Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn - Pdf 41

TÓM LƯỢC
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế mạnh mẽ như hiện nay thì việc tìm hiểu,
nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa giúp cho các thương nhân có thể
chủ động hơn khi tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa . Không
chỉ vậy, việc đi sâu tìm hiểu về các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán
hàng hóa cùng thực tiễn áp dụng tại một đơn vị cụ thể cũng để chỉ ra những điều
khoản còn chưa phù hợp với thực tế. Từ những bất cập, mâu thuẫn và chưa phù hợp
này bài khóa luận đưa ra những đề xuất nhằm sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện
những quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa. Vì những lý do cấp
thiết trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa - Thực tiễn
thực hiện tại Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn” là đề tài nghiên cứu.
Trước hết, bài khóa luận này tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản như:
Những quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, cơ sở ban hành, nội
dung, nguyên tắc của pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa.
Qua đó, khóa luận phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại
Việt Nam, thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tại Công ty cổ phần
Thương mại Lạng Sơn và đưa ra quan điểm hoàn thiện các quy định của pháp luật từ
phía nhà nước và doanh nghiệp.
Mong rằng nội dung của bài khóa luận sẽ mang lại một cái nhìn khái quát hơn
về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn mà các thương nhân Việt Nam
đã trải qua khi áp dụng pháp luật và sử dụng loại hợp đồng này, nhất là trong giai đoạn
hiện nay khi hội nhập, giao lưu kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu của nền
kinh tế hiện đại.

1


LỜI CẢM ƠN
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, tác giả đã có cơ hội thực tập tại Công ty cổ phần
Thương mại Lạng Sơn. Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới ban giám đốc, nhân viên trong
công ty đã tạo điều kiện để tác giả thực tập, hoàn thành tốt nhất có thể khóa luận tốt


3


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài khóa luận
Trong đời sống xã hội ngày càng phát triển, pháp luật đóng vai trò ngày càng quan
trọng hơn. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình
thường của xã hội. Đặc biệt với một nước có nền kinh tế non trẻ, đang trên đà phát triển
như Việt Nam. Để đáp ứng được với những yêu cầu mới đặt ra, pháp luật nói chung và
pháp luật về thương mại nói riêng cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh mới. Hiện nay có nhiều dịch vụ thương mại mới ra đời, kéo theo nó là các mối
quan hệ thương mại hết sức phức tạp. Do vậy, hệ thống qui phạm pháp luật về thương mại
cần điều chỉnh một các linh hoạt các mối quan hệ thương mại phát sinh.
Mua bán hàng hóa là hoạt động đặc trưng cơ bản của kinh doanh thương mại. Hợp đồng
mua bán hàng hóa chính là cách thức để hoạt động này được diễn ra, nó thể hiện sự thống
nhất ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ mua bán. Hợp đồng được đảm bảo thực hiện
nhờ vào nhiều yếu tố như sự chấp hành của các bên đối với các điều khoản đã thỏa thuận
hay hợp đồng đó có vi phạm lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội hay không.
Pháp luật với vai trò là khung định ra những nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động trong
xã hội, cũng điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hoạt động thiết yếu này. Môi trường
pháp luật có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ nếu doanh nghiệp
tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định có liên quan mà nhà nước ban hành. Hệ thống pháp
luật đã mở ra một sân chơi chung cho các doanh nghiệp lớn – nhỏ, trong và ngoài nước.
Trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt, doanh nghiệp cần nắm vững và tuân thủ pháp
luật. Điều này một mặt giúp cho doanh nghiệp tự tin phát triển bản thân doanh nghiệp
mình vừa giúp tránh khỏi được những rắc rối mà đối thủ cạnh tranh gây phiền nhiễu và
bảo vệ quyền lợi của chính mình.Tồn tại song song với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế
thì các quy định về hoạt động của doanh nghiệp cũng ngày càng được hoàn thiện nhằm
mục đích tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, giúp các doanh nghiệp thuận lợi

