( điều 5;
khoản 2 điều 389 BLDS 2005 và điều 10 LTM 2005)
19
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của các quan hệ hợp đồng.Trong quá trình giao
kết hợp đồng, các bên đều bình đẳng với nhau.Không ai được áp đặt ý chí của mình
- Nguyên tắc giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc này
đòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau, thường xuyên theo dõi và giúp đỡ nhau
để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh mọi điều khoản của hợp đồng, giúp nhau khắc
phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế.
20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN VẬT TƯ VÀ VẬN TẢI ITASCO – HP.
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa.
2.1.1. Tổng quan tình hình về pháp luật điều chỉnh mua bán hàng hóa
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta chủ trương đổi mới
tư duy kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, từ đó, nền kinh tế nước ta từng bước được vận hành theo cơ chế thị
trường, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Trong nền kinh tế thị trường, sản
phẩm làm ra là để trao đổi, mua bán do đó hợp đồng kinh tế có vai trò hết sức quan
trọng.Nó là hình thức pháp lý của mối quan hệ kinh tế, quan hệ hàng hóa – tiền tệ giữa
các chủ thể kinh doanh. Hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường không còn là
công cụ của Nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch như trong nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp nữa mà là công cụ của chính các chủ thể kinh
doanh để họ trao đổi hàng hóa, thực hiện dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh. Hợp
đồng kinh tế trở về với bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trong việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và
không trái pháp luật, để phát huy vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị
trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh tế,
bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cần có sự can thiệp đúng mực của nhà nước vào các
quan hệ hợp đồng kinh tế thông qua hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ đặc biệt là
nhiệm trực tiếp về tài sản.Điều này đồng nghĩa với việc không cho các chủ thể tham
gia ký kết hợp đồng kinh tế dưới sự bảo lãnh của chủ thể khác.Bên cạnh đó là sự giới
hạn chủ thể tham gia ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầu đã bị giới hạn và trong thực
tiễn thực hiện nó ngày càng trở nên rõ nét hơn. Pháp lệnh ban hành đã không tính tới
sự đa dạng của các chủ thể kinh doanh khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật nước ta đã xuất hiện nhiều chủ thể
kinh doanh tham gia rộng rãi các quan hệ kinh tế, không cần phải là pháp nhân hay cá
nhân có đăng ký kinh doanh.
Từ việc nhận thức những bất cập trên đồng thời dựa trên cơ sở nền tảng của PL
HĐKT, Quốc hội đã lần lượt ban hành hai văn bản pháp luật mới là BLDS năm 1995
vàLTM năm 1997 quy định về hợp đồng và quyền tự do hợp đồng. Hai đạo luật được
đánh giá là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động kinh tế theo hướng thị trường ở Việt Nam. Nhìn chung, nội dung hai văn bản
pháp luật này có những quy định thoáng hơn về hợp đồng.
Thứ nhất là về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, hai bộ luật này không giới hạn
chủ thể là pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh doanh mà tùy thuộc vào tính chất
của từng loại hợp đồng, phạm vi chủ thể có quyền giao kết có những sự khác nhau
nhất định. Theo BLDS 1995, các chủ thể của hợp đồng dân sự bao gồm: cá nhân (có
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự), pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình. Tại
22
Điều 5 LTM 1997 cũng quy định chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là
cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương
mại. Như vậy, phạm vi chủ thể có quyền giao kết hợp đồng được mở rộng đáng kể.
Thứ hai là về hình thức hợp đồng, BLDS 1995 và LTM 1997 đều quy định hình
thức có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể. Các chủ thể khi giao kết hợp đồng có
thể lựa chọn bất kỳ hình thức nào kể cả fax, email…mà vẫn bảo đảm chặt chẽ cần thiết
về mặt pháp lý.Trong khi đó, PL HĐKT lại bắt buộc các chủ thể khi ký kết thì hợp
đồng phải được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc những giấy tờ có giá trị tương đương.
chuyên ngành được giải quyết theo hướng ưu tiên áp dụng luật hợp đồng chuyên
ngành. Những nội dung về hợp đồng mua bán hàng hoá trong hệ thống pháp luật hiện
hành được quy định một cách chi tiết, rõ ràng hơn các văn bản pháp luật trước đó.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa.