pháp nhằm nâng cao hiệu quả kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại công
ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình”. Trong đề tài này tác giả nghiên cứu khái
quát những vấn đề pháp lý chung về kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại
công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình, để tìm hiểu những vấn đề thuận lợi và
khó khăn, nguyên nhân tồn tại những khó khăn trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng
nhập khẩu hàng hóa tại công ty.
Link tham khảo: http://123doc.org/document/2058783-thuc-trang-va-giai-phap-nhamnang-cao-hieu-qua-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-hang-hoa-tai-cong-ty-cophan-vat-tu-bao-ve-thuc-vat-hoa-binh.htm
Khóa luận tốt nghiệp của Đặng Thị Xuyên, Khoa Luật, trường đại học Kinh Tế
Quốc Dân, do TS.Nguyễn Hợp Toàn hướng dẫn với đề tài “Cơ sở pháp lý về kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuấtxuất nhập khẩu Ninh Bình”. Đề tài đề cập đến những vấn đề pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa, theo quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế. Thông qua thực tiễn áp
dụng tại công ty cổ phần sản xuất - Xuất nhập khẩu Ninh Bình để đưa ra một số giải pháp
kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình này tại công ty nói riêng và các doanh nghiệp tham
gia xuất nhập khẩu nói chung.
Link tham khảo: http://123doc.org/document/15229-co-so-phap-ly-ve-giao-ket-va-thuchien-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-va-thuc-tien-ap-dung-tai-cong-ty-co-phan-sxxnk-ninh-binh-doc.htm
Những đề tài nghiên cứu trên cho thấy những qui định của pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa có nhiều vấn đề cần đưa ra bàn luận. Các quy định pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa vẫn còn nhiều bất cập chưa được hoàn thiện. Vì vậy việc hoàn
5


thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là điều cấp thiết. Những công
trình nghiên cứu trên đã giúp tác giả hiểu được phần nào những bất cập và những phương
hướng có thể áp dụng được để hoàn thiện những qui định của pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa tại Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Với đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại
Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn”, tác giả muốn tập trung nghiên cứu một số vấn
đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty. Từ đó, tìm ra
những vấn đề còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp giúp công ty nâng cao hiệu quả

6


Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
về hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ ba, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đây là một bản Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về những qui định của pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hóa. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu, đồng thời bản
thân tác giả đã thực tập tại Chi nhánh Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn tại huyện
Bình Gia. Chính vì vậy, để nghiên cứu có kết quả tốt nhất, tác giả thực hiện nghiên cứu đề
tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần
Thương mại Lạng Sơn” trong phạm vi Chi nhánh Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn
tại huyện Bình Gia.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ
phần Thương mại Lạng Sơn”, để dễ dàng và hiệu quả trong nghiên cứu, tác giả sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, phương pháp thu thập dữ liệu
− Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa. Chủ yếu là các qui
định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự năm
2005 và một số các văn bản pháp luật khác có liên quan.
− Nguồn dữ liệu thứ cấp:
Những bài báo mạng trên Internet từ những trang báo pháp luật, những bài báo từ
trang web của Chính phủ,... để có được những thông tin chính xác nhất.
Quan sát trực tiếp hoạt động của công ty để thấy được thực trạng hoạt động mua
bán hàng hóa của công ty.
Phỏng vấn nhân viên công ty để nhận định một các toàn diện hơn về thực tiễn áp
dụng quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty.
Thứ hai, phương pháp xử lý dữ liệu


CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Thứ nhất, khái niệm hợp đồng
Khái niệm hợp đồng tại Việt Nam không được định nghĩa cụ thể trong văn bản
pháp luật nào. Tuy nhiên, theo Điều 388, Bộ luật Dân sự (Sau đây viết tắt là BLDS) 2005
định nghĩa về hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.
Thứ hai, khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
Theo Luật Thương mại (Sau đây viết tắt là LTM) 2005, hàng hóa được định nghĩa bao
gồm “Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn
liền với đất đai” (Khoản 2, Điều 3, LTM 2005). Hàng hóa là đối tượng mua bán phải
không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định
59/2006/NĐ-CỔ PHẦN ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế
kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp
luật về mua bán các loại hàng đó.
Thứ ba, khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau.
Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn bản pháp luật
quan trọng là Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005. Hoạt động mua bán hàng
hoá có thể được xtác giả là một dạng cụ thể của hoạt động mua bán tài sản. Theo quy định
của Điều 428, BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: “Hợp đồng mua bán tài sản là

Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua
một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh
toán.
− Là hợp đồng song vụ:
Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với
bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với
mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại
và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên
mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
Thứ hai, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua
bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi
mua bán hàng hóa:
− Về chủ thể:
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương
nhân. LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành
chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Khoản 3, Điều 1, LTM 2005, hoạt động
của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong
quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.
10


− Về hình thức:
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn
bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Theo Điều 24, LTM 2005, các bên có
thể được tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất
định pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như
hợp đồng mua bán hàng hóa phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, TELEX, FAX hay thông điệp dữ

nghĩa vụ của bên kia.
11


1.1.3. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hàng hóa được phân loại như sau:
Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng:
− Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước
− Hợp đồng mua bán hàng hóa (hợp đồng ngoại thương)
Căn cứ vào điều kiện của hợp đồng:
− Hợp đồng có điều kiện
− Hợp đồng không có điều kiện
Căn cứ vào hình thức của hợp đồng:
− Hợp đồng mua bán hàng hóa bằng miệng
− Hợp đồng mua bán hàng hóa bằng văn bản
− Hợp đồng mua bán hàng hóa bằng hành vi
1.2.
hóa

Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng

1.2.1. Cơ sở ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế
hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm
mục đích chính là để bán, tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của
xã hội và thu lợi nhuận.
Trong bất kỳ nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu
thông hàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chế thị
trường. Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế, trong đó người sản xuất và người
tiêu dùng chịu sự tác động chi phối lẫn nhau của nền kinh tế thị trường. Thông qua các

pháp mới nhất tính đến thời điểm hiện nay, được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông
qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực
pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp. Đồng thời, đây
cũng là căn cứ để Quốc hội thông qua và ban hành các văn bản pháp luật.
Bộ luật Dân sự 2005:
Bộ luật Dân sự được coi là nguồn của các văn bản pháp luật khác. Bộ luật Dân sự
2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7
thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.
Tại thời điểm này, Bộ luật Dân sự 2005 vẫn có hiệu lực. Bộ luật Dân sự mới nhất
là Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Bộ luật Dân sự 2005 không có các quy định riêng cụ thể đối với hợp đồng mua bán hàng
hóa. Tuy nhiên, như đã trình bày, mọi hợp đồng, cho dù phát sinh trong lĩnh vực cụ thể
nào (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) đều được coi là hợp
đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh chung và thống nhất của Bộ luật Dân sự 2005.
Các quy định về hợp đồng dân sự nói chung được quy định từ Điều 388 đến Điều 427.
Các quy định về hợp đồng mua bán tài sản được quy định từ Điều 428 đến Điều 449.
Ngoài ra, liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh của các quy
định trong Mục 7 của Bộ luật (từ Điều 758 đến Điều 777) về quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài.
Luật Thương mại 2005:
Luật Thương mại 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Các quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định từ Điều 24 đến
Điều 62 Luật Thương mại 2005. Liên quan đến chế tài trong thương mại và giải quyết
13


tranh chấp được quy định từ Điều 292 đến Điều 319 Luật Thương mại 2005 và một số
quy định khác có liên quan.

nhất định.”. Khoản 1, Điều 24, LTM 2005 cũng quy định tương tự về hình thức của hợp
đồng mua bán hàng hóa như BLDS 2005.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc hành vi cụ thể giữa thương nhân với thương nhân, giữa một bên là thương nhân với
một bên không phải là thương nhân nhằm mục đích mua bán, trao đổi hàng hóa.
14