2.1.2.1 Nhân tố ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
2.1.2.1.1 Nhân tố kinh tế
Nếu như trước năm 1990, Việt Nam mới có quan hệ thương mại với 40 nước thì
ngày nay, nhờ thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, hợp tác với tất cả các nước trên
thế giớ trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 176
quốc gia trên thế giới, có quan hệ kinh tế với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ và có
khoảng 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong đó có
những nước và khu vực có nguồn vốn lớn,thị trường lớn và công nghệ cao như Mỹ,
Nhật Bản, EU và các nền kinh tế mới công nghiệp hóa ở Đông Á,...
Chính sách đổi mới, mở cửa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh,
mở cho Việt Nam nhưng cơ hội để phát huy, phát triển nền kinh tế, sắp tới đây, mức
thuế suất áp dụng cho hàng hóa các nước thành viên trong Tổ chức thương mại thế
giới WTO được giảm đáng kể, thúc đẩy các nước đầu tư vào Việt Nam. Chính sách
"đa dạng hóa, đa phương hóa" cũng giúp Việt Nam gia nhập sâu hơn vào nền kinh tế
thế giới và nền kinh tế khu vực, theo đó nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, có
thể nhận thấy qua các thương vụ kinh doanh, số lượng hợp đồng kinh tế - thương mại,
số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết tăng lên tuy nhiên kèm theo mức
độ phức tạp của các hoạt động kinh doanh cũng như mức độ phức tạp của các hợp
đồng kinh tế - thương mại, các hợp đồng mua bán hàng hóa cũng tăng lên.
2.1.2.1.2 Nhân tố con người
Kinh tế phát triển dẫn đến nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa của con người
tăng lên, do đó, số lượng cũng như tính phức tạp của mỗi hợp đồng mua bán hàng hóa
cũng có xu hướng thay đổi. Từ thực tiễn cho thấy, hầu hết các tranh chấp xảy ra trong
2.1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ nhất là nguồn hàng, đây là nhân tố rất quan trọng để việc ký kết hợp đồng
được thành công, nếu nguồn hàng tốt thì sẽ đảm bảo được số lượng cũng như chất
lượng, mẫu mã, kiểu dáng của hàng hoá, phù hợp với các điều khoản hợp đồng. Nhưng
nếu nguồn hàng có vấn đề thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mục tiêu tiếp theo và quy
trình thực hiện hợp đồng. Đến ngày giao hàng mà lượng hàng không đủ, hoặc đủ
nhưng không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, ở mức nhẹ
thì phạt hợp đồng vì chậm hàng, chất lượng không đồng đều, còn ở mức nặng thì huỷ
hợp đồng và bồi thường mọi thiệt hại do không thực hiện đúng các điều kiện trong hợp
đồng, hơn thế, nó còn làm giảm uy tín, vị thế của công ty trên thị trường.
Thứ hai là nhà cung cấp, việc lựa chọn một người cung cấp hàng tin cậy có đủ uy
tín, đủ năng lực sẽ quyết định đến hiệu quả của quá trình thực hiện hợp đồng, về cơ
bản người cung cấp hàng không đáp ứng được yêu cầu của người mua thì mọi mục
tiêu khác cũng không thực hiện được, họ giao hàng không đúng thời gian cam kết thì
sẽ chậm chễ giao hàng và phạt hợp đồng nên sẽ ảnh hưởng tới giá bán.
Thứ ba là nguyên vật liệu, nhân tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình
thực hiện hợp đồng, mà đặc biệt là chất lượng hàng hoá, do một lý do nào đó mà
nguyên liệu thiếu hay bị hỏng sẽ làm giảm chất lượng hàng, chậm tiến độ sản xuất và
không hoàn thành số lượng cho ngày giao hàng.
Thứ tư là nguồn lực của doanh nghiệp, nhân tố này ảnh hưởng lớn đến hợp đồng
nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, nó có thể tác động trực tiêp đến
25