Trong trường hợp mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, hợp đồng mua bán hàng hóa
bắt buộc phải giao kết bằng văn bản.
Về ngôn ngữ trong hợp đồng:
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thể hiện ý chí của các bên khi tham gia xác lập
các quan hệ giao dịch; nó được xâu chuỗi bởi các điều khoản liên kết bởi các câu từ. Do
đó, một trong những yêu cầu đặt ra cho hợp đồng mua bán hàng hóa là từng câu chữ,
ngôn từ sử dụng trong hợp đồng phải đảm bảo sự chính xác cụ thể, rõ ràng, đầy đủ ý
nghĩa. Một trong những yếu tố đầu tiên để hợp đồng thể hiện các ý chí của các bên được
rõ ràng, chính xác là ngôn ngữ trong giao dịch. Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết
bằng ngôn ngữ mà các bên đều chấp thuận, ngôn ngữ hợp đồng thường là tiếng nước
ngoài với một hoặc cả hai bên, trong đó phần lớn được ký kết bằng tiếng Anh
Về nội dung giao kết trong hợp đồng mua bán hàng hóa:
Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa gồm các điều khoản do các bên
thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng
mua bán hàng hóa. Tuỳ vào từng hợp đồng hàng hóa cụ thể, các bên có thể thoả thuận hay
không thỏa thuận những nội dung khác nhau theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có
một số nội dung mang đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa cần chú ý như:
− Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005, hàng hóa là tất cả các loại động
sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất. Đối tượng
của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường, được
phép xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật nước bên mua và bên bán, có thể thỏa

kiện cơ sở giao hàng mà các bên lựa chọn.
− Thời hạn giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa:
Là thời hạn mà bên bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua. Các bên
có thể quy định thời hạn giao hàng là một khoảng thời gian nhất định hoặc quy định thời
hạn cuối cùng mà hàng phải giao xong; giao hàng trong một lần hoặc nhiêu lần. Thời
điểm người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng
mà các bên thỏa thuận. Người bán cũng có thể giao hàng trước thời hạn, giao hàng từng
phần khi có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc khi nhận được sự chấp thuận của người mua.
Ngoài những nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết tương
tự như trong hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, các bên có thể đưa thêm vào hợp
đồng những điều khoản mà họ cho là cần thiết. Mà trong đó việc thêm điều khoản về luật
áp dụng cho hợp đồng và điều khoản giải quyết tranh chấp là rất quan trọng đối với hợp
đồng mua bán hàng hóa. Bởi pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ
là luật quốc gia mà còn nhiều nguồn luật khác cho nên có thể gây ra tranh chấp cho các
bên khi chọn luật áp dụng.
Không chỉ quy định các nội dung về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, để đảm bảo
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng, mang lại lợi ích
cho các bên tham gia giao kết, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật
cần bảo vệ; pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa đã đưa ra những quy định mà các
chủ thể phải tuân thủ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thực hiện hợp đồng là quá trình
các bên thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình, do đó pháp luật điều chỉnh việc thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu thông qua các quy định đối với nghĩa vụ của
bên bán, bên mua trong hợp đồng và các quy định về trách nhiệm pháp lý khi xảy ra vi
phạm.
Về trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó bên bán và bên mua bày tỏ ý
chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận cùng nhau xác lập quyền và
nghĩa vụ mỗi bên. Giống với hợp đồng mua bán nói chung, trình tự giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa cũng bao gồm quá trình đề nghị giao kết (chào hàng) và chấp nhận đề
16

nhận nguồn gốc, xuất xứ, vận đơn... Nếu trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thỏa thuận
về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho
bên mua trong thời hạn nhất định, tại địa điểm xác định và bằng phương thức đã thỏa
thuận.
Ngoài ra, bên bán phải giao hàng đúng thời hạn và đúng địa điểm đã thỏa thuận.
Những nội dung liên quan đến điều khoản giao hàng như thời gian, địa điểm, phương
thức giao hàng thường được các bên thỏa thuận phù hợp với đặc điểm của hàng hoá trong
hợp đồng. Trường hợp các bên không thỏa thuận những vấn đề này trong hợp đồng thì áp
dụng quy định của pháp luật hoặc tập quán thương mại.
− Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng:
Việc kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng là yêu cầu cần thiết đối với giao dịch
mua bán hàng hóa, giúp ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng, tăng khả năng thực
17


hiện hiệu quả việc mua bán. Bên bán cần tạo điều kiện để bên mua kiểm tra hàng hoá
trước khi giao hàng nếu các bên không có thoả thuận khác.
− Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá mua bán:
Theo quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa thì quyền sở hữu
được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao. Bên
bán phải đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá đã giao cho bên mua. Nghĩa là, bên bán
phải đảm bảo tính hợp pháp về quyền sở hữu và việc chuyển giao quyền sở hữu đối với
hàng hoá giao cho bên mua; đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hoá đã bán
không bị tranh chấp bởi bên thứ ba. Trong trường hợp hàng hoá bị người thứ ba tranh
chấp thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người
thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy
bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.
− Chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua:
Theo quy định của pháp Luật Thương mại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán

đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Căn cứ xác
định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng gồm: Có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại
thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế; có lỗi
của bên vi phạm. Với vi phạm các thỏa thuận giữa các bên thì trách nhiệm pháp lý căn cứ
theo quy định pháp luật Việt Nam là các hình thức trách nhiệm gồm:
− Buộc thực hiện đúng hợp đồng:
Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ quy định trọng hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi
phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực
hiện và bên vi phạm phải chịu phí phát sinh. Hình thức này được áp dụng trong các
trường hợp: Giao hàng thiếu; giao hàng kém chất lượng, cung ứng dịch vụ không đúng
hợp đồng. Trong trường hợp giao hàng thiếu, chế tài này quy định rằng bên vi phạm phải
giao đủ hàng theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, tức là phải giao đúng về số
lượng, chất lượng, chủng loại... Đối với việc giao hàng kém chất lượng, cung cấp dịch vụ
không đúng hợp đồng, bên vi phạm phải tìm cách loại trừ các khuyết tật của hàng hóa,
thiếu sót của dịch vụ. Trong trường hợp này, bên vi phạm có thể giao hàng khác để thay
thế hàng kém chất lượng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng, tuy nhiên không
được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, dịch vụ khác để thay thế, nếu không được sự
chấp thuận của bên có quyền lợi bị vi phạm.
− Phạt vi phạm:
Đây là một chế tài rất hay được sử dụng trong việc giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong hợp đồng kinh tế. Phạt vi phạm là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu
bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng
có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Từ định nghĩa trên có thể thấy, phạt vi phạm chỉ
được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định sẽ áp dụng loại
chế tài này cho những vi phạm nhất định và không phụ thuộc vào bên bị vi phạm có thiệt
hại hay không.
− Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng:
Trước hết, tạm ngừng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa là hình thức mà một

quyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các trường hợp:
− Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối;
− Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có
quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;
− Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp
đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự
không phù hợp đó.
Thứ ba, về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Khi xảy ra tranh chấp, phương thức đầu tiên mà các bên thường hay lựa chọn nhất
là thương lượng. Phương thức này thể hiện được bản chất của giao kết hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên. Nó cũng là phương thức nhanh gọn và đảm bảo lợi ích của các
bên được hài hòa hơn. Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng
với quá trình tố tụng tại Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án.
Thương lượng giữa các bên
Đối với thương lượng độc lập: Nghĩa vụ của các bên phải tiến hành trong quá trình
thương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp. Do đó các bên
phải tiến hành như là một điều khoản trong hợp đồng. Kết quả thương lượng được coi như
20


một thỏa thuận mới về vấn đề tranh chấp, các bên phải đảm bảo được sự tự nguyện trong
thỏa thuận theo quy định của pháp luật.
Đối với thương lượng được tiến hành theo thủ tục trọng tài hoặc Tòa án thì theo yêu cầu
của các bên, trọng tài viên, thẩm phán có thể ra văn bản công nhận kết quả thỏa thuận của
các bên sau quá trình thương lượng. Văn bản này có giá trị như một quyết định của Trọng
tài hay Tòa án.
Hòa giải giữa các bên
Hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó có hòa
giải viên là người thứ ba làm trung gian giúp các bên đạt được sự thỏa thuận. Với phương
thức này, các bên có thể giải quyết tranh chấp một cách thân thiện và có thể tiếp tục giữ



giữ bí mật cho bí quyết kinh doanh của mình. Ngoài ra, khi đã giải quyết được tranh chấp
thì các bên khó có thể giữ được mối quan hệ trong kinh doanh như trước đây đã từng có.
1.3.

Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa

Để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả khi áp dụng những quy định
của pháp luật về hờp đồng mua bán hàng hóa cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã
hội:
Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ
thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa
nào, nếu muốn. Các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có sự tự do ý chí trong việc lựa
chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ thể giao kết, tự do lựa chọn các
quyền và nghĩa vụ trong quá trình giao kết. Không một chủ thể nào được phép can thiệp
trái pháp luật vào sự tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể tham gia hợp đồng. Tuy
nhiên, mặc dù pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tự do giao kết hợp đồng là một nguyên
tắc nhưng trên tinh thần: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền,
nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều
cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.”. Điều này có nghĩa là các chủ thể tham gia
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có sự tự do, nhưng sự tự do đó phải trong một
khuôn khổ nhất định. Hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ được pháp luật công nhận và bảo
vệ khi ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước. Hay nói cách
khác, sự tự do ý chí giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới
hạn nhất định dựa trên lợi ích của cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công
cộng.
Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng:
Nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo trong quá trình giao kết hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa các bên tham gia phải đảm
bảo không xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước hay quyền và lợi ích của người khác. Có
như thế, hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết mới đảm bảo được vai trò của nó trong
việc góp phần phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

23


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn
2.1.1. Tổng quan về Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn
Giới thiệu về Chi nhánh Công ty cổng phần thương mại Lạng Sơn:
Chi nhánh Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn tại huyện Bình Gia thành lập
theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số 4900142205-015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh
Lạng Sơn cấp.
Trong suốt quá trình hình thành và hoạt động, không thể kể hết những khó khăn
chồng chất cũng như những trở ngại không lường mà tập thể cán bộ công nhân viên Chi
nhánh công ty phải vượt qua từ những ngày tháng khởi nghiệp, đổi lại đến nay công ty đã
khẳng định được uy tín, vị thế, thương hiệu của mình trong chủ yếu trong lĩnh vực thương
mại tại huyện Bình Gia. Để tồn tại trên thị trường cạnh tranh Chi nhánh công ty đã xây
dựng chiến lược cho riêng mình, trong đó trọng tâm là đầu tư vào buôn bán tổng hợp;
Lãnh đạo Chi nhánh công ty luôn quan tâm đến đời sống của người lao động, bằng những
việc làm cụ thể như tổ chức các buổi giao lưu cho công nhân viên, tạo môi trường làm
việc lành mạnh, cởi mở và đoàn kết cho nhân viên. Tạo động lực cho nhân viên phấn đấu
qua các hình thức lương thành tích, lương khoán…
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh Công ty cổ phần Thương mại Lạng
Sơn tại huyện Bình Gia khá đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm: Bán buôn
sản phẩm thuốc lá, thuốc lào; Bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép; Bán buôn đồ dùng

quản lý kinh tế và kinh doanh. Có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật.
Xây dựng các quy chế hoạt động kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh buôn
bán tổng hợp (dài hạn, ngắn hạn) phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của
huyện Bình Gia nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung.
Bảo vệ và đảm bảo vệ sinh môi trường, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty cổ phần
Thương mại Lạng Sơn
Thứ nhất, về chính trị - pháp luật
Trong kinh doanh hiện đại, các yếu tố chính trị - pháp luật ngày càng có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tham gia vào kinh doanh để thành
công trên thị trường thì các doanh nghiệp phải không những nắm vững pháp luật trong
nước mà còn phải hiểu và nắm vững pháp luật quốc tế tại thị trường mà mình kinh doanh
đồng thời với việc nẵm vững luật pháp thì các doanh nghiệp cũng phải chú ý tới môi
trường chính trị. Chính trị có ổn định thì mới giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt
động kinh doanh của mình. Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường chính trị - pháp luật là:





Sự ổn định về chính trị và đường lối ngoại giao.
Sự cân bằng của các chính sách của Nhà nước.
Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Thứ hai, về nền kinh tế thị trường
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp nói chung và ký kết được hợp đồng hay không. Các yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status